Một góc nhìn về cải lương

Ông Già Điếc (Châu Video)

Mỗi dân tộc đều có một nền văn hóa khác nhau và một ngành văn học nghệ thuật đặc thù lâu đời của dân tộc đó.

Việt Nam ta ngành Sân khấu lâu đời và đặc thù nhất là sân khấu Cải lương. Đây là niềm hãnh diện của Việt Nam chúng ta. Gần ba mươi năm trở lại đây, Cải lương đã bị chi phối nhiều mặt, Cải lương dần dần bị tuột hậu, đối với giới trẻ ngày nay gần như bị quên lãng, còn đối với bậc trung niên trở lên thì tuột hậu đó có phần bồi hồi và nuối tiếc cho những ai đã từng say mê Cải lương hay đã từng trăn trở cho các ngành nghệ thuật nói chung.

Người viết xin nêu thêm vài điểm sau đây, có thể là lý do đưa đến!…

1- Nhìn lại quá khứ, phần lớn các gánh hát Cải lương trong đó: Tác giả, Nhạc sĩ và Diễn viên đều xuất thân ở các tỉnh nhỏ hoặc các vùng quê miền Nam.
Bài này xin viết riêng về diễn viên Cải lương, các miền quê chúng ta, dân tình quanh năm chân lấm tay bùn, giải trí không có gì nên ngoài câu hò điệu hát khi làm việc, cái Radio là nguồn giải trí rất quan trọng vì ngày xưa làm gì có truyền hình (ngay cả các thành phố còn chưa có, nhưng thành thị thì còn có rất nhiều môn giải trí khác)
Khổ nổi ở các vùng quê đến điện còn không có! Dân nông thôn chúng ta, quanh năm với cảnh ruộng đồng vườn tược, cảnh yên lắng với không gian yên tịnh, có thể nói là thơ mộng với những điệu hát câu hò. Câu ca của Cải lương lời lẽ dễ hiểu và tình cảm đi vào lòng người, nên dân nông thôn mê Cải lương là điều hiển nhiên.
Thời đó Radio đáp ứng cho họ rất nhiều, vì ngày nào cũng có phát thanh những tuồng Cải lương hay hoà tấu các bài nhạc cổ. Có lẽ vì vậy những thanh niên nam nữ ở thôn quê, những ai có năng khiếu ca cổ, mê Cải lương thường muốn đi theo gánh hát, có khi bỏ gia đình trốn theo gánh hát để lại sau lưng ruộng đồng vườn tược.

2- Quanh năm sống ở nông thôn, trước mắt phần lớn là màu xanh của ruộng lúa, vườn tược hay màu vàng khi lúa chín rất dễ thương nhưng cũng rất đơn điệu “một màu”, vì thế họ rất thích ăn mặc đủ màu sắc khi có dịp hội họp nam nữ hay những ngày Tết.
Người viết cũng nhận thấy điều này thể hiện ở các sắc dân thiểu số nói chung, quanh năm cũng sống với rừng núi nên cách ăn mặc trang sức của họ cũng mang nhiều màu sặc sỡ.
(Mấy năm trước qua Thời Báo, bậc thầy Nguyễn Phương có đặt vấn đề: “Khán giả thích Cải lương nhưng lại coi thường đào kép, có lẽ họ cho rằng đào kép Cải lương thường ăn mặc rườm rà).
Thật ra sự ưa chuộng ăn mặc nhiều màu sắc hay chải chuốt, ở một góc nhìn nào đó thì họ đáng được thông cảm.

3- Diễn viên Cải lương, lúc khởi đầu không đặt tài năng về diễn xuất và các gánh hát thường chú trọng đến giọng ca, dân nông thôn nghe Cải lương qua Radio nên khái niệm về diễn xuất họ cũng không chú ý tới.
(Khởi đầu của Cải lương: Chỉ việc lên sân khấu hát ba câu hoặc sáu câu vọng cổ là xong… Sau đó bác Tám Danh mới đặt ra cái gọi là Ca ra bộ, tức là có diễn xuất chút ít. Dần dần hình thành kịch bản và có tuồng tích hoàn chỉnh nhưng cũng đặt nhẹ về kỹ thuật diễn xuất).

4- Trở về sau khi giọng hát và diễn xuất đều được chú trọng và được nâng cao. Trong một thời gian rất dài Cải lương rất phát triển và là thời cực thịnh của ngành Sân khấu này.
Sau thời cực thịnh thì Cải lương lại khuất dần theo thời đại, nhường chỗ cho các ngành nghệ thuật khác như thoại kịch, tân nhạc, đại nhạc hội, điện ảnh, v.v…

5- Điểm mạnh của Cải lương như đã viết ở trên lời lẽ dễ hiểu, ướt át, đa số các tác phẩm đều cảm động lòng người. Sân khấu Cải lương nhiều màu sắc, dàn dựng cảnh trí công phu.
Nhưng một điều của Cải lương khiến khán giả mất dần sự ham thích do những câu ca cổ Cải lương chỉ đổi lời chớ ít khi đổi nhạc. Trong khi đó, Tân nhạc mỗi bài đều khác lời và nốt nhạc trầm bổng, cao độ, cường độ đều khác nhau. Vì lẽ đó Tân nhạc sẽ phát triển và trường tồn mãi mãi.

6- Trong bài này, người viết muốn nêu lên những đặc điểm của Phim ảnh hay Điện ảnh nói chung. Trong khi Cải lương các bài ca hầu hết đều như cũ chỉ khác lời (người viết cũng nhận biết đã là Cải lương thì mặc nhiên phải ca Cổ nhạc, mà Cổ nhạc thì làm sao sửa nốt nhạc được, họa chăng là từ âm nhạc chân phương, nhạc sĩ Cổ nhạc chỉ có thể dặm thêm một ít “hoa lá”). Tiết tấu của Cải lương chậm chạp, một phần hay hát lại các tuồng xưa, khán giả khi xem đã biết trước nội dung. Trong khi phim ảnh thì tiết tấu ngày càng nhanh nội dung hấp dẫn, khúc chiết (xin được gọi chung tiết tấu nhanh là tính thông tin nhanh đến khán giả). Thời gian sau này xem phim Tây, Tàu, Đại Hàn… Tính thông tin của họ rất nhanh, khiến khán giả không cảm thấy nhàm chán.
Tuy nhiên về giải trí đơn thuần thì như vậy, người viết cũng không thể phủ nhận, những vở tuồng hay, những phim có giá trị về nội dung mang một ý nghĩa hay thông điệp nào đó đến khán giả, sự lắng đọng trên sân khấu hay phim ảnh là cần thiết và có giá trị, khiến người xem nhớ rất lâu trong lòng, hơn là xem giải trí thông thường xem qua rồi quên hẳn.

7- Những năm gần đây ngành Cải lương cũng được khích lệ và khơi dậy qua các tổ chức văn nghệ trong nước và một phần nào ở Cộng đồng Việt Nam Hải Ngoại qua các trung tâm thỉnh thoảng cũng xen vào màn ca Tân Cổ hay trích đoạn Cải lương. Trong nước thì có các chương trình Thuần Việt, Vầng trăng Cổ nhạc, Bước chân hai thế hệ…

Nhưng sân khấu Cải lương chuyên nghiệp nói chung cũng không tiến triển bao nhiêu. Lý do theo người viết nghĩ đến là:
– Thiếu thốn kịch bản, nhất là kịch bản mang tính hiện thực (thực tại đang diễn ra trong cuộc sống). Đa số các tác giả lo ngại viết tuồng cho Cải lương sẽ không có nhiều khán giả như mong đợi.
– Nhiều tác giả (soạn giả) rất tài giỏi nhưng đa phần sáng tác cho các ngành nghệ thuật khác.
Năm 1976 trong nước có trường Nghệ Thuật Sân Khấu 2 trong đó có khoa đào tạo ngành Cải lương. Lại theo xu hướng của thời đại, đa phần lại theo ngành nghệ thuật khác khi ra trường.
Thêm nữa sáng tác cho Cải lương rất khó thoát những cung cách đặc thù là tình cảm phải ướt át, phụ thuộc vào các lớp phải đối thoại lên xuống có chất thơ, phải vô 6 câu vọng cổ lúc nào. Thêm nữa Soạn giả Cải lương phải am tường về các bài ca cổ.

8- Theo ý kiến riêng của người viết thì trong vở tuồng Cải lương nên có thêm các bài ca ngắn (trong nghề gọi là “Bài bản”) như: Xuân tình, Bình bán vắn, Vân thiên tường, Nam ai…, còn xuống vọng cổ thì hát ba câu là đủ, người nghe sẽ cảm thấy khó thưởng thức vì xuống 6 câu Vọng cổ lời hát đa phần đều là những câu thơ được Cổ nhạc hóa mà thôi.

Trong vở tuồng Cải lương không nên kéo dài quá (xem Cải lương qua video, người xem có thể ngưng lại, ngày sau xem tiếp) chớ khán giả đến rạp xem thì không thể ngưng tạm được.
Có lẽ vì lẽ đó nên trong nước hiện nay, các Ban “Ca tài tử” rất được ưa chuộng (ca “Tài tử” cũng có rất lâu, gồm những người đàn ca không chuyên nghiệp chỉ nhân khi nhàn rỗi họ rủ nhau gom lại đàn hát trong xóm làng, và bà con hàng xóm xúm lại nghe, xong thỏa thích, ai muốn về thì về).
Tóm lại, người viết không làm trong nghề Cải lương, nên chỉ viết lên một phần nào nhận định khách quan mà thôi.

Tưởng tượng, một đêm trăng sáng, được theo một chiếc xuồng ra giữa sông, nướng vài con khô trên lửa than, nhắm nháp vài ly rượu, mà có được vài người bạn ngồi quanh đờn ca “Tài tử” thì còn gì bằng.
Hy vọng ngành Cải lương của chúng ta sẽ trường tồn mãi mãi.

Ông Già Điếc (Châu Video)
Canada 8/8/2016

More Stories...