Thời Báo Vietnamese Newspaper

Làng nổi La Ngà

Bài – ảnh: Trần Công Nhung

Trên đường đi Nha Trang chúng tôi ghé La Ngà để thăm Làng nổi. Khởi hành từ Sài Gòn lúc sáng sớm bằng chiếc Renault thùng. Loại xe Truck nhỏ, người Pháp dùng chạy đưa thư. Mặt trời chưa lên mà đường sá đã nghẹt xe cộ. Xe đạp, xe gắn máy đã đông lại chạy ẩu. Tôi cố thích nghi hòa nhập với nhịp sống của Sài Gòn hôm nay, song vẫn hồi hộp mỗi khi xe qua ngã tư. Xe đạp chạy ngang chạy dọc tùy tiện, dường như họ khoán trách nhiệm an toàn cho xe hơi.
Qua Dakao, chú em tấp vào một hàng quít bên đường:
– Quýt nhiêu chục?
– Dạ năm ngàn.
– Dữ dậy mẹ?
– Dạ nói thiệt anh, bốn ngàn rưỡi, quít đường mà anh.
– Thì quít đường chớ quít chợ đâu đây, bốn ngàn chịu hôn.
Chị bán quít thấy bị chọc, cười năn nỉ:
– Mua giùm em, đâu cũng dậy hà.
Tôi giục:
– Thôi lấy đại hai chục đi kẻo muộn.
Xe ra xa lộ, chạy thoải mái hơn. Tuy nhiên thấy xe gắn máy qua mặt xe hơi tôi cũng giật mình. Ở Mỹ dân dao búa lạng lách không thiếu gì, nhưng có chỗ có nơi chứ không loạn xạ trên đường như ở Sài Gòn. Hai bên xa Lộ Sài Gòn – Biên Hòa, nhà cửa hàng quán đã mọc lên san sát. Qua khỏi ngã ba Vũng Tàu, tôi thấy nhiều cơ sở cây cảnh và non bộ. Tương tự như những cơ sở non bộ dọc quốc lộ 14 về Long An, nhiều hòn non cao trên 3m, trông rất vĩ đại. Từ đây qua Biên Hòa, Hố Nai ra Long Khánh không có gì thay đổi mấy. Rừng cao su vẫn hàng hàng lớp lớp chạy dài hun hút. Không thấy công nhân lấy mủ. Ðến ngã ba Dầu Giây xe rẽ qua đường đi Ðà Lạt. Khoảng 10 giờ, chúng tôi đến La Ngà. Trước kia cũng đã có lần đi qua đây nhưng tôi không để ý đến cảnh trí, nay lạ như mới thấy lần đầu. Xe vừa lên cầu thì ngay giữa giòng sông bên trái, một làng nổi, nối kết bằng nhiều mái nhà tôn trắng loáng, nước mấp mé sàn nhà.
Tôi bảo “tài xế”:
– Chạy từ từ, cứ qua bên kia cầu, xem chỗ nào hay thì dừng.
Mấy chiếc xe du lịch cũng đỗ cho khách xuống ngắm cảnh, chụp hình. Ða số là người ngoại quốc, họ dùng máy Point and shoot, nhẹ và nhanh. Chúng tôi thì khệ nệ chân cẳng, vai mang ba- lô, cứ như lính đánh trận. Ai cũng đi ngược lại đầu cầu bên kia. Du khách xúm nhau đoạn giữa cầu bấm máy một cách thích thú. Họ chỉ trỏ trao đổi về cảnh Làng nổi. Ðối với dân làng, đây là phương cách sinh sống. Nhà làm vật liệu nhẹ trên bè nổi, bè kết bằng nhiều thùng phuy. Trên ở dưới nuôi cá. Trông xa rất thơ mộng, đúng là “kiếp sống bồng bềnh”. Nhà nọ nối tiếp nhà kia, vẽ một đường cong theo giòng sông. Từ trên cầu nhìn Làng nổi như con Bạch Long đang phơi mình dưới nắng. Rải rác cũng có một đôi nhà đứng riêng. Những chiếc đò hoặc xuồng nan đưa người vào ra. Sinh hoạt của dân làng tập trung phía tả ngạn. Một ngôi chợ nhỏ chừng mươi sạp hàng họp ngay bến bãi. Dòng sông êm đềm, đời sống tĩnh lặng, tưởng như thứ gì cũng chậm lại. Vì thế mà du khách cứ nhởn nhơ. Anh lơ xe lẽo đẽo theo mấy khách ngoại quốc năn nỉ: “Xó ri” anh vừa nói vừa chỉ tay về hướng xe đỗ.
Du khách chẳng để ý “xó ri xó rứa” của anh lơ, cứ chụp hình thoải mái. Mà cảnh đẹp thật. Vẻ đẹp mong manh bé bỏng giữa trời nước bao la. Ðẹp như tranh vẽ, không dừng chân lại còn đi đâu! Một cô rất “mi nhon” người Hoa quay sang hỏi tôi:
– Ông à, họ ở như thế không sợ bị lụt sao?
– Không bao giờ có lụt.
– Ðúng vậy sao? Ở đây không mưa? Nước nguồn không xuống?
– Có chứ, mùa mưa nước lũ dâng ngập bờ (tôi nói bừa chứ đã thấy bao giờ đâu).
– Thế mà không ngập nhà?
– Nước lên, nhà lên theo làm sao ngập.
Tôi giải thích thêm về cấu trúc Làng nổi cho cô du khách, cô tỏ vẻ thích thú nhưng lại hỏi vặn:
– Nhà không bị ngập nhưng sẽ bị trôi, tôi nghĩ, mùa lũ, nước chảy mạnh lắm.
– Bởi thế người ta mới kết nhà nọ với nhà kia thành hàng dài, cô không thấy sao?
– À ha.
Tuy đã à ha, cô vẫn chưa tha cho tôi:
– Thế những nhà đứng riêng một mình?
Ðã đến lúc phải dứt điểm, tôi nói như thật:
– Ðấy là những nhà thích mạo hiểm.
Nói xong, tôi vác máy chuyển qua chỗ khác.
Ðứng bên đầu cầu hữu ngạn có nhiều góc độ chụp ảnh hay hơn, có thể chia cảnh ra nhiều mảng. Thỉnh thoảng một con đò đưa trẻ đi học về, đò chèo mà như thả trôi, không thấy khuấy nước, cảnh nhẹ nhàng thanh thoát. Bên kia là bến chợ, xô bồ trần tục hơn. Ngay trên ngọn đồi nhìn xuống chợ, một đài liệt sĩsừng sửng uy nghiêm nhưng lạc điệu, khó đưa vào ảnh, vì không tài nào tìm được nét hài hòa giữa một công trình nhân tạo với cái thi vị của Làng Nổi La Ngà. Cũng như tại bãi biển Nha Trang, tự nhiên dựng một đài liệt sĩ (1) chẳng ăn nhập vào đâu cả. Lăng tẩm, mồ mả nên đưa vào nơi thanh vắng, đồi núi, xa chốn thị thành mới hiển lộ vẻ linh thiêng, nằm ngay giữa chợ thì làm sao hồn thiêng thoát được bụi trần.
Về lại bên kia cầu tôi lần xuống bến. Có lẽ vì điều kiện sinh hoạt của dân chài nên nơi nàođời sống họ cũng na ná nhau. Xóm Cồn, Cửa Bé (Nha Trang) cũng như ở đây, trông nhếch nhác luộm thuộm mà xem ra họ lại rất hài lòng. Tôi nghĩ, khó đưa ngư dân vào một nếp sống ngăn nắp. Chú em tôi dường như đã thấm mệt, tuy là dân làm phim nhưng làm theo cung cách trưởng giả chứ không theo kiểu lùng sục như tôi.
Hồi còn bên nhà, có lần tôi “chỉ điểm” cho đoàn phim đi lấy ngoại cảnh ở Nha Trang: “Cảnh đoàn tàu hỏa ngoằn ngoèo qua một cánh đồng”. Tôi đưa đoàn gồm có đạo diễn, cameraman và người em lên đèo Rù Rì đón tàu vô hầm, tàu vòng vèo qua đoạn bờ biển cong cong ở Lương Sơn. Sau đó chạy thẳng ra đèo Bánh Ít, đón tàu phăng phăng qua cánh đồng Phú Hữu. Từ dưới cánh đồng tài xế thấy trên đỉnh đèo Cameraman đang chỉa máy xuống nên cao hứng cho tàu hú mấy tiếng, phun ra mấy đụn khói đen, lại còn bật đèn. Đạo diễn khoái quá khen:
– Thằng cha tài xế này điệu quá ta.
Công việc chỉ một buổi nhưng trong giấy công vụ ghi 7 ngày. Ðiều đó bình thường, không phải lúc nào cũng trả giá việc làm theo thời gian. Ðơn giản chỉ có thế nhưng ai cũng kêu mệt cần xã hơi. Bia bọt vào là khỏe.
– Ði chưa anh Ba?
Dù còn hăng, tôi cũng phải tạm dừng. Ðoạn đường ra Phan Thiết còn xa.
– Xong rồi, đi kiếm cái gì ăn trưa.
– Em có thằng bạn quen, chủ quán thịt rừng phía bên kia cầu.
– Hay đấy. Thử xem.
Lui lại một đoạn, quán Thịt Rừng La Ngà nằm ngay bên đường. Khách một bàn dài phía trong. Ngồi vào ghế tôi mới thấy trời nóng, có đến 90 độ. Rừng thì có nhiều món, heo, nai, thỏ… tôi ăn theo chứ không rành. Một nhận xét chung chung là, bên nhà, thịt cá lúc nào cũng tươi nhưng tài nghệ nhà bếp xem ra không bằng Cali. Tôi cố tìm những hương vị của đặc sản quê nhà, tất nhiên, ở mức độ khiêm tốn, không có gì phải than phiền. Từ ngoài trời nắng như lửa, vào quán có cái khăn ướp lạnh bọc nylon là điều tuyệt vời. Ðây là cái mới mẻ trong đời sống ở quê nhà. Thông thường những gì vào bao bị, mỗi khi mở, xé hay cắt theo chỉ dẫn, ở đây muốn tháo lấy khăn người ta vỗ nghe bôm bốp. Tôi làm thử, không nghe “bốp” mà nghe “xịt”. Một thiếu phụ ngồi với chồng bàn kế bên, nhìn tôi cười. Tôi cũng cười.
Trước đây mỗi lần từ Nha Trang đi Sai Gòn, xe dừng ăn trưa, khách kéo nhau chạy ra sau quán, mỗi người một góc múc nước lu rửa mặt xoàn xoạt. Nay có khăn lạnh tẩm thơm, tiến bộ lắm rồi.
Trước khi rời quán đi Phan Thiết, “tài xế” có sáng kiến làm một máy lạnh cho chiếc xe. Mười ngàn đồng đá cục, chặt cho vào bao ni- lông, nhét vào các hốc trước đầu xe. Lúc chạy, quạt máy thổi ngược hơi mát ra sau. Một sáng kiến tiện và lợi. Ðỡ hao xăng. Ðúng là “lao động sáng tạo”. Xe chuyển bánh, tôi hỏi:
– Ði Phan Thiết còn bao xa?
– Ðây xuống Ngã Ba Ông Ðồn trăm cây, Ông Ðồn ra Phan Thiết vài chục nữa.
– Em liệu mình đến đấy trước 3 giờ được không?
Người em nhìn đồng hồ rồi quả quyết:
– Dư sức qua cầu.
Xe chạy ngược lại một đoạn rồi rẽ trái theo con đường nhựa hẹp hơn, băng qua rừng núi hoang vu. Lâu lâu mới có đôi nhà làm bên suối.
– Ðây là con đường mới mở sau này, trước kia muốn đi Phan Thiết phải qua ngã ba Dầu Giây.
– Thế thì tiện quá ha. Như vậy địa phương này gọi là…
– Suối Nho, đến Suối Cát rồi ngã ba Ông Ðồn.
Suối Nho song chẳng thấy nho. Phan Rang mới trồng nhiều nho, từng cánh đồng nho. Lối trồng nho bên mình cũng tương tự trồng bầu trồng bí. Giàn cao quá đầu người, nho tha hồ bò ra các hướng. Mỹ trồng nho như trồng cây kiểng. Gốc lớn như bắp đùi mà cao chưa quá một mét. Nhánh rất ít và không ra dài. Có những gốc nho có thể cho vào chậu làm kiểng rất đẹp. Mấy năm trước tôi đã đến những ruộng nho ngoài giao lộ đường 10 và 15, vùng San Bernadino, kiếm những gốc đẹp về làm Bonsai. Nho hằng hà và toàn nho cao tuổi, trên 30 năm.
Quốc lộ 1 từ ngã ba Ông Ðồn đi Phan Thiết vẫn hoang vắng như trước đây. Ðến quãng có đông cư dân, xe vào ngay một nhà cách đường chừng trăm mét, trước sân một đống đá, một đống gốc cây khô.
– Mình vào đây nghỉ ít phút rồi đi anh Ba. Ðây là cộng tác viên của em về cây và đá.
Vào tới nơi tôi mới thấy: Một kho tàng Ðá Cảnh, những khối đá có hình thù kỳ dị do thiên tạo, lớn nhỏ đủ cỡ. Bên cạnh vô số gốc rễ cây…Chủ nhà thấy có khách, niềm nở chạy ra đón. Trong nhà, nhiều tác phẩm Cây, Ðá trưng bày quanh một phòng khách nho nhỏ. Ðá cảnh là một ngành nghệ thuật đang phát triển mạnh mà ngày trước chỉ có một số ít người chơi. Trong lúc “nhẩm xà” tôi thăm dò gia chủ:
– Anh đầu tư khá nặng vào môn này, như vậy hiện nay mức tiêu thụ ra sao?
– Dạ thưa, nói cho đúng chưa có hướng rõ rệt, bán lai rai đủ lấy tiền công.
– Anh bán tại chỗ hay đưa về Sài Gòn?
– Dạ Sài Gòn cũng có một vài anh em nhận tiêu thụ giùm. Nhưng cũng năm thì mười họa chứ chưa có đầu ra đáng kể.
– Ðá bán theo cân lượng hay theo sự chọn lựa?
– Dạ nếu mua số nhiều thì tính cân, còn chọn thì tính theo giá nghệ thuật.
– Một tấn phỏng định bao nhiêu?
– Dạ từ tám trăm đến một triệu.
Ðúng là trị giá đồ vật tùy thuộc vào thời gian, không gian, và nhất là mức sống của xã hội. Nếu ở Mỹ, một tảng đá nhỏ bằng Monitor của Computer, đặt lên đế cho đàng hoàng, rẻ lắm cũng vài trăm Mỹ kim.
Cạn chén trà, tôi xin phép đi dạo xem đá một lần nữa trước khi tiếp tục cuộc hành trình. Khu vườn ngập đầy chất liệu nghệ thuật. Ðá và cây khô tràn lan cứ như đồ bỏ. Những thứ đáng được trân quí thì lại lăn lóc ngoài sân mà cũng chẳng ai thèm trộm cắp. Dân ta vốn giòng giống Tiên Rồng, nhưng phải làm công cho ngoại quốc mới đủ ăn. Sản vật quí như trân châu cũng chỉ mong bán cho khách nước ngoài mới đủ vốn. Thật nghịch lý. Càng nhìn càng xót xa.
Tôi giục chú em: “Thôi ta đi đi. Ra Phan Thiết anh còn ghé thăm một nhà nhiếp ảnh, sau đó mình đi Mũi Né”.
Càng về miền Trung trời càng nóng. Cây cối khô cằn, nhà cửa lụp xụp, một miền nghèo đói muôn thuở. Người dân chấp nhận một cuộc sống an phận, khôngđòi hỏi cao xa như dân thị thành. Có đi mới thấy rõ nỗi niềm của quê hương đất nước.

Trần Công Nhung

(1) Ðã phá bỏ năm 2005

TIN SÁCH
Sách Quê hương qua ống kính bộ 16 tập (discount 50% 10 tập đầu). Mua sách xin liên lạc tác giả:
Tran Cong Nhung
PO. Box 8391 Fresno, CA. 93747
Email: trannhungcong46@gmail.com
Tel: (816)988- 5040

Comments are closed.