Mùa mơ chùa Hương nhớ Nguyễn Bính

Hoàng Yên Lưu

 

Ca dao của chúng ta có câu:

Tháng giêng ăn Tết ở nhà.

Tháng hai cờ bạc, tháng ba hội hè

“Tháng hai cờ bạc” chỉ là cách nói, người nông dân, có thể giải trí trong thời gian ngắn sau một năm vất vả chứ không phải khuyến khích trò đỏ đen. Nhưng tháng ba (âm lịch) hội hè là truyền thống của dân tộc nên kẻ xa quê thường than thở khi nhớ quê như nhà thơ Vũ Hoàng Chương (1916-1976) từng viết vào một mùa xuân năm nào ở Sài gòn trước 1975:

 

Người đi bóng ở lại cùng

Non Hương vách Phật, núi Hùng đu tiên

Bóng chưa nhòa, dễ ai quên

Mơ chùa Hương chín mộng đền Hùng xanh

Giờ đây các chị các anh

Mộng phai mơ héo cho đành được sao?

 

Hằng năm cứ từ 6-1 tới tháng 3 âm lịch là Hương tích sơn mở hội. Hoàn cảnh có thể đổi thay nhưng lòng người với non nước chẳng bao giờ thay đổi. Nhà văn tiền chiến Ngọc Giao (1911-1997) lúc mái tóc điểm sương, thuật lại một kỷ niệm êm đẹp trong đời khi cùng bạn bè thăm chùa Hương vào một năm trước 1945. Kỷ niệm này gắn liền với hồi ức về một nhà thơ tài hoa suốt đời long đong là thi sĩ Nguyễn Bính (1918-1966) và một bài thơ tuyệt tác của ông là bài Cô gái mơ đã từng được phổ nhạc và rất thịnh hành ở Sài gòn trước 1975. Đọc lại hồi ức này chúng ta biết thêm về nơi mà chúa Trịnh từng tôn xưng “Nam thiên đệ nhất động” và sản phẩm của nơi Bầu trời, Cảnh Bụt là mơ chùa Hương.

“Giờ đây là mùa thăm viếng chùa Hương. Đã quá lúc rồi tôi không còn sức khỏe, không còn hứng thú rủ bạn văn đi vãn cảnh động Nam Thiên. Không còn cái thú nhìn các cô gái hái mơ. Nhưng giữa phố phường Hà Nội, lão già tôi còn đủ sức chống gậy đi nhìn các cô gái bán mơ đây, những bàn tay cô gái bán mơ thoan thoắt bốc mơ trao cho khách, làm sao có thể không nhớ đến bài thơ rừng mơ bất hủ của thi nhân Nguyễn Bính. Bởi vậy, sớm nay tôi cố nghĩ về anh, viết về anh.

… Như tôi thường nhắc nhiều lần, bọn viết lách chúng tôi, thời cũ sống với nhau, cũng như đối với cuộc đời, hết lòng trân trọng, hết tình nhân ái, chúng tôi luôn giữ cách sống cho phong nhã, nghiêm chỉnh, mà vui vẻ, lễ độ, dù chung sống với cô gái yên hoa, sa chân lỡ bước.

Ngày ấy đã quá xa xôi. Ngày nay, tôi thấy một số bài viết phê phán, có thể nói là diễu cợt những cây bút lớp trước, coi họ như những anh hề xiếc. rằng họ vội nhảy xuống xe, sụp xuống vỉa hè một phố đông, vái lạy mấy ông nhà văn trẻ thiên tài, rằng có người phục kích trước chợ Hàng Da đánh một cây bút có tên gọi đùa là Long toét… Thưa rằng, không, không, không có những cái trò hề ấy ở cái thời Lão Trang bảo thủ chúng tôi. Quả tình chúng tôi có lạy nhau, chỉ khi nào trong phòng kín, chúng tôi bái phục một án văn tuyệt bút của tiểu thuyết gia này, nhà thơ nọ. Lê Văn Trương, Lan Khai, con người ngang bướng ấy, đã nhiều lần vái lạy Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Nguyễn Bính. Người xưa nhất là kẻ sĩ, vào triều kiến hoàng đế, có khi không lạy, nhưng đi đường, thấy tảng đá núi dáng hình kỳ lạ, ông ta vội thụp xuống lạy, gọi là “bái thạch vi huynh”. Kẻ sĩ biết ngẩng đầu, cũng có lúc biết cúi đầu.

Ơ này, tôi đã lạc đề rồi. Xin trở lại với mấy cô bán mơ trên vỉa hè bụi bậm, nghĩ về mấy thôn nữ hái mơ rừng chùa Hương của thi nhân Nguyễn Bính.

Tôi nhớ năm 1939, một bọn nhà thơ thành phố Nam Định, trong đó có Hiếu Lang, tức Đồ Đức, Võng Xuyên, Nguyễn Bính, Việt Quyên (nhà thơ trào phúng tuyệt vời), Nguyệt Hồ họa sĩ, cuối là tôi.

… Chúng tôi thuê chiếc thuyền lớn trên sông Đáy, khời hành từ Phủ Lý, vào bến Đục, chùa Hương. Trong thuyền, ngoài lũ chúng tôi, còn có một đào nương ca trù, một ông kép đờn lớn tuổi. Trong khoang rộng, trải chiếu hoa, đặt một khay đèn nha phiến, theo đề xuất của nhà thơ Nguyễn Bính, Thuở ấy, chuyện “ả phiến” làm khuây là chuyện rất bình thường, cuộc họp mặt bình văn nào, cuộc du hý lớn nhỏ nào cũng không thể vắng nàng tiên nâu nũng nịu, duyên dáng mà giết người như bóp nát một cánh hoa.

Thuyền rời bến Phủ Lý vào chập tối. Đàn đáy đã rung tơ, phách đào nương đã hòa nhập cùng sóng vỗ mạn thuyền. Tiếng trống của Hiếu Lang đã lách vào đàn, vào phách, khuyên những lời văn đẹp ca trù của Nguyễn Công Trứ, Tú Xương, Tản Đà, Dương Thập Lang, Dương Khuê, một tay chơi sành sỏi như Nguyễn Khản, anh Nguyễn Du thời chúa Trịnh, Tĩnh Đô Vương.

Con dê buộc ở đầu thuyền đã được ông lái thuyền hóa kiếp. Ông và cô gái xinh đẹp đang dọn tiệc. Nửa đêm, trời đổ cơn dông, gió xoáy, sấm ran trời, mưa trút. Gió giật mạnh liên hồi , con thuyền tuy được cha con ông lái già cố điều khiển mà vẫn trườn lên ngụp xuống, có khi quay theo sức lốc.

Chúng tôi, không ai biết làm dấu thánh cũng không ai biết “nam mô”, chỉ nhìn nhau, bình tĩnh chờ thăm Hà Bá. Nhà thơ Nguyễn Bính bình thản hơn ai hết, anh vẫn nằm bên ả phù dung, tay che ngọn đèn gió thổi, tay vẫn múa tiêm như Quan Vũ múa đao.

Thế rồi, sóng gió dần im, Nguyễn Bính nói đùa:

– Lũ mình thì trời tru đất diệt còn không nổi, kể gì cái gió xoáy này.

Sáng hôm sau đã đến chùa Hương. Chúng tôi nhập cùng thiên hạ, một chốc đã không thấy Nguyễn Bính đâu. Mãi đến gần bữa ăn chiều mới thấy gã về nhà trọ tìm chúng tôi. Trong bữa ăn, Nguyễn Bính uống rượu nhiều hơn thường, miệng luôn lẩm bẩm, có lúc rút sổ tay ra ghi vội đôi câu gì đó.

Sau này tôi mới biết: thì ra Nguyễn Bính đã mang thai nghén bài thơ Cô hái mơ từ thuở ấy. Thoạt đến chùa Hương anh đã một mình lẻn vào rừng mơ, một mình cấu tứ. Điều khiến tôi lạ là Nguyễn Bính chưa bao giờ phải đăm chiêu vò tóc về việc hoàn chỉnh một thi phẩm dài ngắn và khó dễ. Anh thường ứng khẩu đọc trước mọi người, coi việc sáng tác một bài thơ dễ dàng như tớp rượu. Bài Cô hái mơ nằm trong đầu Nguyễn Bính từ năm 1939. Vậy mà cho đến gần đây viên ngọc bích ấy mới sáng rực lên. Phải, viên ngọc sáng lên khi anh vĩnh viễn đi vào cõi tối, tan vào nơi cảnh ảo.

Rồi những năm kháng chiến, thi nhân Nguyễn Bính vào Nam. Chúng mình xa nhau tưởng chừng như muôn thuở. Nhưng may sao, năm 1954 mình lại thấy nhau trong bốn bàn tay nóng hổi. Bính ở Hà Nội, có một mình, tâm sự một lần trên miệng chén đầy, rằng anh ra Bắc, để lại bên giòng sông Cửu long một cô vợ tư đẹp, một đứa con thơ.

Không thể nào xa cây bút, Nguyễn Bính xoay xỏa cả tám phương, lấy tiền ra tuần báo Trăm hoa. Tôi chưa kịp viết gì cho bạn cố tri, chỉ đến tìm anh, thăm báo. Ngồi bên anh, tôi thấy một nàng nho nhỏ khá xinh tươi. Anh nháy mặt ra cái điều rằng cô nàng là nữ thư ký của Trăm hoa. Tôi thấy lo sợ thay cho cô gái non trẻ ấy, hàng ngày có thể cả hàng đêm giữ gìn sao được tấm thân mình bên con quỷ rượu. Chỉ ít ngày sau, báo Trăm hoa đâu như mới ra ba số, đã tàn rồi, nghĩa là đã chết. Nhà thơ, chỉ biết ngẫu hứng làm thơ, đâu có biết gì là kinh tế, về phương pháp điều khiển tờ tuần báo, từ bài vở, đường lối chính trị, đến việc cận tiếp các người trợ bút, cận tiếp nhà in… Nhà thơ không thể trở nên nhà báo mà không cần học hỏi. Trăm hoa chết không trống kèn. Riêng cô nàng thơ ký đi đâu? Tôi nghe thiên hạ đồn cô đã trở thành phu nhân Nguyễn Bính. Tôi không tin, cũng không cần tìm hiểu rõ, coi đó là chuyện quá thường…

Báo đóng cửa, Nguyễn Bính cảm thấy mệt mỏi, yếu đau. Anh về Nam Định sống với gia đình, coi như an phận. Chị Bính là người hiền hậu, nết na. Chị hằng ngày ra chợ Rồng, thu nhặt từng xu từng hào với mẹt bày quả chanh, quả ớt. Chị tháo mồ hôi, phai tàn tuổi trẻ, làm sao cho hàng ngày có đủ rượu, đồ nhắm, bồi dưỡng ông chồng thơ.

Ngày tháng qua đi trên cái thị xã tẻ buồn, cách đây đã ba năm, một ngày gần tết. Người ta tấp nập đón xuân, Nguyễn Bính quá nghèo, chị Bính đành bất lực với cái mẹt với mớ chanh cay chua ấy. Bính quá buồn, một buổi sáng gió đông se lạnh, anh lững thững rời đất Vị Hoàng, đến một thôn xóm ven đô. Tình cờ anh gặp một người lạ mặt. Ông này đã biết Nguyễn Bính, chịu tài Nguyễn Bính, vồ vập ngay Nguyễn Bính, nói rõ lòng thán phục nhà thơ, tự giới thiệu là Hân, cựu y sĩ thời cũ, xin kính mời thi nhân về nhà uống rượu.

Tất nhiên, nhà thơ không từ chối. Với sự tiếp đãi quá nồng hậu, với rượu đế thơm ngon, đồ nhắm tốt, lại thêm ông Hân có huê viên, mai trắng, đào phai, hải đường, hoàng cúc nở rộ. Chủ nhân mời quý khách ngồi dưới gốc mai, đào, đánh chén. Bà Nguyễn Bính không biết ông chồng thơ ở mô tê, bà đi tìm kiếm. Ông thi sĩ không cần biết chuyện vợ tìm, cứ uống tối ngày với đào, mai.

Thế rồi, vào ngày cuối năm cũ 21-1-1966 dương lịch, nhà thơ vẫn chưa tắm rửa, thay quần áo! Trong người ngứa ngáy không chịu được, mặc cơn say, nhà thơ bò ra bờ sông nhà ông Hân. Bính lảo đảo bước xuống ván cầu, ngồi cởi áo, vén cao ống quần vốc nước ao bèo gội tóc, rửa mặt, rửa cả mình. Xong, áo vắt cánh tay, lại lảo đảo bước khỏi ván cầu. Cơn gió bấc phào thổi đến. Nguyễn Bính, thấy trời đất xoay tròn, anh chỉ kịp kêu một tiếng rồi cả thân hình đổ sấp xuống, mặt úp vào bùn nước, máu mũi rỉ ra. Anh vừa mổ dạ dày tháng trước. Có lẽ anh chết vì bục dạ dày.

Nhà thơ thiên tài Nguyễn Bính đã ra đi, sự thực, như thế đấy. Anh rời cõi tục này giữa mùa mơ rừng chùa Hương gởi hương cho thiên hạ, và kết trái, cùng với bài thơ Cô hái mơ của anh giao duyên với những ai bấy lâu yêu thương Nguyễn Bính, suốt từ Nam đến Bắc, qua từ tuổi già đến tuổi trẻ, nữ như nam, người có học cũng như người vô học.

Nguyễn Bính ơi, anh đã đi rồi! Thôi nhé! Hôm nay người bạn già này tâm niệm, uống hớp nước mơ do bà vợ già đưa trong khi đang viết về anh, đang nói với anh, với một hồn ma, còn lang thang như một làn sương khói trong rừng mơ ấy.

Nguyễn Bính ơi, anh đã đi rồi! Thôi thì cũng cứ coi là một việc bình thường của kiếp phù du. Xưa Lý Bạch say rượu vồ trăng, chết chìm trên dòng sông lớn. Nay, thi nhân Nguyễn Bính, cũng say, chết nổi bên vũng nước ao bèo, âu cũng là cái chết, bằng cách nào cũng là cái chết, và Bính ơi, nó cũng nhẹ nhàng như… RỪNG MƠ HIU HẮT LÁ MƠ RƠI.”

More Stories...