Một đêm Giao thừa

Trần Hữu Thuần

Năm học 1959-1960 tôi học lớp Đệ Nhất C2 trường Quốc học Huế, bây giờ gọi là Lớp 12, chuẩn bị thi Tú tài 2. Tết năm đó, chẳng hiểu tại sao, tôi xin phép ba mẹ không về nhà ăn Tết viện cớ cần học kịp bài để thi. Gia đình tôi gốc Quảng Trị nhưng ba mẹ tôi ở Hội An vì ba tôi đang làm việc ở Quảng Nam. Tôi vốn chăm học nên ba mẹ tôi yên tâm cho phép, gửi cho tôi ít tiền và bánh mứt. Cho đến nay, tôi vẫn không hiểu tại sao tôi nảy ra ý định kỳ quặc như thế, có lẽ do trong tôi có chút máu giang hồ vặt muốn nếm thử mùi vị ăn Tết xa nhà, và nhất là mùi vị Tết xứ các mệ xem ra như thế nào. Tuy đã ở Huế từ năm mười hai tuổi để đi học, tôi chưa một lần thưởng thức không khí Tết ở Huế.
Căn nhà tôi trọ học ở trên một con đường đất đỏ rộng nằm giữa đường Phan Chu Trinh phía bắc và đường rầy xe lửa phía nam, một phần ba khoảng cách đến Nhà Thờ Phủ Cam về hướng đông và hai phần đến Chùa Từ Đàm về hướng tây. Bà chủ nhà trọ là một người đàn bà dáng dấp mệnh phụ tuổi trạc chừng trên dưới sáu mươi mà chúng tôi gọi bằng cô, gọi theo người cháu gọi bà bằng cô là bạn học cùng lớp với tôi nhưng thi rớt Tú tài 1 nên phải học lại lớp Đệ Nhị tức Lớp 11 sau này. Đi đứng khoan thai, giọng nói từ tốn, cô tuy lớn tuổi nhưng nét mặt lúc nào cũng tươi tắn duyên dáng dù không một tí phấn son trang điểm. Chưa hề biết thân phận cô nhưng từ lần gặp đầu tiên tôi đã nghĩ cô nguyên phải là phu nhân của một quan quyền nào đó dưới triều Nguyễn. Gặp bạn nào trong đám học sinh trọ học tò mò muốn biết đời tư cô, cô chỉ mỉm một nụ cười bí ẩn và vội vàng khỏa lấp qua chuyện khác.
Mùa hè khi các học sinh trọ học đã về nhà, cô sống một mình với người cháu thường chỉ về nhà vào dịp Tết vì mẹ bạn lập gia đình với chồng sau, bạn không thích gần gủi người cha dượng. Rằm tháng Chạp, sau khi được ba mẹ tôi cho phép, tôi đến gặp cô đưa thêm ít tiền sắm Tết ngoài tiền trọ học:
“Năm nay con ở lại ăn Tết với cô, cô cho phép không?”
Cô mừng rỡ ra mặt:
“cậu nói thật răng? Răng cậu không về nhà?”
Tôi đùa:
“Rứa cô không muốn con ở lại răng?”
Cô cười:
“Mô có, tui mừng thì có. Tết các cậu và nó đều về nhà nên năm nào tui cũng thui thủi một mình.”
Nó là anh bạn tôi, cháu cô. Thế là chưa đưa ông Táo cô đã hối người lo bếp núc mua sắm chuẩn bị Tết, vì mấy người giúp cũng sẽ về nhà sau khi không còn học sinh trọ học. Đưa ông Táo xong, cô gọi xích lô đích thân ra chợ Đông Ba sắm bánh mứt, và không quên mua một cành mai đầy nụ đẹp hơn tất cả các cành tôi trông thấy cô chưng mấy năm trước. Tươi cười chỉ cành mai, cô bảo tôi:
“Tui biết cậu thích mai nên mua cành ni thiệt đẹp để cậu đón Xuân.”
Đúng là gia đình tôi có thói quen chưng Mai, thà ăn ít với một cành Mai đẹp mừng Xuân hơn là mâm cao cỗ đầy với một cành Mai èo uột. Cành Mai nằm trang trọng trước bàn thờ tổ tiên nhà cô với các lư hương chân đèn đánh bóng rực sáng óng ánh như vàng. Bốn đĩa có chân cũng bằng đồng sáng loáng xếp hai bên bàn thờ, một bên một đĩa bốn đòn bánh Tét và một đĩa một nãi (nhánh) chuối lớn vừa hườm nghĩa là đã già chuẩn bị chín, một bên một đĩa các loại bánh mứt và một đĩa cam sành lớn vỏ xanh. Huế ngày đó chưa thấy có bánh chưng. Huế cũng chưa biết đến việc chưng cầu, dừa, đủ, xoài như sau này bắt chước người miền Nam. Dưa hấu, thơm (dứa, khóm) không có mặt trong số trái cây chưng Tết vì không phải là đặc sản của miền Trung. Dưa hấu miền Trung thời đó trái lớn hình cầu thuẫn dài như con heo con mươi ký, chưa thấy loại tròn như sau này. Cũng chưa có bóng dáng nho, táo vì chưa có bóng dáng người Mỹ. Ngày đó, trái cây chưng bàn thờ vào các dịp lễ tiết, nghèo thì các loại sẵn có trong vườn hay tại địa phương, giàu thì các loại trái cây sang trọng hơn chút. Giàu hay nghèo, nhất thiết không nhà nào không có một nãi chuối. Chỉ tay vào nãi chuối, cô nói:
“Cậu biết không, chuối cúng không được dùng loại trái dài như chuối Xiêm, chuối Ba hương mà phải dùng loại trái ngắn như chuối Cau, chuối Mốc.”
“Tại răng rứa cô?”
“Cậu đừng trách tui nói chuyện thô nhưng không cúng chuối trái dài phát xuất từ bí mật cung đình.”
Mấy từ bí mật cung đình gia tăng tính tò mò trong tôi. Tôi hỏi dồn cô:
“Cái chi mà bí mật cung đình rứa cô?”
Cô mỉm cười kín đáo:
“Là như ri. Chắc cậu đã học biết các vua hồi trước ông nào cũng nhiều cung tần mỹ nữ thê thiếp phải không?”
“Dạ cái nớ con biết, vua nhà Nguyễn có nhiều nhất ba vợ chính thức nhưng không phong hoàng hậu cũng như về thi cử không chấm đậu trạng nguyên, về chính trị không đặt chức tể tướng.”
“Cậu nói đến điển lệ bất thành văn ngũ bất của Triều Nguyễn, phải không?”
“Dạ, con biết rứa nhưng chẳng biết ngũ bất là cái chi cả.”
Cô nhìn tôi ra chừng không tin:
“Tui tưởng cậu đi học đã biết rồi.”
Tôi mỉm cười bối rối vì quả thật biết thì tôi biết nhưng chỉ muốn hỏi cô để có chuyện nói.
“Dạ, biết thì con biết, nhưng rõ thì chưa rõ mấy.”
“Ngũ bất là năm chuyện triều Nguyễn không làm. Đó là, không phong vương, không lập thái tử, không phong hoàng hậu, không lập tể tướng, và không chấm đậu trạng nguyên. Có người nói không phải ngũ bất mà là tứ bất, không tể tướng, không nội các, không trạng nguyên, không phò mã. Cuối cùng có người nói chẳng ngũ chẳng tứ, chỉ có tam, không hoàng hậu, không tể tướng, và không trạng nguyên.”
“Vậy thì ngũ, tứ, hay tam, cô nghĩ cái mô đúng?”
“Tui cho là tam đúng nhất vì thực tế cho thấy như rứa. Các vua triều Nguyễn không lập hoàng hậu ngoại trừ vua Gia Long đầu tiên và vua Bảo Đại cuối cùng, các vua giữa chỉ phong hoàng hậu sau khi chính phi đã qua đời. Còn lại, suốt các triều từ vua Gia Long đến vua Bảo Đại không triểu nào lập tể tướng và chấm trạng nguyên.”
Tôi để ý thấy cô không bao giờ nói đến vua và các chức vị hoàng tộc mà không hài tước vị trước khi nói đến danh hiệu hoặc tên thật, chứng tỏ lòng cô còn nhiều phần kính trọng các bậc vua chúa ngày trước.
“Không phong hoàng hậu thì mấy ông vua gọi vợ họ là chi rứa cô?”
Cô lắc đầu nhìn tôi:
“Nếu gọi các người đàn bà chung đụng thể xác với các ông vua là vợ thì các ông ấy có quá nhiều vợ, dễ đến hàng trăm không chừng hàng ngàn bà.”
Tôi nhìn cô một thoáng ngạc nhiên về hàm ý sâu sắc trong câu nói ngắn gọn của cô. Thêm vào đó, đôi mắt cô nhìn tôi khi nói hình như hàm chứa một điều gì mà trong thoáng chốc tôi chưa thể hiểu được. Giờ phút này tôi chỉ hiểu câu nói của cô hàm ý phủ nhận việc coi những người đàn bà duy chỉ chung đụng thể xác với một ông vua là vợ của ông vua đó. Người đàn bà như thế chẳng qua chỉ là công cụ để ông vua giải quyết đòi hỏi của thể xác và là cái máy để sinh đẻ nếu may mắn việc chung đụng có kết quả. Chẳng thế mà mỗi lần vua chung chăn gối với một phụ nữ trong cung, các thái giám phải ghi lại tên họ ngày giờ để nếu có kết quả phải chắc chắn đúng là giống của vua không phải của một ai khác. Tôi cười thành tiếng:
“Cô định nghĩa hay thật.”
Cô cười theo:
“Cậu cứ coi chuyện Đức Từ Cung lúc bấy giờ đã bị đối xử thế nào khi còn là người đàn bà vô danh có tên Hoàng Thị Cúc thì rõ.”
“Chuyện răng cô?”
“Chuyện kể Đức Từ Cung lúc còn hàn vi tên thiệt là Khế quen gọi là Út vì là con út, chỉ được cải danh là Cúc khi có con với vua Khải Định.”
“Nội cái tên thôi cũng đã rắc rối.”
“Cô Khế vốn chẳng phải là cung nữ mà chỉ là một cô gái bên ngoài được ông hoàng Phụng Hóa tức vua Khải Định sau này chung chăn gối vì nhu cầu thể xác trong một lần say rượu mà mang thai hoàng tử Vĩnh Thụy. Cái thai đó không được mẹ đích cũng như mẹ ruột của vua Khải Định, Đức Thánh Cung và Đức Tiên Cung, công nhận nên cô Khế bị bắt úp bụng xuống hố đào sẵn chịu đòn để khai ra cái thai là của ai.”
Tôi hỏi cô:
“Cái chi là mẹ đích rồi mẹ ruột?”
“Mẹ đích là chính phi của vua Đồng Khánh nhưng không sinh ra vua Khải Định, mẹ ruột là thứ phi nhưng lại là người sinh ra vua Khải Định.”
Thời người đàn ông được phép năm thiếp bảy thê, con các bà vợ thứ đều phải gọi bà vợ chính là mẹ, gọi người mẹ ruột sinh ra mình là dì. Tôi nói:
“Rõ rồi cô. Cô Khế chung đụng với ông Hoàng mô phải vì cô nớ là vợ của ông Hoàng mà chỉ vì thể xác ông Hoàng đòi hỏi. Rồi răng nữa cô?”
“Cho dẫu cô Khế nhất mực khai cái thai là của ông hoàng Phụng Hóa, hai bà mẹ vẫn không tin. Vì rứa, khi sinh con cô Khế phải ở riêng trong một chòi lá dựng tạm trong vườn, cả mẹ lẫn con không được chu cấp đầy đủ mãi cho đến khi đứa con được hai bà nội công nhận.”
“Tại răng hai bà không công nhận?”
“Không có lý do rõ ràng vì vua Khải Định chẳng hề nói chi cả. Về sau có người bàn rằng vua Bảo Đại không thể là con ruột của vua Khải Định vì ông hoàng Phụng Hóa có tính không thích gần gủi phụ nữ, người khác nói tại ngài ngự không có khả năng đàn ông, hay tại một vài lý do nào khác.”
Tôi mỉm cười:
“Không thích gần gủi phụ nữ răng ông nớ cần đến cô Khế khi say rượu? Chẳng lẽ ông nớ thích gần gủi đàn ông, yêu nhau đồng tính?”
Cô lắc đầu:
“Rứa nên lý không vững, chẳng hề nghe ai nói ông Hoàng thích gần gũi con trai đàn ông.”
Tôi đứng yên nhìn cô loay hoay lau dọn bát nhang bài vị, sửa đi sửa lại bình hoa và các đĩa chưng cúng trên bàn Thờ, lòng miên man nghĩ đến thân phận các cô gái mười ba mười bốn tuổi được tuyển vào cung không bao giờ gặp lại cha mẹ và gia đình, may thì được gặp mặt rồng một hoặc đôi lần trong đời, không may thì chẳng gặp lần nào. Tôi hỏi cô:
“Nhưng không phong hoàng hậu thì các ông vua gọi các bà trong cung là chi?”
“Đứng đầu là bà vợ chính có cưới hỏi cho dẫu chàng rể ông vua không có mặt lúc hành lễ. Bà này được phong Quí phi. Sau Quí phi, còn hai bà phi gọi là Minh phi và Kính phi. Dưới tam phi là tam tu, Tu nghi, Tu dung, và Tu viên. Sau tam tu là cửu tần gồm Quí tần, Hiền tần, Trang tần, Đức tần, Thục tần, Huệ tần, Lệ tần, An tần, và Hòa tần. Dưới một bậc là tam chiêu gồm Chiêu nghi, Chiêu dung, và Chiêu viên. Dưới nữa là tam sung gồm Sung nghi, Sung dung, và Sung viên. Dưới tam sung là lục chức gồm Tiệp dư, Dung hoa, Nghi nhân, Tài nhân, Linh nhân, và Lương nhân. Ngoại trừ ba bà phi có cưới xin, các bà còn lại hoặc do cha là quan đại thần tiến cung hoặc được tuyển chọn trong cả nước.”
Cô ngưng một chút rồi nói tiếp:
“Nói thì nói rứa nhưng không nhất thiết phải rứa, danh hiệu nội cung còn thay đổi tùy mỗi ông vua.”
Cộng lại trong trí các con số cô nêu lên, tôi nói:
“Rứa là mỗi ông có tới hai mươi bảy bà?”
Cô cười:
“Không phải hai mươi bảy thôi mô, bên dưới còn cung nga, thể nữ không giới hạn gọi chung là cung nhân, tức các cô hầu hạ vua và hầu hạ các bà có chức.”
“Cung nhân hầu hạ thì đâu có chung chăn chung gối với vua?”
Cô lắc đầu:
“Cậu nói đúng mà không đúng, các cô đó không có bổn phận chung chăn gối nhưng vua muốn ngủ với cô nào bà nào thì ai dám không tuân lệnh. Giả dụ bữa nay vua đến với một bà nhưng bà đó vì lý do bệnh hoạn hoặc sao đó không thể tiếp vua được có thể dâng một cung nhân nếu vua muốn, hoặc có khi vua đến với một bà nhưng thay vì chung chăn gối với bà ấy lại muốn với một cung nhân của bà.”
“Nhưng chuyện đó liên quan gì đến chuyện không cúng chuối trái dài?”
Cô nhìn tôi ngạc nhiên vì thấy sự thơ ngây lộ ra trong mắt tôi:
“Tại cậu chưa hiểu chuyện đời nên chưa hiểu thâm ý chuyện tôi đang nói.”
Hiểu ngay cô nói chuyện đời là chuyện gian díu trai gái, tôi mỉm cười thú nhận:
“Dạ, con quả tình chưa biết gì về chuyện đời.”
Cô trở nên dịu dàng:
“Tui trọng cậu vì chuyện đó. Cậu lo học hành không như thằng cháu tui.”
Sợ cô lại chê bai bạn tôi, tôi chặn lời cô:
“Cô giải thích cho con chuyện chuối đi.”
“Vì cậu chưa biết chuyện đời nên tui cũng chẳng biết phải giải thích ra răng, nói sỗ sàng minh bạch thì tui không thể nói. Nói chung là như ri, ông vua có nhiều bà quá không cách răng sống vợ chồng với hết các bà. Cho là ông vua có chừng bốn năm trăm người phụ nữ, làm răng ông có thể chung chăn gối với hết cả năm trăm bà mỗi đêm một bà? Mà cho dẫu mỗi đêm một bà thì cũng phải hai năm mới quay lại được từ đầu, chưa nói có bà vua yêu thích muốn gần gũi nhiều đêm hơn các bà khác.”
Tôi bắt đầu hiểu ra đôi chút vì ít nhiều tôi cũng hiểu thế nào là chuyện vợ chồng. cô nói tiếp:
“Có bà chỉ được vua chiếu cố một lần khi mới nhập cung rồi suốt đời chẳng được vua đoái hoài đến nữa. Có bà còn tệ hơn, nhập cung bốn năm năm vẫn chưa được kề cận mình rồng.”
Tôi trố mắt ngạc nhiên:
“Trời đất, rứa thì mấy lão vua đó tuyển vô làm chi.”
“Ác là chỗ đó, tuyển con người ta vô rồi nhốt đó chẳng làm chi cả.”
Chuyện kể Minh Mạng mỗi lần ngủ phải có năm bà hầu, một bà quạt, một bà ru, một bà đấm bóp, một bà gãi, và một bà dự phòng. Một lần, trong năm bà hầu vua có một bà nhập cung đã năm năm nhưng chưa một lần được vua gọi. Thấy vua ngủ yên, muốn bày tỏ lòng yêu thương vua, bà đó cúi xuống hôn lên trán vua. Đang ngủ, vua giật mình thét hỏi:
“Đứa nào cả gan hôn trán ta?”
Bà đó vội quì xuống lập cập tâu:
“Muôn tâu, tiện nữ được tuyển vô hầu Thánh Thượng đã năm năm hơn nhưng đây là lần đầu tiên được nhìn thấy mình rồng, tiện thiếp thương quá nên đã mạo muội vô lễ.”
Minh Mạng nghiêm sắc mặt:
“Tội mi không nặng lắm và mi cũng đáng thương nhưng pháp bất minh bất thành pháp.”
Minh Mạng ra lệnh chém đầu cung nữ cả gan hôn trán vua chỉ vì thèm được kề cận vua. Tôi hỏi cô:
“Nhưng trái chuối dài có chỗ đứng mô trong chuyện cô kể?”
Cô cười:
“Có ở chỗ cậu chưa biết chuyện đời. Các bà được vua gọi đến một hoặc vài lần đó đã biết chuyện đời, và dẫu không được tiếp tục họ vẫn là phụ nữ, vẫn có đòi hỏi của thân xác, phải không? Vậy họ giải quyết bằng cách nào, cậu nghĩ coi.”
Tôi như đang đi trong bóng đêm bỗng thấy ánh sáng mặt trời:
“Con hiểu rồi cô. Trái chuối dài….”
Bỗng đì đà đi đoàng pháo nổ. Giao thừa. Thành phố Huế bừng lên trong tiếng pháo và ánh pháo. Trong tiếng pháo lách tách đều đặn như bắp rang đột nhiên ầm lên tiếng pháo đại nghe như tiếng đại bác nổ giữa tràng tiếng súng liên thanh trên chiến trường. Pháo nổ rộn ràng khắp nơi từ trong đại nội ra đến các phố, từ Cầu Kho qua Tịnh Tâm, Canh Nông, qua cầu Bạch Hổ tới Kim Long, Phú xuân, chùa thiên Mụ, xuống các phố chính Trần Hưng Đạo, Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng, qua Gia Hội, xuống Bao Vinh, ngược lên vượt sông Hương và cầu Trường Tiền đến Vĩ Dạ, Hàng Đoác, vòng qua Dòng Chúa Cứu Thế, ngược lại lên Phủ Cam, Bến Ngự, một mặt qua dốc Nam Giao, lên núi Ngự Bình, lên ga Xe lửa, mặt khác qua cung An Định về đến An Cựu. Khắp Huế không nơi nào không nghe pháo nổ tưng bừng. Thành phố như bừng dậy sau thời gian ngủ yên trước Giao thừa. cô mỉm cười bảo tôi:
“Giao thừa, cậu vào lễ gia tiên với tui.”
Cô đốt trầm thắp nhang, vái rồi sụp lạy bàn thờ tổ tiên. Tôi chắp tay đứng sau cô cách chừng ba bốn bước chân. Sau khi vái lạy tổ tiên, cô chắp tay lâm râm khấn vái, mắt nhìn lên hàng bài vị là các khung gỗ đặt trên giá chạm long lân qui phụng được các tấm vải điều che khuất. Tôi biết đằng sau tấm vải là tên người đã khuất ghi bằng chữ Hán, chắc chắn là tên họ của cha mẹ cô, cha mẹ chồng, và chồng cô. Một hồi sau, cô quay lại tươi cười bảo tôi:
“Mừng tuổi cậu năm mới.”
Tôi kính trọng chúc lại cô năm mới nhiều sức khỏe và may mắn. cô ngoắt tay bảo tôi đến trước bàn thờ:
“Cậu lại đây tui đốt nhang cầu phước cho cậu. Cầu chúc cậu năm nay đại đăng khoa rồi tiểu đăng khoa.”
Tôi phì cười nhưng không dám cười lớn vì biết phong tục dạy ngày đầu năm không được nói lớn, không được cười to, không được nói lời xúi quẩy để tránh bị xúi quẩy cả năm. Người Huế kiêng cử nhiều điều trong các ngày đầu năm, gia đình càng lễ giáo kiêng cử lại càng nhiều. Không được mặc áo quần, treo màn, hoặc trải khăn bàn màu trắng vì là màu tang chế. Không được gây tiếng động làm động đất. Không được rầy la con cái hoặc người giúp việc sợ gia đình chào xáo quanh năm. Không được quét nhà sợ quét thần Tài ra khỏi nhà, nếu bất đắc dĩ phải dọn dẹp thì phải quét vào không được quét ra. Không được cho bất cứ ai lửa và nước sợ đưa hết may mắn cho người khác. Không được làm bể (vỡ) đồ đạc sợ cả năm gia đình sinh cãi cọ đổ vỡ. Không được ăn thịt vịt để cả năm khỏi ì à ì ạch như vịt. Không được ăn cua để khỏi nói ngang như cua. Không được ăn rùa để khỏi bị chậm lụt như rùa. Không được ăn trứng nhất là trứng lộn để khỏi bị số không khi làm bài trong trường hoặc thi cử. Về sau khi giao tiếp nhiều tôi mới biết hai món ăn người miền Nam không thể thiếu trong ba ngày Tết là canh khổ qua dồn thịt và thịt heo kho trứng nhưng con em họ nếu học giỏi vẫn không phải khổ quá và vẫn không bị điểm không. Tôi nghiêm trang thưa cô:
“Con cám ơn cô đã chúc con thi đậu, nhưng chuyện tiểu đăng khoa thì con không dám nhận vì còn phải học nhiều năm nữa thành tài may ra mới dám nghĩ đến.”
cô rút ví lấy một bao giấy đỏ lì xì tôi rồi nói:
“Cậu nói vậy thôi nhưng tui thấy mấy cô đến đây biết bao nhiêu cô mê cậu. cậu thuộc loại con nhà giàu học giỏi đàn hay hát ngọt lại thêm thơ văn lai láng, mấy con nhỏ đó không mê sao được.”
Tôi lảng sang chuyện khác:
“Cô nói chi lạ rứa, con còn nhỏ chưa nghĩ tới mấy chuyện đó, mấy cô đó chỉ đến chơi thôi.”
Cô xí một cái rồi nói:
“Đầu năm đầu tháng tui không nói bậy mô. cậu không chấm mấy cô đó nhưng mấy cô đó chấm cậu.”
Chỉ tay mời tôi đến căn phòng nhỏ cô và tôi thường uống trà sáng nào tôi không phải đi học sớm, cô bảo tôi:
“Cậu xuống đây, tui với cậu dùng chén trà khai Xuân.”
Mời tôi ngồi xuống chiếc ghế tôi thường ngồi, cô mở tủ lấy ra một bộ tách trà không phải là bộ cô pha trà thường ngày mà là một bộ đồ trà men xanh trông rất cổ kính. Thận trọng đặt bộ đồ trà lên chiếc bàn thấp quen thuộc, cô nhìn tôi nói:
“Đầu năm mới cái gì cũng phải mới.”
Tôi cười:
“Nhưng bộ này mô phải mới.”
Cô cười theo:
“Ý là không phải thứ quen dùng thường ngày. Bộ đồ trà ni là đồ cổ thời Minh quan Phủ tui để lại, họa hình Bát Tiên và hoa văn công, hạc, thiên nga, cậu nhìn kĩ mà xem.”
Quả thực, trên thành bình và thành chén men trắng nổi rõ các hình vẽ màu xanh sắc sảo theo nét cổ phong Trung Hoa. Tôi mỉm cười, buột miệng:
“Mừng Xuân mới nâng chung trà cổ.”
Cô cười:
“Cậu học văn chương có khác, mở miệng là đã xuất đối.”
Tôi cười bối rối:
“Dạ, con buột miệng nói rứa, có xuất đối chi mô cô.”
Không quan tâm đến lời tôi, cô lẩm nhẩm thành tiếng câu Mừng Xuân mới nâng chung trà cổ rồi mỉm cười nói:
“Tôi đối thế này, Tiễn Đông tàn thỉnh chén rượu tân. Chà, gượng lắm, không thoát như câu xuất của cậu, chén rượu tân thì ép quá vì chẳng biết rượu tân là rượu gì. Với lại ngay trong câu xuất của cậu cũng đã có đối, mới đối với cổ, tàn với tân khó mà đối chỉnh được.”
Tôi cười:
“Dạ, là rượu tân là rượu mới, rượu mới cất, phải không cô? Con khâm phục cô, bất ngờ mà cô đối như vậy là hay quá rồi, đúng là con nhà nói. Xuất đối dị, đối đối nan mà cô.”
Hình như để khỏa lấp mấy chữ con nhà nòi tôi buột miệng nói ra, cô vội mồi lò than nấu nước pha trà, chuyển ngay sang chuyện khác:
“Nước pha trà muốn ngon phải nấu bắng lửa than và nước phải là nước mưa để lắng lâu ngày.”
“Răng phải rứa cô?”
“Lửa than không cao không thấp, sức nóng lúc nào cũng đúng theo ý mình, không làm khét nước.”
Tôi gật đầu đồng ý:
“Dạ đúng rứa. Nhưng còn nước mưa lắng lâu ngày là cái chi?”
“Nước mưa là nước nhẹ từ trời rơi thẳng xuống không như nước giếng nước sông do nước mưa thấm xuống đất đem theo nhiều chất đất đọng lại mà thành. Hứng nước mưa rồi để yên cho lắng, khi pha trà chỉ hớt lấy hai phần bên trên để nấu.”
Không hiểu cô biết nước mưa hứng thẳng vị ngon ngọt hơn nước giếng nước sông là do nhận xét chủ quan của riêng cô, do cô học từ nhận xét của người khác, hay do quả thực cô biết nồng độ pH của nước mưa thấp hơn nước giếng nước sông. Nhưng quả thật trà cô pha hương vị thơm ngon hơn các chén trà tôi đã được thưởng thức qua. Không cần phải thuộc dòng dõi các mệ hoặc quan quyền, phần lớn gia đình trung lưu người Huế đều thưởng thức trà theo cách thức riêng của mỗi gia đình. Người sống cạnh hồ Sen chiều chiều bỏ một nhúm trà vào trong một đóa Sen chưa nở rộ, buộc túm lại để sáng sớm lấy ra pha trà. Người nhà có vườn Hồng bỏ vào đóa Hồng. Ngưởi khác nữa trồng trong chậu một khóm Lài khóm Sói hoặc ngoài vườn một cây Mộc Lan, mỗi lần pha trà ngắt vài hoa cho vào bình trà. cô thuộc về trường hợp sau; trong phòng khách nhỏ nơi cô và tôi đang ngồi, bên cạnh bàn uống trà là một chậu sành tráng men trồng một cây thân thẳng cao chừng sáu bảy tấc, dọc thân có những nụ hoa trắng nhỏ bằng hạt gạo rang nở mà cô bỏ vào bình khi pha trà. cô gọi nó là hoa Sói. Về sau khi tra cứu tôi thấy hình ảnh hoa Sói trên Internet không giống loại hoa Sói của cô. Hoa Sói tôi thấy trong Internet mọc thành dây cụm lại thành chùm ở đầu cành lá trong khi hoa Sói của cô hoa mọc bám vào dọc thân và cành cây. Có lẽ cây hoa của cô là một loại Mộc Quế chăng?
Mở tủ, cô thận trọng lấy ra một hộp trà Long Tnh mới, nhẹ nhàng mở giấy kính bọc ngoài và mở nắp hộp thiếc, thật nhẹ nhàng như thể cô sợ một tiếng động nhỏ cũng đủ gây động đất trước khi có người đến xông đất nhà cô. Cho một nhúm trà vào bình trà đã có sẵn mấy nụ hoa, cô thận trọng nhấc chiếc ấm đất nước đang sôi, khẽ khàng đổ một chút vào chiếc ống nhổ để cạnh chân chiếc bàn nhỏ cạnh bếp lò trước khi chế nước vào bình trà. cô nói:
“Muốn trà ngon, không nên chế liền nước đang sôi vào bình, phải chờ một chút cho nước êm xuống khỏi mùi khét.”
“Nhưng cô chế một chút vào ống nhổ để chi rứa?”
Cô mỉm cười:
“Chẳng để chi cả, chỉ để rửa sạch vòi ấm, lỡ có tro than bám vô.”
Tiếp tục chế nước sôi làm nóng bốn chiếc chén hột mít, cô châm thêm nước vào ấm đất rồi đặt lại trên lò. Tráng bốn chén hột mít, cô đổ nước đã tráng vào ống nhổ. Tiếp đến, cô quay lại tủ lấy ra một hộp bánh đậu xanh, bảo tôi:
“Cậu biết không, bánh đậu xanh Rồng Vàng này gốc ngoài Bắc đưa vào, vị ngọt mà không nồng, bột mịn tan ra trong miệng. Huế mình trước đây không có, chỉ mới có từ khi vua Bảo Đại thưởng thức, khen ngợi, và phong là bánh hoàng gia.”
Tôi không biết chuyện phong thành bánh hoàng gia đúng sai thế nào nhưng loại bánh này có bán ở tiệm Bảo Hiên Rồng Vàng ngay đầu đường Phan Bội Châu.
Châm trà từ bình trà ra một chén lớn gọi là chén Tống, cô nhấc ấm rót thêm nước sôi vào bình trà, châm thêm nước mưa vào ấm đất, và đặt ấm trở lại trên bếp than đã phủ tro cho bớt nóng. Rót trà từ chén Tống vào bốn chén hột mít, cô đẩy một chén về phía tôi:
“Mời cậu.”
(Còn tiếp)
Trần Hữu Thuần

Related Stories...