Thời Báo Vietnamese Newspaper

Một truyện Liêu trai: HỒNG NGỌC

Nguyên tác: Bồ Tùng Linh
Người dịch: Đoàn Dự

(Dịch theo tác phẩm tiếng Anh “StrangeTales of Liaozhai” của nhóm bà Chu Hồngxuất bản tại Hồng Kông năm 1962)

THƯA QUÝ BẠN, một hôm có vị độc giả ở Canada gọi điện thoại về nói chuyện chơi; tôi hỏi, để thay đổi không khí, thỉnh thoảng tôi dịch một vài truyện Liêu Trai hoặc truyện Ngàn Lẻ Một Đêm để độc giả giải trí cho vui, liệu độc giả có chấp nhận không? Vị độc giả đó nói, được chứ, không hiểu người khác thế nào còn tôi thì tôi OK, coi cho vui vậy mà, thời buổi này nhiều chuyện lung tung quá, đọc báo thấy bàn chuyện chính trị riết cũng nản, thà coi mấy truyện hồ ly, ma tà, Ả Rập (ý nói truyện trong Ngàn Lẻ Một Đêm) có lẽ đỡ mệt óc hơn.

Vâng, thưa quý bạn, đúng vậy, đọc truyện Liêu Trai hay truyện Ngàn Lẻ Một Đêm có lẽđỡ mệt óc hơn. Bởi vậy nhà thơ Vương Ngư Dương, bạn của tác giả Bồ Tùng Linh, nói: “Chuyện đời nghe đã rườm tai. Hồ ly, ma quỷ, đọc chơi đỡ buồn”.Thật ra ma quỷ hay hồ ly (con cáo, the fox) trong truyện của Bồ Tùng Linh chỉ là phương tiện để tác giả diễn đạt ý mình mà thôi. Ví dụ một cô gái yêu chàng trai nghèo không có tiền cưới vợ, nàng là “hồ ly” nên tặng chàng 40 nén vàng và chàng được nhà gái vui vẻ gả con. Ý chính trong truyện là lòng tốt và tình cảm cao quý của cô gái đối với chàng trai chứ không phải nàng là hồ ly hay không hồ ly. Có là hồ ly nàng mới “hoá phép” có 40 nén vàng tặng chàng như vậy. Bồ Tùng Linh (1640-1715) là một nhà nho uyên bác, đằng sau những truyện hồ ly, ma quỷ, luôn ẩn giấu ý nghĩa tốt đẹp của con người. Cũng như mọi nhà văn khác, ông căm giận những tên quan lại độc ác, hống hách, ăn hiếp dân lành. Ông thường cho chúng… chết cả nhà để dạy con người làm lành lánh dữ.

Đã hiểu rõ nhà văn họ Bồ như vậy, bây giờ xin mời quý bạn thưởng thức một trong hơn 450 truyện thuộc loại “liêu trai” của ông.

***

Ông cụ họ Phùng người huyện Quảng Bình tỉnh Hà Bắc, có một người con trai tên chữ là Tương Như. Hai cha con cùng là người ăn học. Ông Phùng tuổi gần sáu mươi, tính tình nghiêm nghị nhưng nhà có vẻ nghèo. Trong khoảng vài năm, bà Phùng và người con dâu vợ của sinh đã mất, việc cơm nước hai cha con đều phải tự làm lấy.

Một đêm, Tương Như ngồi dưới bóng trăng, chợt thấy người con gái từ bên kia tường thò đầu lên nhìn sang. Chàng thấy nàng rất đẹp, bèn lấy tay vẫy vẫy thì nàng mỉm cười, không thụt đầu xuống mà cũng không bỏ đi. Sinh đến gần, cố năn nỉ mãi nàng mới trèo thang sang. Hai người vào trong phòng học của sinh, chuyện trò càng lúc càng thân mật, rồi ăn nằm với nhau. Hỏi họ tên, cô gái nói:

– Thiếp là con nhà láng giềng gần đây, tên là Hồng Ngọc.
Sinh yêu lắm, xin cùng nàng tính chuyện trăm năm. Cô gái nhận lời, từ đấy đêm đêm thường qua lại ăn nằm với sinh.
Được độ nửa năm. Một đêm, ông Phùng thức dậy, nghe có tiếng con gái chuyện trò, nhòm vào trong phòng của sinh thì thấy cô gái. Ông giận lắm, gọi chàng ra, la mắng:
– Ðồ súc sinh! Mày làm trò gì thế hả? Cửa nhà sa sút, không biết chịu khó học hành lại còn học đòi theo thói đàng điếm! Người ngoài mà biết thì phẩm hạnh của mày còn ra gì nữa? Giả thử người ta không biết thì mày cũng phải tự thẹn với chính mình chứ!…
Chàng quỳ xuống nhận lỗi, khóc và xin sẽ hối cải. Ông cụ bước vào, mắng cô gái:
– Con gái mà không biết giữ gìn phép tắc, đã làm mình nhơ nhuốc lại khiến người khác xấu lây. Nếu việc này vỡ lở ra, không phải chỉ một mình đứa con trai mang tiếng xấu mà cả đứa con gái nữa!
Mắng xong, ông cụ tức giận bỏ về phòng mình. Cô gái ứa nước mắt nói với sinh:
– Lời cha quở trách thật đáng hổ thẹn. Cha giận lắm mà cũng khinh em nữa, duyên phận hai đứa chúng ta coi như thế là hết.
Chàng nói:
– Thật ra khi còn cha mẹ, con không được quyền tự quyết định. Nếu nàng còn nghĩ đến tình nghĩa, nên cố gắng bỏ qua, ngậm tủi làm lành.
Cô gái quyết định chia tay. Chàng sa nước mắt. Cô gáilựa lời khuyên nhủ:
– Thiếp với chàng không có mối lái, không có lệnh của cha mẹ, chỉ là trèo tường vượt ngạch mà đến với nhau thì làm sao có thể sống cùng nhau đầu bạc răng long được. Vùng này có một người con gái vừa đẹp lại vừa đức hạnh, chàng nên đến hỏi làm vợ.
Chàng than là nhà nghèo, nàng nói:
– Tối mai chàng đợi, thiếp sẽ vì chàng mà mưu tính việc tiền bạc cho.
Tối hôm sau quả nhiên nàngđến, đem theo bốn mươi nén bạc,đưa cho chàng rồi nói:
– Cô gái đó họ Vệ, ở thôn Đông cách đây khoảng sáu mươi dặm (1 dặm tức lý = 0,5 km .- ĐD) năm nay mười tám tuổi nhưng còn treo cao giá ngọc,chưa lấy ai. Chàng thuộc gia đình có học, đem nhiều tiền đến hỏi thì ắt sẽ được.
Nói xong nàng từ biệt mà đi. Chàng lựa lúc thuận tiện thưa với cha, muốn xin đi xem mắtnhưng giấu câu chuyện tiền bạc. Ông Phùng tự lượng nhà mình nghèo chắc họ không chịu nên gạt đi. Chàng tìm lời nói là cứ thử đến xem xem sao cho biết, ông cụ bằng lòng.

Bốn mươi nén bạc là một số tiền lớn tương đương với hơn mười nén vàng, chàng bèn thuê đầy tớ và xe, ngựa đến nhà họ Vệ.
Vệ ông vốn là nhà nông nhưng cũng nghe nóichàng là con nhà dòng dõi ăn học, hơn nữa lại thấy chàng có vẻ đàng hoàng, trong bụng đã bằng lòng lắm rồi nhưng chỉ hiềm là nghe nói gia đình chàng nghèo, chưa biết sự thể ra sao.
Chàng thấyVệông ngập ngừng thì cũng hiểu phần nào, bèn đặt túi vải đựng số bạc lên bàn,tiếng nghe lọc cọc, đồng thời nói mời bà Vệ và cô gái ra để thưa chuyện. Ông Vệ mừng lắm, bèn gọi vợ và con gái ra. Cô gái khép nép đứng sau lưng mẹ. Chàng thấy nàng tuy ăn mặc xuềnh xoàng nhưng rất đẹp, dáng vẻ dịu dàng thuỳ mị thì rất mừng, bèn đặt một nửa số bạc lên bàn coi như đính ước. Ông cụ bèn nhờ người bên hàng xóm sang làm người chứng, viết tờ giấy hồng điều mà giao kết với nhau. Chàng bàn tính chuyện cưới hỏi, ông cụ nói:

– Nhà quá quê mùa, chật chội, khách khứa nhà trai đến đông họ cười. Công tử không cần bày vẽ gì nhiều, đợi may sắm cho em nó chút ít quần áo xong, hôm ấy công tử cứ cho chiếc xe với một vài người đến đón dâu về là được rồi, đơn giản thôi mà.
Chàng liền hẹn ngày rồi về, nói dối với bố:
– Họ Vệ hiểu nhà ta dòng dõi nhưng thanh bạch nên không đòi hỏi gì, lại còn giúp thêm ít tiềnđể mình sắm sửa hôm đám cưới nữa.
Ông cụ rất mừng.
Ðến ngày cưới, sinh đưa xe và mấy người đến đón dâu. Cô gái về nhà chồng, siêng năng, dè xẻn, lại thuần thục nết na, tình nghĩa vợ chồng thật là thắm thiết. Hơn hai năm sau, sinh được một bé trai, đặt tên là Phúc Nhi.
Nhân tiết Thanh minh, vợ chồng đem con đi thăm mộ, bất ngờ gặp kẻ thân hào hống hách trong huyện họ Tống, bèn tránh lối không dám chạm mặt. Tống vốn là quan Ngự Sử trong triều, phạm tội tham ô, bị cách chức về làngnhưng chứng nào tật nấy, vẫn diệu võ giương oai, hà hiếp dân lành.

Hôm đó Tống cùng quân hầu đầy tớ cũng đi thăm mộ, thấy người phụ nữ bế con đi bên cạnh chồng trông rất đẹp, bèn hỏi đầy tớ xem người ấy là ai.Đầy tớ trả lời đó là vợ chàng thư sinh họ Phùng, nhà rất nghèo. Tống nghĩ Phùng là học trò nghèo, nếu đem tiền bạc ra dụ dỗ có thể làm cho thay lòngđổi dạ. Nghĩ vậy, về nhà, Tống bèn cho người đến nói chuyện với sinh. Sinh nghe nói, giận lắm nhưng nghĩ mình không thể địch lại Tống nên nén giận, giữ vẻ lịch sự rồi mời ông Phùng ra nói chuyện. Ông Phùng cũng tức, chỉ tay vào mặt người kia, trỏ trời vạch đất mắng nhiếc họ Tống tàn tệ. Người môi giới ôm đầu lủi thủi ra về.

Tống nghe người mối kể lại, cũng tức giận, sai quân hầu đầy tớ xông vào nhà sinh, đánh cả cha lẫn con, làm cho làng xóm ầm ĩ, sôi lên sùng sục. Vợ sinh nghe tiếng, đặt con xuống giường, xoã tóc chạy ra ngoài sân kêu cứu. Chúng bèn cướp lấy nàng, bịt miệng, vác lên vai rồi ầm ầm kéo đi.
Hai cha con Phùng bị đánh gần chết, lê lết trên mặt đất. Thằng bé Phúc Nhi khóc khản cả tiếng trong buồng, ngã rơi xuống đất. Hàng xóm ai cũng thương hại, bế lên và đỡ sinh với ông cụ dậy. Qua ngày sau, sinh chống gậy mới đứng lên được, còn ông cụ thì tức giận không ăn uống rồi thổ huyết mà chết.

Sinh lăn khóc, ẵm con đi kiện lên quan huyện, quan không tra xét. Kiện hầu hết khắp mọi nơi rút cục cũng không ăn thua, sau lại nghe tin vợ không chịu khuất phục đã đập đầu vào tường mà chết, chàng lại càng đau xót.
Khí oán ngất trời nhưng không cách nào trả hờn được. Chàng thường nghĩ muốn đón đường đâm chết tên quan hống hách, nhưng lại nghĩ quân hầu đầy tớ nhà nó rất đông, đi đâu cũng tiền hô hậu ủng, mà con mình thì còn nhỏ dại, không biết gửi ai, làm sao đến gần nó được. Chàng lo nghĩ ngày đêm bạc cả tóc, hai mắt căng ra chớp không nổi.
Bỗng một hôm, có một người đàn ông tự dưng đến nhà, râu quăn, hàm bạnh, xưa nay chàng chưa từng gặp bao giờ. Chàng mời ông ta ngồi, toan hỏi quê quán, họ tên thìkhách đã nói trước:
– Ông có cái thù giết cha, cướp vợ mà không báo ư?
Chàng ngờ là người của Tống sai đến dò xét nên chỉ ậm ừ cho xong. Khách nổi giận, trợn mắt, đập tay xuống bàn, đứng dậy:
– Tôi tưởng cậu là người có khí tiết. Không ngờcậu chỉ là một thằng hèn, uổng công người ta nhờ tôi đến đây giúp đỡ!
Chàng xét thấy câu nóicó điều lạlạ mà cũng hơi đoán ra người nhờ cậy khách là ai, bèn quỳ xuống, khóc và nói:
– Thật ra vì sợ là người nhà họ Tống đến dò la, nay xin giãi bày gan ruột. Điều oán hận tôi không bao giờquên được, chỉ hiềmnỗi hòn máu này không ai cưu mang nên chưa dám vọng động. Ngài là bậc nghĩa sĩ, liệu có thể giúp tôi được chăng?
Khách hỏi giúp bằng cách nào, chàng nói nhờ khách trông nom đứa con, nếu chàng chết, xin khách nuôi nó nên người.
Khách nói:
– Ðó là việc của đàn bà con gái, tôi không làm được. Việc ông muốn nhờ,ông tự làm lấy. Còn việc ông muốn làm thì để tôi làm thay cho.
Chàng nghe nói, dập đầu xuống đất lạy tạ. Khách không nói gì cả, bỏ đi. Chàng chạy theo hỏi họ tên, khách đáp:
– Việc chưalàm, không nên nói trước. Việc đã xong, không cần nhận ơn. Ông hãy tránh mặt đi ngay từ bây giờ thì tốt hơn kẻo tối có thể xảy ra cơ sự.
Nói xong khách bỏ đi liền.
Chàng biết sắp có chuyện lớn bèn ẵm con đi trốn.
Ngay đêm ấy, cả nhà họ Tống đang ngủbỗng có thích khách vượt qua mấy lần tường kiên cố, giết hết cả nhà Ngự Sử kể cả các quân hầu đầy tớ đã đánh cha và bắt vợ Phùng ngày nọ.
Anh em họ hàng nhà Tống làm tờ cáo trạng lênquan huyện, quan rất kinh hãi. Nhà họ Tống nghi ngờ thủ phạm là Tương Như, vì thế quan cho lính đến bắt. Chàng đã bế con bỏ trốn không ai biết ở đâu cả, vì vậy quan lại càng tin là thật.

Phe đảng nhà Tống cùng với lính nhà quan đi lùng khắp mọi nơi. Ban đêm, khi đến chân núi Nam Sơn, nghe có tiếng trẻ con khóc, chúng lần tìm ra sinh, bèn trói đem về. Ðứa trẻ càng la khóc dữ, chúng bèn bỏ trên ổ rơm trong túp lều hoang sinh đã ẩn núp.
Sinh oan ức muốn chết, lại lo đứa con bị chúng bỏ trong túp lều không biết bây giờ ra sao, sống hay chết. Khi bị đưa vào trình quan huyện, quan hỏi tại sao lại giết người, chàng thưa:
– Tôi không giết người. Nhà họ Tống chết về ban đêm, tôi ra đi từ ban ngày. Vả lại,tôi một thân một mình, mắc bồng đứa con nhỏ, như vậy thì trèo tường, vào nhà giết người sao được? Hơn nữa tôi sức thư sinh, không biết võ nghệ, không có gươm dao gì, làm sao giết được cả nhà người ta?
Quan huyện hỏi vặn lại:
– Nếu không giết ngườitại sao lại phải bỏ trốn vào trong chân núi?
Đến đây sinh thì đuối lý không trả lời được. Quan ra lệnh giam vào trong ngục, chàng khóc và nói:
– Tôi chết cũng không tiếc thân nhưng con tôi đâu có tội tình gì…
Quan nói:
– Mày giết cả nhà người ta không sót một người thì con mày chết cũng là đáng kiếp, còn oán thán gì nữa!
Chàng bị thu mũ áo nho sinh, lại bị kìm kẹp, đánh đập khổ sở nhưng cũng không xưng nhận điều gì.
Quan lệnh đêm hôm ấy nằm ngủ, bỗng nghe có vật gì cắm phập trên bàn, kêu bật thành tiếng, sợ quá la lên. Cả nhà giật mình thức dậy, xúm lại đốt đuốc soi, thấy một con dao ngắn, lưỡi sắc nhọn sáng loángcắm trên mặt bàn sâu xuống đến hơn một tấc, chặt cứng không rút ra được. Quan lệnh trông thấy sợ hết hồn vía, cho người cầm giáo đi lùng khắp nơi cũng không thấy tung tích gì cả. Bụng quan kinh hãi, tự nghĩ Tống và người nhà đã chết cả rồi, không việc gì phải sợTống nữa, bèn trình bẩm lên quan trên để giải oan cho sinh, rồi thả chàng về.
Sinh về đến nhà, trong hũ không còn đượclấy một đấu gạo,một mình một bóng ngồi trông bốn bức vách vắng mà thôi. May được hàng xóm láng giềng thương tình, bảo nhau cho gạo cho tiền, tạm bợ sống qua ngày. Nghĩ đến cái thù lớn đã trả xong thì cũng vui bụng, dần tươi tỉnh lại. Nhưng nghĩ đến đứa con thơ bị bỏ trong túp lều vắng ở chân núi, có thể đã chết đói hoặc bị thú dữ ăn thịt, nước mắt chàng lại đầm đìa,cảm thương thân mình nghèo xác, lúc chết không ai nối dõi lại càng đau đớn.

Như thế được chừng nửa năm, vụ án đã dứt hẳn, chàng bèn làm đơn xin với quan huyện được đem hài cốt người vợ tiết liệt về chôn tại làng nhà. Chôn cất xong, chàng đau xót muốn chết theo vợmà muốn sống thì cũng không biết làm gì để sống.
Bỗng một buổi tối có tiếng gõ cửa. Chàng ngạc nhiên chú ý lắng nghe, thấy bên ngoài hình như có tiếng phái nữ đang vỗ về một đứatrẻ con. Chàng vội đốt đèn, mở cửa bước ra thì thấy đó là một cô gái tay dắt đứa trẻ. Trông thấy chàng, người đó vui vẻ hỏi, giọng nói nghe rất quen:
– Thù lớn đã trả, chàng bằng lòng chứ?
Thì ra đó là Hồng Ngọc, người con gái leo thang qua bức tường bên vườn sang với chàng hồi nào. Nàng cầm tay đứa trẻ đặt vào tay chàng:
– Bố đấy, bé quên mất bố rồi sao?
Ðứa bé nhìn chàng chòng chọc. Sinh nhìn kỹ thì ra đó chính là Phúc Nhi. Chàng mừng rỡ bế nó lên, hỏi nàng:
– Sao em lại đem con về đây được? Nó lớn bằng này rồi kia ư?
Nàng trả lời:
– Thú thật với chàng, trước đây thiếp nói thiếp là con gái bênhàng xóm láng giềng là nói dối đấy. Thực ra thiếp là hồ ly. Thiếp nhờ người quen có võ nghệ và lòng nghĩa hiệp trả thù giùm chàng rồi để tâm theo dõi, xem chàng bế con tránh đi nơi đâu. Chờ bọn lính đã đi đi khỏi, thiếp vào trong chòi ẵm đứa trẻ về nuôi ở huyện Tần. Nay biết nạn lớn của chàng đã qua, thiếp đem con về cùng chàng đoàn tụ.
Chàng gạt nước mắt, bế con quỳ xuống đất lạy tạ. Nàng đỡ chàng dậy. Ðứa trẻbám lấy tay cô gái giống như đối với mẹ ruột.
Trời chưa sáng, cô gái đã trở dậy. Chàng hỏi, nàng đáp:
– Kẻ hèn mọn này sắp đi đây!
Chàng chưa mặc áo, quỳ xuống sátchân giường, ứa nước không nói nên lời. Nàng cười:
– Thiếp nói đùa với chàng đấy. Nay nhà bắt đầu gây dựng lại, thiếp bỏ đi sao đành.
Nói rồi nàng đi quét dọn, phát cỏ, làm lụng như đàn ông. Chàng lo nhà nghèo không đủ ăn. Nàng nói:
– Xin chàng cứ việc buông màn đọc sách lo việc thi cử, không cần hỏi đến chuyện thiếu đủ, gia đình không đến nỗi chết đói được đâu mà sợ.
Sau đó nàng bỏ tiền ra sắm khung cửi dệt vải, lại thuê vài mươi mẫu ruộng, mướn người cày cấy, phát cỏ, mua lá lợp nhà. Hàng ngày nàng làm lụng chăm chỉ,coi như việc bình thường. Xóm làng nghe nói chàng có vợ hiền lại càng vui lòng giúp đỡ. Chừng một năm sau, cảnh nhà thịnh vượngnhư thể một nhà giàu có.
Một hôm, chàng nói:
– Dưới đống tro tàn, miếng ăn không có, hoàn toàn nhờ haibàn tay nàng gây dựng lại. Nhưng còn một việc chưa được toại nguyện, không biết phải làm thế nào.
Nàng hỏi việc gì, chàng đáp:
– Kỳ thi sắp tới mà khăn áo nho sinh bị họ thu giữ hồi nọ chưa lấy lại được, chắc làm đơn xin lại còn lâu họ mới cứu xét.
Nàng cười:
– Trước đây thiếp đã đem bốn lạng vàng lên quan Quảng văn để xin nhận lại, đã đem về rồi. Ðợi chàng nhắc đến thì lỡ mất còn gì.
Chàng càng cho nàng là thần thánh, suynghĩrất đâu vào đấy. Khoa thi năm ấychàng đậu Hiếu liêm (sau này gọi là Cử nhân), bấy giờ tuổi vừa băm sáu. Ruộng tốt liền bờ, nhà cửa cao rộng. Vợ chàng người vẫn mảnh mai tưởng như gió thổi là bay, mà làm lụng còn quá con nhà nông. Tuy mùa đông rét mướt nàng vẫn chịu khó ra đồng trông nom cho thợ cày cấy. Có ai hỏi, nàng nói thật là băm tám tuổi nhưng người ta trông tưởng nàng là con gái mớingoài đôi mươi.

Đoàn Dự

Comments are closed.

error: Content is protected !!