Linh mục Ân Đức: Từ phu xe xích lô trở thành nhạc sĩ

Trong đêm hội diễn Thánh nhạc Linh mục Ân Đức, được tổ chức ở Giáo xứ St Rose Of Lima, hôm 05/08, Đức Cha Vincent Nguyễn Mạnh Hiếu nhận định về thánh nhạc của linh mục Ân Đức: “Nét đặc trưng thánh ca Ân Đức là lời cầu nguyện qua tiếng hát, với ca từ là những bài thơ, và phảng phất âm hưởng của làn điệu dân ca rất quen thuộc”.
Cha Ân Đức thừa hưởng năng khiếu về âm nhạc nơi người cha và người mẹ thích ca hát, tuy sáng tác nhiều nhưng hành trình vào lãnh vực thánh ca của vị tu sĩ này nhiều chông gai.
“Tôi là con thứ 3 trong một gia đình đông anh em gồm 8 trai, 3 gái, sinh quán tại huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Hồi còn thơ ấu, tôi là một đứa trẻ ốm yếu èo uột, và chẳng có chi nổi bật trên đường học vấn. Hết bậc tiểu học, tôi vào tiểu chủng viện thừa sai Kontum. Suốt 7 năm trong chủng viện, tôi chỉ là một chú chủng sinh nhút nhát, khuất chìm, duy chỉ khuynh hướng âm nhạc xem ra bắt đầu lộ diện. Mùa hè năm 1973 tôi xin ra khỏi chủng viện vì cảm thấy ơn kêu gọi này không hợp với tôi, vốn mang nặng mặc cảm về sức khoẻ và học hành yếu kém cộng với bản tính chậm chạp, khù khờ, thích tĩnh lặng một mình”, linh mục Ân Đức cho biết.
Năm 20 tuổi, Cha Ân Đức tên thật là Trần Ngọc Hoan, đứng trước ngã ba đường của cuộc đời, phải chọn lựa hướng đi: “Một là ở ngoài đời, với mơ ước được phát triển khả năng âm nhạc, nhưng đối với tôi quả không dễ dàng, vì nhà nghèo làm sao dám mơ vào trường Quốc gia Âm nhạc Sài gòn, trong khi chưa hề thấy đàn piano hay violon, chỉ tự học nhạc qua cây đàn mandoline và guitar. Đàng khác tôi lại suy nghĩ cho dầu sau này trở thành nhạc sĩ cùng lắm cũng chỉ bằng Phạm Duy và Trịnh Công Sơn. Trước mắt tôi mở ra một con đường may ra thích hợp, đó là đi tu dòng Phanxicô mà tôi rất ngưỡng mộ vị thánh nghèo mà nghệ sĩ, hoặc xin vào một dòng khổ tu nào đó để chôn vùi cuộc đời mình trong bốn bức tường, như “con chim ẩn mình”. Sau bao lần trăn trở tìm kiếm, tôi gõ cửa dòng Phanxicô Đakao, nhưng bị từ chối, tôi quyết định dứt khoát xin vào tu dòng Phước Sơn năm 1974. Những tưởng cuộc đời tôi sẽ an thân an phận trong đan viện khổ tu Phước Sơn cho đến lúc lìa đời, những tưởng đời mình sẽ tránh khỏi bao nhiêu dông tố bão bùng, những tưởng tôi sẽ được làm một thầy dòng ẩn tu đúng nghĩa, không tham vọng làm linh mục, và cũng không mơ ước sẽ được học nhạc để làm nhạc sĩ”.
Năm 1975, Cộng sản cưỡng chiếm miền Nam, Sài Gòn thất thủ. Năm 1978, Dòng Phước Sơn cùng với các Dòng La Salle Mossard, Đa Minh học viện, Dòng Chúa Cứu Thế và Dòng Don Bosco ở Thủ Đức bị nhà cầm quyền Hà Nội tịch thu. Cuộc đời tu sinh Ân Đức từ đó gắn liền với vận nước điêu linh.
“Khoảng thời gian đáng nhớ nhất trong cuộc đời của tôi là từ năm 1978 đến 1993, phải bôn ba lao động, sống đời xa lạ với tu hành”, Cha Ân Đức nói.
Sau khi trưng dụng tu viện, Cộng sản đưa các tu sinh và linh mục dòng Phước Sơn vào giam ở trại tù Phan Đăng Lưu trong 3 tháng.
Như bao người dân miền Nam lúc bấy giờ, tu sinh Ân Đức, sau khi được phóng thích đã trở về sống trong một nhà tù rộng lớn hơn, và mưu sinh bằng chiếc xích lô rong ruổi trên khắp đường phố Sàigòn trong 6 tháng.
15 năm khổ sai ở nông trường
Mười lăm năm sau đó, Cha Ân Đức cùng các linh mục, tu sĩ nhiều Dòng tu khác bị ép buộc phải đi lao động trên Nông trường Phạm Văn Cội II, Củ Chi.
Để lùa dân miền Nam đi vùng kinh tế mới, trong thời gian này, Cộng sản ca tụng “Đường về nông trường là đường vào quê hương”… nhưng trên thực tế con đường này vô cùng khắc nghiệt.
Tuy nhiên, 15 năm gian nan, khổ cực này cũng là thời gian mang đến cho Cha Ân Đức nhiều chất liệu sống, làm nền cho việc sáng tác thánh ca.
“Những tháng ngày ở nông trường, cùng với mọi người lao động chân tay để sinh sống là giai đoạn thử thách và tôi nhận thức rằng đời tu hành là phải sống vì tha nhân không chỉ gói gọn trong nhà dòng”, Cha Ân Đức nói.
Chính trong môi trường khổ sai này, Cha Ân Đức đã sáng tác những ca khúc nổi tiếng: Dấu ấn tình yêu, Tình khúc, Ngài có đó, Khúc hát một loài hoa, Chúa là cây nho, Ngọn đèn dâng hiến và một loạt những ca khúc được dệt từ ý tưởng của thi hào Rabindranath Tagore.
Ngày 12 tháng 4 năm 1980, Cha Ân Đức tuyên khấn trọn đời theo Chúa. Trong suốt thời gian ở Nông trường Phạm Văn Cội II, linh mục Ân Đức, học chui Triết và Thần học.
Tuy học thì ít, cày cuốc thì nhiều, nhưng năm 1980, thầy Ân Đức cũng cố gắng theo học các khóa nhạc ngắn hạn tại Sài Gòn như: Ký xướng âm với các nhạc sĩ Hùng Lân, Xuân Thảo, Phạm Đức Huyến, Hòa âm và sáng tác với nhạc sĩ Viết Chung, đàn tranh với cô Thùy Dương, Hòa âm, đối âm, Phối khí, Hình thể thánh ca với linh mục nhạc sư Tiến Dũng.
Ngày 6 tháng 9 năm 1997, thầy Ân Đức mới được thụ phong linh mục khi đã 44 tuổi. Tính từ khi bước vào tiểu chủng viện thừa sai Kontum đến khi mặc chiếc áo linh mục dòng Phước Sơn, Cha Ân Đức đã đi qua một đoạn đường dài hơn 30 năm, tu hành nhưng vẫn phải “lao động là vinh quang”, theo chính sách đàn áp tôn giáo của Cộng sản vào thập niên 70, 80 và 90.
Từ năm 1974 đến nay, đan sĩ Ân Đức đã thực hiện 10 CD mang tên “Dấu ấn tình yêu” và một tuyển tập nhạc Thánh ca. Linh mục Ân Đức cho biết sẽ ra mắt 2 CD “Dạ khúc nguyệt cầu” và “Cầu nguyện cho người qua đời” nhân dịp Lễ Các Thánh vào tháng 11.
Thánh nhạc là lời cầu nguyện và cầu nguyện là phần quan trọng trong đời sống thánh hiến của một linh mục, và đó là lý do thúc đẩy Cha Ân Đức không ngừng sáng tác thánh ca cho nhu cầu phụng vụ.
VPY

 

More Stories...