Thời Báo Vietnamese Newspaper

LỢI HAY HẠI KHI MUA TIMESHARES?

Tuấn Minh

Đây là một hình thức vừa đầu tư về địa ốc vừa đi kèm với thú vui du lịch tại những địa điểm nổi tiếng nên dễ thu hút sự chú ý của nhiều người khi nghĩ rằng mình có thể hưởng được nhiều ích lợi và tiết kiệm. Tuy nhiên, cũng giống như mọi thứ ở trên đời này, có những điều “thấy dzậy mà hổng phải dzậy”, hoặc nói theo ngôn ngữ phổ thông tại Hoa Kỳ là “the devil is in the details”, tức là chỉ khi nào đọc vào những chi tiết thì người ta mới thấy được những điều ma quỷ của nó. Mà trớ trêu thay, những chi tiết này lại thường được viết bằng những chữ li ti rất nhỏ, khó đọc, và do đó cũng thường không được chú ý đến nhiều trước khi khách hàng tiêu thụ chịu đồng ý ký tên vào giao kèo mua bán.

Chữ “Timeshares”, theo tên gọi được dịch sát từng chữ một có thể được hiểu là “có được một phần (share) thời gian (time) làm chủ một căn nhà nào đó” để sử dụng cho mục đích giải trí. Đại khái như cứ mỗi năm chúng ta quyết định du lịch một địa điểm nổi tiếng như Las Vegas, Florida hay Hawaii và phải bỏ tiền ra để thuê một phòng trong khách sạn trong một tuần lễ (thường là khá tốn kém), thì nay ta có thể quyết định mua dứt hẳn một tuần lễ để làm sở hữu chủ của căn phòng tại khách sạn đó.

Với hình thức này, chúng ta chỉ cần bỏ ra một số tiền tương đối khá lớn lúc ban đầu (có thể từ $15,000 đến $30,000), nhưng từ đó về sau là không phải trả thêm gì nữa, nhưng vẫn tiếp tục làm chủ căn phòng ở khách sạn đó suốt đời, tuy chỉ làm chủ trong thời gian một tuần lễ mỗi năm. Thời gian 51 tuần còn lại trong năm thì căn phòng này sẽ do những người khác làm chủ. (Nếu cần thì chúng ta cũng có thể bỏ thêm tiền ra để mua 2 hay 3 tuần).

Trên lý thuyết, điều này có vẻ như rất thực dụng và cũng tiết kiệm vì nó không buộc chúng ta phải sở hữu cùng lúc hai căn nhà toàn thời gian, một cái vừa là nhà chính để ở suốt năm, và căn nhà thứ hai chỉ dùng để du lịch hoặc nghỉ mát nên không có nhu cầu dùng thường xuyên nên sẽ rất phí phạm. Những văn phòng chuyên bán “timeshares” thường đánh đúng vào tâm lý của khách hàng là họ có thể làm chủ căn phòng của một toà chúng cư tại những địa điểm sang trọng và nổi tiếng nên năm nào cũng có thể đến nơi đây du lịch, nhưng chỉ phải trả số tiền nhỏ bằng 1/52 của giá nhà hay căn phòng đó.

Nhưng trong thực tế, sau khi đã mua “timeshares” xong, khách hàng cũng còn phải trả tiếp dài dài các món tiền khác như tiền thuế thổ trạch và tiền bảo hiểm nhà cửa, và nặng nhất là chi phí bảo trì, vì đây là những khu du lịch sang trọng nên các phòng và cả toà chúng cư đều được chăm sóc sạch sẽ hàng ngày giống như là khách sạn. Tiền thuế thổ trạch và tiền đóng bảo hiểm có thể được xem là vừa phải, không thay đổi gì nhiều, nhưng chi phí bảo trì mới là điều đáng ngại nhất vì thường là khá cao, khiến cho khách hàng thường cảm thấy mệt mỏi hết muốn chịu đựng nữa sau những năm đầu sở hữu “timeshares” và bắt đầu bớt hào hứng để tiếp tục trở lại địa điểm du lịch này hàng năm.
Để thu hút khách hàng chịu mua “timeshares”, các văn phòng tổ chức đứng bán luôn dựng lên những toà chúng cư to lớn, đẹp đẽ và sang trọng với những đại công ty nổi tiếng trong ngành du lịch như Disney, Hyatt, Marriott, Hilton và Wyndham đứng ra điều hành. Giá cả của nó dĩ nhiên cũng tuỳ theo nhiều yếu tố từ kích thước (một căn phòng studio cho đến một căn chúng cư 3 phòng ngủ), đến địa điểm là những thành phố nổi tiếng và tuỳ theo mùa (các tuần lễ vào mùa hè hay những dịp lễ lớn thường là mắc hơn các tuần lễ thường trong năm).
Vì đây là một khoản chi tiêu kiểu đầu tư với số tiền không nhỏ, nên các công ty bán “timeshares” cũng biết cách đưa ra lối chiêu dụ cho mua trả góp do bởi lối sống của đa số dân Mỹ thường là sẵn sàng thích mang nợ. Tuy nhiên, phân lời của việc mua “timeshares” (khoảng 15%) bao giờ cũng cao hơn rất nhiều so với phân lời mua nhà bình thường để ở (vào khoảng 4% như hiện nay).

Để thu hút khách hàng, các công ty bán “timeshares” cũng đưa ra những lối chiêu dụ khác: thay vì sở hữu một tuần lễ cố định nào đó trong năm, khách hàng có thể mua loại không cố định, tức là có quyền lựa chọn một tuần lễ nào trong năm cũng được, miễn là khi ghi tên lựa chọn thì căn phòng đó chưa có người khác đã lựa, thường quen gọi là “first-come, first-served”. Dĩ nhiên, theo kiểu “nhanh tay thì còn” này thì khách hàng phải quyết định càng sớm càng tốt, bằng không đợi đến cận ngày đi nghỉ mát mới quyết định ghi tên lựa chọn thì cơ hội càng ít hơn.

Ngoài ra, cũng để lôi cuốn thêm, các công ty cũng đưa ra một hình thức thu hút khác là cho phép khách hàng có quyền trao đổi địa điểm của mình với những nơi khác, chẳng hạn như một người sở hữu một căn phòng ở Las Vegas đổi sang một căn phòng ở Florida; hoặc là từ Paris đổi sang New York hay nhiều thành phố du lịch khác tuỳ theo ý thích của mình thay đổi theo thời gian. Dĩ nhiên, những người nào sở hữu những địa điểm nổi danh hơn thì càng dễ dàng trong việc trao đổi với những địa điểm ít nổi tiếng hơn.

Các công ty rao bán này thường khoe với khách hàng rằng họ nằm trong những tổ chức trao đổi lớn như RCI hoặc Interval International, với hàng ngàn địa điểm tại hầu hết các thành phố lớn nhỏ trên thế giới. Tuy nhiên, trong thực tế, việc trao đổi này không phải lúc nào cũng dễ dàng và suôn sẻ như lời giới thiệu lúc ban đầu, vì nó đòi hỏi những thủ tục ghi danh để biết xem là có được chấp thuận hay không, chưa kể là phải đóng thêm lệ phí giấy tờ mỗi khi làm thủ tục xin trao đổi như vậy. Điều này coi như đã gián tiếp bó tay khách hàng trong việc quyết định lựa nơi du lịch, không dễ dàng như khi mình lựa chọn khách sạn để ở, thường là có rất nhiều cơ hội rộng rãi hơn.
Nói chung, các công ty bán “timeshares” thường bỏ ra nhiều công sức và thời giờ để chiêu dụ khách hàng với nhiều hình thức quảng cáo câu khách rất hấp dẫn. Họ có thể gửi tới nhà những lá thư mời gọi khách hàng đến thử những khách sạn tại những địa điểm sang trọng và mắc tiền với những chi phí rất thấp. Chẳng hạn như họ chiêu dụ khách hàng đến chơi thử một địa điểm sang trọng với 3 ngày/2 đêm với giá chỉ có $149 (trong khi giá tiền một đêm tại những nơi này lên đến hơn $200). Sau đó, còn tặng thêm khách hàng một phiếu trị giá $100 để tiêu thụ trong thời gian cư ngụ, hoặc là hai vé đi xem những “shows” ca nhạc nổi tiếng như tại Las Vegas cùng với phiếu cho bữa ăn tối v.v…
Nói chung, trị giá của những món tiền tặng thưởng để chiêu dụ này có thể lên đến $500 nhưng khách hàng chỉ phải trả một số tiền tương đối thấp hơn nhiều (chỉ có $149). Nhưng điều kiện họ đòi hỏi là khách hàng phải chịu ngồi nghe họ trình bày về kế hoạch quảng cáo (kéo dài từ 90 phút đến 2 tiếng đồng hồ) để từ đó các nhân viên của họ sẽ dùng đủ mọi mánh khoé chiêu dụ sắc sảo để câu khách chịu đồng ý ký tên vào hợp đồng. Và những phần thưởng đó chỉ được trao trả cho khách hàng sau khi đã chịu tham dự suốt buổi giới thiệu và quảng cáo của công ty. Những nhân viên này đã được huấn luyện rất nhuần nhuyễn để có thể thích ứng và đối phó với đủ mọi tình huống cũng như những lời từ chối khéo của khách hàng.

Do vậy, những người nào không quen với hình thức chiêu dụ này sẽ cảm thấy bị áp lực nặng và khá căng thẳng khi muốn từ chối. Tuy nhiên, cũng có điều đáng khen là hầu hết tất cả các nhân viên và công ty bán “timeshares” đều hành xử rất đàng hoàng, cho dù khách hàng có quyết định mua hay từ chối. Và họ vẫn luôn trao cho khách hàng đầy đủ các khoản thưởng như đã hứa lúc ban đầu cho dù khách hàng từ chối không muốn mua “timeshares”.

Theo kinh nghiệm riêng của người viết với nhiều lần tham dự các chương trình quảng cáo “timeshares” để đánh giá mức độ chiêu dụ của nhân viên tinh vi đến mức nào, cũng như để tận hưởng những phần thưởng đáng giá được đưa ra, thái độ lịch sự của nhân viên khi đồng ý trao đầy đủ các phần thưởng như đã hứa dù khách hàng không muốn mua thật ra cũng nằm trong chính sách gây cảm tình với khách hàng để nghĩ rằng công ty này làm ăn có uy tín.

Sau khi bạn đã nhất quyết từ chối tất cả các lời mời gọi và giảm giá, nhân viên sẽ nói lời cám ơn và làm thủ tục để trao lại các khoản tiền thưởng như đã hứa. Một vị sếp (manager) sẽ đến ký nhận thủ tục, và hỏi lại rằng cuộc nói chuyện có vui vẻ, tốt đẹp hay không, nhân viên có nói điều gì làm khách hàng phật ý hay không v.v… Trong lúc khách hàng bắt đầu có cảm tình với lối nói chuyện có vẻ rất lịch sự và nhã nhặn này, vị sếp này sẽ lên tiếng cám ơn khách hàng đã bỏ thì giờ đến tham dự. Và để bày tỏ lòng biết ơn này, người sếp này muốn làm vừa lòng khách hàng, đó là sẽ hạ giá xuống thấp hơn nhiều so với giá tiền mà người nhân viên trước đó đã hạ xuống. Vị sếp này sẽ giải thích rằng chỉ có ông hay bà ta mới có thẩm quyền đó với chức vụ sếp, và điều này cũng chỉ là một cách thức để làm vui lòng khách hàng. Một số khách hàng trước đó có vẻ đắn đo hay ngần ngại về giá cả có thể sẽ hài lòng với lời chào hạ giá mới này, và quyết định ngồi xuống để nghe tiếp. Trong nhiều trường hợp, cái giá hạ xuống này cũng khá tốt khiến cho khách hàng đỡ được nhiều tiền.
Vì đã có chủ ý nên người viết bao giờ cũng từ chối luôn lời mời hạ giá này, khiến cho vị sếp cũng lên tiếng cám ơn và đưa hai vợ chồng sang phòng kế bên để ngồi chờ lãnh khoản phần thưởng. Trong lúc đang ngồi suy tính nhẩm trong đầu về sự sai biệt giá cả giữa con số được nhân viên đưa ra lúc ban đầu so với giá tiền của người sếp đề ra (sau khi đã từ chối lời mời của người nhân viên), một vị sếp khác sẽ tới ký giấy để lãnh phần thưởng và trò chuyện thêm dăm ba câu hỏi.

Người này có vẻ rất lịch sự, có kiến thức rộng rãi và hỏi vài chuyện thông thường, không liên quan gì đến chuyện mua bán và có vẻ như quan tâm đến sinh hoạt hoặc thú vui của khách hàng. Rồi trước khi cáo từ, người sếp này đột nhiên lên tiếng xin phép khách hàng là cho ông ta làm một nghĩa cử thân thiện: đó là biếu không cho khách hàng một tuần lễ nghỉ mát tại một địa điểm sang trọng như ở Hawaii (với giá mỗi đêm ở khách sạn không dưới $200) có thể được lựa chọn bất cứ lúc nào trong năm tới, và chỉ cần đóng tiền lệ phí bảo trì (khoảng $700). Mục đích của họ là muốn gây ấn tượng tốt lâu dài đối với khách hàng đối với công ty của họ. Khi tính nhẩm trong đầu, số tiền lệ phí này quả thật còn rẻ hơn là tiền thuê khách sạn cho 1 tuần lễ tại những nơi sang trọng ở Hawaii. Tuy nhiên, kẻ này vẫn quyết định từ chối dù rằng rất ngạc nhiên trước sự xuống giá kinh khủng như vậy so với những bảng giá đưa ra lúc ban đầu. Thế mới biết là cho dù được bán với những giá rất hời, các công ty này vẫn không sợ lỗ vì khi chiêu dụ được khách hàng chịu đồng ý mua, coi như họ đã kéo thêm được một khách hàng góp phần vào ngân quỹ điều hành của cả toà chúng cư mà họ đang muốn rao bán.

Khi tìm hiểu thêm vấn đề, chúng ta có thể biết thêm rằng nếu muốn mua “timeshares”, mọi người cũng có thể mua lại từ những người chủ trước, giờ đây đã hết còn hứng thú để tiếp tục sở hữu những căn phòng này. Trong rất nhiều trường hợp, các vụ bán lại này rất khó khăn, nên người chủ thường sẵn sàng bán lại các căn “timeshares” này với giá rất rẻ, có thể chỉ còn phân nửa hoặc 1/3 giá mua lúc ban đầu. Nếu muốn mua lại từ các chủ cũ, khách hàng có thể lên các trang mạng chuyên môn như www.redweek.com, www.vacatia.com, Timesharing Today và Timeshare Users Group.

Nói tóm lại, việc mua “timeshares” là một hình thức bỏ tiền ra cho mục đích du lịch hoặc nghỉ mát bớt tốn kém hơn nhiều so với việc mua luôn một căn nhà thứ hai cho mục đích nghỉ mát. Nó cho phép chúng ta có được những lợi ích về lựa chọn những địa điểm và thời gian khác nhau. Tuy nhiên, đừng nên nghĩ rằng đó là một hình thức đầu tư như lời quảng cáo của các nhân viên. Bởi vì các căn nhà mua theo kiểu “timeshares” thường là không có tăng giá trị theo thời gian, phần lớn là vì những chi phí bảo trì của nó cứ gia tăng. Giá trị của hình thức “timeshares” có lẽ chỉ nằm ở chỗ nếu khách hàng thích sử dụng các địa điểm du lịch hoặc nghỉ mát này, và nếu như khách hàng may mắn bán được nó sau này khi đã hết còn thú vui du lịch đây đó.

Tuấn Minh

Comments are closed.

error: Content is protected !!