Lòng mẹ và Tình con

Chu Nguyễn

Hình ảnh người mẹ đối với dân tộc Việt Nam xem ra có mức sâu sắc, đậm đà và thiêng liêng đặc biệt so với nhiều sắc dân trên thế giới. Tại sao vậy? Dù chỉ là truyền thuyết như lịch sử ghi nhận, dân Việt do cùng một bà mẹ sinh thành. Bà mẹ vĩ đại này là Âu cơ như Đại nam quốc sử diễn ca ghi lại:
Lạc-long lại sánh Âu-ky.

Trăm trai điềm ứng hùng bi lạ dường.
Noãn-bào dù chuyện hoang-đường,
Ví-xem huyền-điểu sinh Thương khác gì?
Đến điều tan-hợp cũng kỳ,
Há vì thủy hỏa sinh-ly như lời,
Chia con sự cũng lạ đời,
Qui sơn, qui hải khác người biệt-ly.
Lạc-long về chốn Nam-thùy,
Âu-cơ sang nẻo Ba-vì Tản-viên.
Chủ-trương chọn một con hiền,
Sửa-sang việc nước nối lên ngôi rồng.

Từ bà mẹ thần tiên này chúng ta mới ghi tạc công ơn Hùng vương và tự hào là con Rồng cháu Lạc. Cũng từ gốc tích thần kỳ và tuyệt vời trên, chúng ta mới có những bậc nữ lưu anh hùng, mở đường cho việc giữ gìn giang sơn trước sự bành trường tàn bạo của sài lang… như Bà Trưng, bà Triệu, Hoàng thái hậu Ỷ Lan, Huyền Trân công chúa,… và biết bao hình tượng ghi dấu đức độ kiên trung của người phụ nữ trong lịch sử như Cô Giang, Cô Bắc và ở di tích Hòn vọng phu, Miếu nàng Trương…
Ngày 12 tháng 05, 2019, lại có dịp ghi nhớ công ơn của người mẹ. Theo tập tục Phương Tây Chủ nhật thứ nhì của tháng năm được chọn là Ngày Mẹ Hiền hay Ngày Từ Mẫu. Có thuyết cho rằng ngày này có nguồn gốc Hy lạp thời cổ do tục lệ thờ nữ thần địa mẫu Cybele. Tục lệ này lan tràn sang Tây phương và sau cuộc nội chiến ở Mỹ, một nhà tranh đấu cho hòa bình là Julia Ward Howe vào năm 1870 muốn hiệu triệu phụ nữ chống chiến tranh, đã viết bản Tuyên ngôn Ngày Người Mẹ (Mother’s Day Proclamation) và từ đó một ngày dành cho mẹ ra đời ở Bắc Mỹ.
Các nước Á Đông như Việt Nam và Trung Hoa xưa kia không có Ngày mẹ hiền vì người Á đông vốn trọng vai trò của cha mẹ nên ngày nào cũng là ngày từ mẫu, ngày từ phụ như nhà nho Lý Văn Phức đã viết trong Nhị thập tứ hiếu diễn ca:

Người tai mắt đứng trong thiên địa
Ai là không bác mẹ sinh thành?
Gương treo đất nghĩa trời kinh
Ở sao cho xứng chút tình làm con
Chữ hiếu niệm cho tròn một tiết
Thời suy ra trăm nết đều nên!

Công cha nghĩa mẹ nặng như nhau nhưng người mẹ gắn bó với đứa con, từ thuở mang thai cho tới lúc trưởng thành, hơn là người cha. Liên hệ tình cảm giữa mẹ-con cũng nặng hơn, đậm đà hơn so với tình phụ-tử vì thế trong văn chương, hình ảnh người mẹ được ghi tạc bằng những lời sắt son với những khúc ca trữ tình gây xúc động nhất. Trong văn chương cũ của ta chẳng mấy ai quên bài Văn tế lão mẫu của Bùi Viện, một nhà Nho duy tân thời Tự Đức. Còn trong văn chương mới, Lưu Trọng Lư nhớ mẹ, Vũ Hoàng Chương khóc mẹ và Hồ Dzếnh ca tụng từ mẫu, đã khiến biết bao kẻ đồng điệu cảm thông. Nhiều độc giả mong đợi những áng văn chương, không phải chỉ là những hoài niệm về công đức sinh thành khi mẹ đã qua đời, mà phô bày những tình cảm sống động gắn bó giữa mẹ và con. Về điểm này, còn đâu dễ tìm hơn trong thơ Xuân Quỳnh.
Ta hãy nghe nhà thơ Xuân Quỳnh, khi mang thai bé Quỳnh Thơ, đã tâm sự với đứa con trong bụng trong bài thơ viết vào một mùa xuân có tên là Con chả biết được đâu:

Mẹ đan tấm áo nhỏ

Bây giờ đang mùa xuân
Mẹ thêu vào chiếc khăn
Cái hoa và cái lá

Cỏ bờ đê rất lạ
Xanh như là chiêm bao
Kìa bãi ngô, bãi dâu
Thoáng tiếng cười đâu đó.

Mẹ đi trên hè phố
Nghe tiếng con đạp thầm
Mẹ nghĩ đến bàn chân
Và con đường tít tắp
Bỗng như lên tiếng hát
Từ màu mạ dưới đồng
Từ hạt cây trong rừng
Từ cánh buồm trên biển

Thường trong nhiều câu chuyện
Bố vẫn nhắc về con
Bố mới mua chiếc chăn
Dành riêng cho con đắp

Áo con bố đã giặt
Thơ con bố viết rồi
Các anh con hỏi hoài:
– Bao giờ sinh em bé?

Cả nhà mong con thế
Con chả biết được đâu
Mẹ ghi lại để sau
Lớn lên rồi con đọc

Nhan đề bài thơ, Con chả biết được đâu, nghe rất lạ. Hiển nhiên, thai nhi trong bụng sao biết và sao nghe được lòng mẹ!
Nhưng lạ mà quen vì đây là tâm sự thường thấy ở các bà me. Họ nói với con là nói với mình, là bày tỏ nguồn vui cũng như ưu tư của mình với những người thân thương xung quanh và nếu được ghi lại, cũng trở thành di chúc của mẹ gửi con sau này.
Hình ảnh bà mẹ hoài thai, trong lòng thường rộn rã niềm vui và tràn đày mộng tưởng. Trường hợp Xuân Quỳnh nguồn hạnh phúc càng tuôn trào, niềm hy vọng càng dâng cao. Cuộc tình thứ nhất của cô với một nhạc sĩ vĩ cầm đã thất bại cay đắng và vào năm 1973, ở tuổi 30 (cô sinh năm 1942) mới gặp Lưu Quang Vũ, kẻ đồng điệu và kết duyên với nhà thơ này. Hạt hạnh phúc nảy mầm, rồi đơm bông sau hai năm chung sống, người mẹ chuẩn bị chờ hoa xuân nở kết trái ngọt. Thời kỳ chuẩn bị tuy lặng lẽ bên ngoài nhưng trong lòng nôn nao biết mấy.
Lấy trí tưởng tượng làm kiểu, lấy cảm giác làm làm kích thước và dùng tấm lòng xuyên qua đôi tay bày tỏ nguồn hy vọng với mầm sống sắp chào đời, Xuân Quỳnh, như trăm ngàn bà mẹ hoài thai khác đã âm thầm và tỉ mỉ làm công việc đan áo, thêu khăn cho bé thơ tốt số:

Mẹ đan tấm áo nhỏ
Bây giờ đang mùa xuân
Mẹ thêu vào chiếc khăn
Cái hoa và cái lá…

Những sao lại chọn thêu hoa và thêu lá? Mùa xuân là mùa hy vọng, cây cối đâm chồi nảy lộc, lòng mong mỏi của mẹ về mầm sống trong lòng mình đã kết thành biểu tượng hoa và lá. Hoa, lá đang vươn lên tượng trưng cho sự sống, cho sự bình an. Một cách vô thức, Xuân Quỳnh, cũng như phần đông các bà mẹ khác ở miền Bắc trước sau 1975, đã chán cảnh chiến tranh vì lo con cái mình lại dấn thân vào cảnh “sinh Bắc tử Nam” như thế hệ mình để rồi phải khóc con như Lưu Trọng Lư vào tuổi già đã từng nhỏ lệ. Nguồn hy vọng thực đơn giản và nguồn vui thực thiêng liêng trong lòng đã hòa với cảnh vật xung quanh. Phải chăng “cảnh sắc là một trạng thái của tâm hồn” như Âu Tây thường nói, nên màu xanh, tiếng cười khởi từ thế giới bên ngoài đã thâm nhập vào tấm lòng mẹ, tạo thành một tâm trạng đặc biệt ở thai phụ, trộn giữa thực và mơ:

Cỏ bờ đê rất lạ
Xanh như là chiêm bao
Kìa bãi ngô, bãi dâu
Thoáng tiếng cười đâu đó.

Người mẹ đan áo cho con ngay từ lúc bé thơ chưa mở mắt chào đời và việc đường kim mũi chỉ cho con, vì con sẽ kéo dài suốt đời ngay cả lúc con khôn lớn. Chim non đã ra ràng, mang áo tặng người khác, về nhà đành dối mẹ “qua cầu gió bay.” Thế mới biết đường kim mũi chỉ trên áo con cụ thể tình mẫu tử và từ xưa tới nay không hề thay đổi. Ta hãy nghe nỗi lòng của Mạnh Giao đời Đường trong bài Du tử ngâm sau đây:

Từ mẫu thủ trung tuyến
Du tử thân thượng y
Lâm hành mật mật phùng
Ý khủng trì trì quy
Thùy ngôn thốn thảo tâm
Báo đắc tam xuân huy
Tạm dịch như sau:
Khúc ngâm du tử

Sợi chỉ tay hiền mẫu
Trên áo kẻ viễn hành
Lúc đi, may dày mũi
Ngày về, sợ không nhanh
Lòng cỏ muốn báo đáp
Nắng ba xuân khó thành!

Còn gì cảm động hơn cảm giác hết sức đơn giản nhưng lại gây ấn tượng sâu xa với người mẹ đang mang thai nhưng gần gũi với con người. Người mẹ không phải “thấy” đứa con đạp thầm trong bụng khi đi trên hè phố mà “nghe” được âm thanh này. “Nghe” ở đây đồng nghĩa với chữ cảm, mô tả cảm giác cụ thể, sống động, tế nhị và đặc thù chỉ một mình người mẹ mới nhận ra. Từ sự cảm nhận thần kỳ này người mẹ liên tưởng tới bàn chân son của bé, rồi tới bước chân của mình trên đường phố và tương lai đang chờ trước mặt. Từ đó hân hoan như sóng trào, tràn ra cảnh vật khiến vật vô tri hòa đồng với tâm trạng kẻ đang ước mơ. Vũ trụ khách quan tự nhiên như có hồn, tạo nhịp hoan ca, như phô màu tươi chào sự sống sắp ra đời.

BRA200258_local_728x90_A

Mẹ đi trên hè phố
Nghe tiếng con đạp thầm
Mẹ nghĩ đến bàn chân
Và con đường tít tắp
Bỗng như lên tiếng hát
Từ màu mạ dưới đồng
Từ hạt cây trong rừng
Từ cánh buồm trên biển

Tình yêu dành cho con giúp người mẹ liên tưởng tới người cha, một sự liên tưởng vì tiếp cận rất bình thường trong một gia đình hạnh phúc. Hạnh phúc tràn đầy vì đứa con ra đời sẽ được đón nhận trong những vòng tay thân yêu: Cha nôn nóng và chuẩn bị những việc nhỏ bé nhất nhưng chân tình nhất dành cho bé không kém gì mẹ, các anh của bé mong đợi em không khác gì cha mẹ:

Thường trong nhiều câu chuyện
Bố vẫn nhắc về con
Bố mới mua chiếc chăn
Dành riêng cho con đắp

Áo con bố đã giặt
Thơ con bố viết rồi
Các anh con hỏi hoài:
-Bao giờ sinh em bé?

Mười hai năm sau, vào lúc bé Quỳnh Thơ 13 tuổi, gia đình Lưu Quang Vũ-Xuân Quỳnh gặp tai nạn tại cầu Phú lương (Hải dương) vào ngày 29 tháng 8, 1988 và vợ chồng nhà thơ và đứa con út Quỳnh Thơ đã thiệt mạng.
Lòng mẹ, có nhạc sĩ đã so sánh “bao la như biển thái bình dạt dào Tình Mẹ tha thiết như giòng suối hiền ngọt ngào, Lời Mẹ êm ái như đồng lúa chiều rì rào…” đã thấm vào tâm tư người con.
Hình ảnh người mẹ được vẽ bằng những nét đẹp và trân trọng trong văn chương cũng như hội họa, ở âm nhạc cũng như trong điêu khắc và dưới trời Đông phương cũng như bên phương Tây.
Nguyên nhân nào thế? Phải chăng không nơi nào ghi dấu vết sâu đậm, vĩnh cửu và êm đềm về mẹ hiền bằng ở cõi lòng của mỗi con người chúng ta.
Trước thứ tình cảm vị tha và mối dây liên hệ thiêng liêng giữa mẹ và con, kẻ đa cảm, đa tài có thể biểu lộ sự xúc động qua những tác phẩm nghệ thuật bất hủ.
Mẹ hiền trước hết tượng trưng cho tình quê hương:

Chiều chiều ra đứng cửa sau
Ngó về quê mẹ ruột đau chín chiều.

Tại sao lại đau lòng khi hướng về quê mẹ? Phải chăng vì đó là nơi chúng ta cất tiếng khóc chào đời và hưởng tuần trăng mật đầu đời trong vòng tay mẹ hiền? Nguyễn Giang, một nhà thơ và một họa sĩ tiền chiến, trong những ngày ở Pháp, nỗi hoài hương canh cánh bên lòng vì ở nơi xa cách muôn trùng khói sóng có mẹ già tựa cửa chờ mong.
Một buổi chiều mùa thu, đối cảnh St Rémy de Provence, trông thấy đàn chim non ríu rít bên chim mẹ, tác giả Trời xanh thẳm đã xúc động viết những dòng tâm sự:

Ngắm chim rộn rã trăm âu yếm
Nhớ mẹ ngày đêm một tấm lòng.

Quả thực, bóng mẹ hiền thường tạo ấn tượng mãnh liệt mỗi khi ta quay nhìn lại dĩ vãng.
Khi trưởng thành lúc gặp nhiều sóng gió trên đường đời, thất bại trong cuộc sống, đau đớn trong cảnh ngộ và cô đơn trong tình cảm, không mấy ai không thì thầm hai tiếng “mẹ ơi”.
Lưu Trọng Lư mỗi khi “nắng mới hắt bên song,” lại để hồn quay về cái thuở lên mười với dáng mẹ hiền vô cùng thân thương.

Hình dáng me tôi chửa xóa mờ
Hãy còn mường tượng lúc vào ra
Nét cười đen nhánh sau tay áo
Trong ánh trưa hè, trước giậu thưa!

Nhà thơ Thanh Tịnh “hàng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc” lại nhớ tới ngày tựu trường và trong cái “buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh” hình bóng mẹ hiền dắt cậu bé làng Mỹ Lý tới trường lần đầu tiên lại xuất hiện trong tâm tư tác giả tập Quê mẹ.
Không phải chỉ ở tuổi đã ý thức được như Lưu Trọng Lư hay Thanh Tịnh ta mới cảm thấy bàn tay từ mẫu nâng niu ta, dìu dắt ta vào đời mà còn xa hơn nữa, ngay từ thuở trong nôi, chúng ta đã được hưởng ơn đức “như nước trong nguồn chảy ra” từ những lời ru của mẹ.
Ta hãy nghe nhà thơ Hồ Dzếnh viết những dòng làm mủi lòng ta mỗi khi nhớ mẹ:

Khi con còn ngủ trong thai
Cuống rau mẹ chắt đêm ngày thức ăn
Nôi êm nâng giấc con nằm
Sữa thơm mẹ lại vắt phần nuôi con
Bùn màu thắm nước nâu non
Biết bao nghĩa cả tình son với đời
Kiếp sau xin lại làm người

Để nghe non nước vọng lời mẹ ru!

Trong văn chương Việt Nam hiện đại, có lẽ chưa có tác giả viết nhiều về nhân vật người mẹ như Hồ Dzếnh. Ở Hồ Dzếnh, hình ảnh người mẹ Việt Nam được tô đậm bằng nét son và đóng khung vàng:

Cô gái Việt nam ơi
Nếu chữ hy sinh có ở đời
Tôi muốn nạm vàng muôn khổ cực
Cho lòng cô gái Việt Nam tươi

Ông đã dành tập thơ Quê ngoại để khắc họa chân dung Cô gái Việt Nam và Chân trời cũ để hồi tưởng tới mẹ hiền.
Nhà thơ mang hai dòng máu Hoa-Việt, đã chọn Việt Nam làm mảnh đất ông yêu thương và gắn bó nhất từ thuở cất tiếng khóc chào đời cho tới khi vĩnh viễn giã từ cõi thế vào năm 1991. Ở Hồ Dzếnh, quê mẹ đẹp, thân thương hơn và cụ thể hơn cả. Vì thế tâm trạng ông buồn vui theo vận nước thăng trầm. Ông đã gửi cảm xúc này trong tập thơ “Hoa xuân đất Việt.”
Còn quê cha của nhà thơ, tuy đẹp nhưng chỉ kết hợp bằng hình ảnh tưởng tượng thấp thoáng trong Đường thi, Tống từ và truyện cổ tích.
Nhà thơ gắn bó với quê ngoại vì ở đó có bà mẹ vĩ đại. Mẹ ông là “cô lái đò” trên sông Ghép, Thanh Hóa đã tình cờ vào “một buổi chiều mùa hè vàng rực” gặp một khách viễn phương người Quảng đông từ phương Bắc lưu lạc xuống phương Nam. Rồi mối tình nảy nở giữa hai tâm hồn, xóa mờ mọi dị biệt và họ trở thành đôi vợ chồng quê và xây dựng tổ ấm tại làng Ngọc Giáp.
Việt Nam đã cưu mang người lưu lạc và cô gái Việt đã hy sinh trọn đời cho kẻ giang hồ có nơi ngừng chân và cho bầy con trong đó có cậu bé Hà Triệu Anh. Hà Triệu Anh lớn lên làm nhà văn, làm thi sĩ với cái tên Hồ Dzếnh và mỗi khi cầm bút, ông viết nhiều về quê ngoại, về chân trời cũ nơi hình bóng của người mẹ bào trùm tất cả cảm xúc trong lòng. Người ta thường ví “công cha như núi Thái sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra” nhưng đối với Hồ Dzếnh, công ơn của người mẹ mới có thể ví như Non Thái, như Biển Thái vì đức hy sinh vô biên cho con cái.
Ta hãy nghe Hồ Dzếnh trong hồi ức về mẹ hiền đã kể lể cùng chúng ta:
“Quê mẹ tôi ở Trung kỳ. Nhà người – tôi không làm thơ đâu – ở bên kia một dòng sông nhỏ, êm kín với hai bờ lau xanh. Chính ở nơi này, lúc người mới mười lăm tuổi, thì một tình duyên đẹp đẽ gây nên sự gặp gỡ giữa hai người xa lạ. Mẹ tôi thường thuật lại cho tôi nghe cuộc nhân duyên ngày trước, thuật lại bằng một giọng rất thờ ơ, hình như cho sự kết hôn với ba tôi là một điều không đáng nói. Tôi lọt lòng năm mẹ tôi đã ngót bốn mươi tuổi, thế nghĩa là khi tôi biết tò mò hỏi đến chuyện tâm tình của người, thì người đã già. Câu hỏi luôn luôn của tôi là:
– Hả mẹ, mẹ lấy ba có xe ô tô đi đưa dâu không mẹ?
Mẹ tôi cười, một cái cười chua chát cực điểm:
– Có con ạ. Mẹ lấy ba con có những ba mươi chiếc ô tô kia!
Tuy nhỏ, tôi hiểu ngay đó là một lời than kín. Thực ra, mẹ tôi lấy chồng trong một hoàn cảnh túng thiếu hết sức. Ba tôi hồi ấy còn nghèo, như phần nhiều những người bạn cùng nước mới sang đây.
Ngày nhỏ, tôi yêu mẹ tôi một cách bịn rịn. Người chiều tôi, có lẽ vì người đoán thấy ở tôi một số phận thiếu êm vui. Tôi đòi gì là người cho. Tôi muốn gì là người chiều ý. Sự nâng niu ấy rõ rệt đến nỗi ba tôi thường phải kêu:
– Cứ chiều nó như thế, thì chưa biết nó hư ngày nào.
Câu nói ghẻ lạnh làm tôi tủi nhục, nhiều lần òa lên khóc. Mẹ tôi sợ tôi bị đòn, vẫn giấu tôi ra một nơi, ôm lấy tôi mà vuốt ve. Cứ thế, mỗi lần sự khắc khổ của người cha làm tôi đau đớn, thì một bàn tay âu yếm lại xoa dịu lòng tôi ngay. Tâm tình của trẻ con rất đơn sơ mà cũng rất phức tạp. Tôi làm nũng mẹ tôi luôn để thấy cái thú làm lành của người sau những cơn thịnh nộ. Tôi chạy nhảy cùng nhà, la hét cốt để mọi người biết tôi có quyền la hét, hay muốn làm gì thì làm. Năm lên tám, tôi cắp sách vào học tại một trường huyện. Nhà trường gần ngay chợ. Mẹ tôi, mỗi lần dọn hàng về, đều dừng lại trước cổng trường, đưa bánh cho tôi vào những giờ nghỉ. Có một lần mẹ tôi vô ý gọi to lên, giữa khi tôi đang ngồi trong lớp học.
– Con ơi, ra lấy bánh, mau!
Tôi giật mình nhìn ra thì thấy cái bánh giò đặt trên tay mẹ tôi, đưa qua hàng rào. Dưới nắng vàng vọt của buổi chiều hè, tôi nhận thấy mẹ tôi vui mừng một cách đáng thương. Một tay người giữ chiếc nón, còn tay kia thì run run. Người lách mình, cho khỏi bị gai ở hàng rào vướng. Quần áo người tiều tụy nhuộm ánh nắng xế chiều:
– Mau ra lấy bánh cho mẹ về, con!
Tôi đưa mắt nhìn thầy giáo rồi lại nhìn mẹ tôi. Sau cùng tôi đánh bạo lên xin phép:
– Thưa thầy, thầy cho con ra để mẹ con hỏi.
Thầy giáo tôi đương mãi xem quyển sách, gắt:
-Không đi đâu cả, ngồi đấy!
Nói xong, thầy bình tĩnh lẩm nhẩm: “C’est parfait! Parfait!”
Tôi về chỗ, đưa tay ra hiệu cho mẹ tôi ném bánh xuống đất, vì tôi không ra được.
Mẹ tôi không hiểu lại gọi to thêm. Lần này, thầy giáo ngoảnh mặt lên, nhìn ra ngoài rồi hỏi mẹ tôi muốn gì?
Tôi đứng ngay dậy thưa:
– Thưa thầy … mẹ con…
– Xin cho nghỉ à!
Tôi cuống lên, run run đáp:
– Thưa thầy, không ạ, mẹ con… mẹ con đưa bánh!
Thầy giáo tôi buông dài một tiếng “ôi chao” như hơi gió và bảo tôi:
– Cút ra ăn đi, rồi vào ngay, nghe không?
Tôi sung sướng suýt nhảy qua cửa sổ. Ra đến nơi, mẹ tôi hỏi:
– Sao lâu thế?
Tôi phụng phịu:
– Mẹ gọi to làm thầy giáo gắt. Từ rày có thấy con ra chơi mẹ hẵng đưa, còn không thì mẹ đem về cất vào ngăn kéo khóa lại kỹ cho con.
Mẹ tôi mỉm cười nhìn tôi – ôi! Cái mỉm cười của một người mẹ! – Người dặn mấy câu rồi quay đi. Chiếc bánh hôm ấy, tôi ăn một cách không ngon lành và hơi vội. Lúc tôi vừa ném lá xuống đất, thì tiếng trống bắt đầu báo giờ ra chơi.”
Truyện ngắn Lòng Mẹ in trong tập truyện Chân trời cũ còn ghi nhiều chi tiết cảm động khác về mẹ Hồ Dzếnh. Bà không thể tìm ra số tiền học quá lớn đóng cho con, tới ba bốn đồng bạc trong khi bà chỉ kiếm lời từng xu và tiền dành dụm bao lâu chỉ có mười quan tiền kẽm! Giải quyết sao đây nếu thiếu học phí con mình sẽ bị đuổi học? Bà mẹ chỉ biết khóc thầm và cuối cùng gom góp những quan tiền kẽm (chỉ lưu hành ngoài chợ quê) đựng trong thúng, kèm theo mấy đồng bạc tới lớp nộp tiền học cho con. Cậu bé Hà Triệu Anh tuy mừng rỡ nhưng không khỏi không đỏ mặt trước thầy và bạn, vì mẹ nộp tiền học cho mình bằng tiền kẽm! Cậu cũng mủi lòng vì sau đó mới viết những đồng bạc vun đắp cho tương lai mình, lại là tiền mẹ ăn cắp của một người thân. Bà đã cam chịu nhục nhã khi bị phát giác và việc này đã làm Hà Anh buồn lòng và đã ghi một vết thương trong tâm trí kẻ đa cảm.
Hồ Dzếnh khi đã thành danh, ở Hà nội, có lúc nhớ lại chuyện cũ đã buồn bã nhìn nhận nỗi đau ngày cũ vẫn còn ám ảnh ông:
“Câu chuyện trên đây theo tôi như một ám ảnh cực nhục…Nhiều năm đã rơi theo nhiều năm, và bây giờ trong những đêm ở Hà nội, cái thành phố chỉ quen tiêu bạc với hào, tôi vẫn rờn rợn nghe thấy âm thanh của mười quan tiền kêu lanh lảnh…”
Nhưng nhờ những kỷ niệm như trên, ông đã hiểu thấu được lòng mẹ: Bà mẹ vì con có thể làm bất cứ việc gì không quản vinh nhục và an nguy cho bản thân:
“Và đến ngày nay, tôi mới hiểu mẹ tôi hơn lúc nào hết, người con gái lái đò trên sông Ghép ngày xưa, người mẹ Việt Nam một cách dịu dàng và cao quý.”
Lòng con, với những kẻ mải mê trên đường công danh sự nghiệp như
Bùi Viện, Vũ Hoàng Chương…nhưng tới lúc mẹ hiền từ giã cõi đời đã giật mình tỉnh giấc mơ dài, nhỏ lệ khóc than hình bóng vĩ đại nhất trong đời mình trong các bài Văn tế lão mẫu và Tiếng gọi mẹ với những câu ai nghe cũng mủi lòng:
Ngôn ngữ trần gian túi rách
Đựng sao đầy hai tiếng “Mẹ ơi!”
Văn tự chiếc xe mòn xọc xạch
Đường sang cõi Mẹ ngàn trùng xa khơi!

Nhưng đã muộn vì chỉ còn là những lời “sám hối chạy trên môi:”
Gọi lên bằng máu
Tim rã rời
Chép ra bằng nước mắt
Lửa thiêu hố trũng lệ tan thành hơi…
Nơi đâu sâu thẳm gặp cao vời!
Mẹ còn hay đã mất?
Cao sâu đâu là nơi?
Tin hoa một sớm thơm đầy đất
Lòng cỏ ba xuân nát tới trời.

Chu Nguyễn

More Stories...