Khung Cửa Sổ Mở Toang

Lời người dịch: Hector Hugh Munro (18 tháng 12, 1870 – 14 tháng 11, 1916) bút hiệu Saki và H. H. Munro. Nhà văn Anh Quốc. Với giọng văn thông minh, châm biến, với những truyện ngắn ranh mãnh và đôi khi ma mị, ông được xem như bậc thầy của thể loại truyện ngắn, và thường được so sánh với O. Henry và Dorothy Parker. Ngoài những truyện ngắn, ông còn là tác giả hai cuốn tiểu thuyết: The Unbearable Bassington (1912) và When William Came (1913). Chào đời ở Miến Điện (thuộc Anh), sau đó về sống ở Anh Quốc. Khi Thế Chiến I bùng nổ, ở tuổi 43, ông vẫn cố gắng xin được nhập ngũ. Tháng 11, 1916 khi đang trú ẩn trong một hố đạn gần Beaumont-Hamel (Pháp) trong trận Ancre, ông bị giết bởi một tay súng bắn sẻ Đức. Nhiều đồng đội kể lại câu nói sau cùng của ông là, “Dập tắt điếu thuốc khốn nạn ấy ngay đi!”

“Tí nữa dì cháu sẽ xuống, chú Nuttel ạ,” cô gái mười lăm tuổi đầy nét tự tin nói; “Trong khi chờ đợi, chú phải rán mà nghe chuyện của cháu đấy nhé.”
Framton Nuttel cố gắng lựa lời để làm hài lòng cô cháu gái mà không lộ ra vẻ bất mãn vì chuyện người dì không tôn trọng giờ giấc. Trong thâm tâm, ông không mấy tin việc ghé thăm hết người này đến người khác, mà toàn người xa lạ, sẽ có lợi cho việc điều trị thần kinh mà ông đang theo đuổi.
“Em dư biết chuyện sẽ xảy ra như thế nào rồi,” em gái ông nói khi ông sửa soạn dọn về quê; “anh sẽ chôn vùi con người anh dưới ấy, anh sẽ chẳng mở miệng nói câu nào với ai, rồi thần kinh của anh sẽ rối tung lên vì buồn chán. Để em viết thư giới thiệu anh với mấy người quen của em dưới ấy. Em nhớ có mấy người tử tế lắm kìa.”
Framton tự hỏi không biết bà Sappleton, người mà ông đã trao lá thư giới thiệu, có thuộc về nhóm tử tế không.
Khi thấy ngồi im lâu như thế cũng đã đủ, cô cháu gái cất tiếng, “Chú có quen biết nhiều người dưới này không?”
“Chẳng quen ma nào hết,” Framton nói. “Em gái chú ở trong nhà xứ, dưới này, cháu biết đó, khoảng bốn năm trước, cô ấy viết thư giới thiệu chú với những người ở dưới này.”
Ông bật ra câu nói cuối cùng bằng cái giọng đượm màu nuối tiếc.
“Vậy là chú chả biết gì về dì cháu đâu nhỉ?” cô gái trẻ đầy vẻ tự tin nói.
“Chỉ biết mỗi tên và địa chỉ bà ấy,” người đàn ông thú nhận. Ông thầm nghĩ không biết bà Sappleton thuộc về nhóm có gia đình hay quả phụ. Ông chả làm sao đoán được bởi căn phòng không khơi gợi chút hơi hướm gì giúp ông đoán nhà có đàn ông hay không.
“Thảm kịch của dì cháu xảy ra mới cách đây ba năm,” cô gái nói; “chắc cũng khoảng thời gian em gái chú sống ở đây.”
“Thảm kịch của bà ấy à?” Framton hỏi; và thấy băn khoăn bởi ở chốn thôn quê tĩnh lặng này mà bảo là có thảm kịch thì nghe không hợp chút nào.
“Chắc chú cũng ngạc nhiên vì sao nhà này mở rộng cửa sổ vào một ngày tháng Mười như hôm nay,” cô cháu gái nói, chỉ tay về phía khung cửa sổ thênh thang kiểu nhà người Pháp mở toang ra sân cỏ bên ngoài.
“Lúc này cũng còn ấm áp,” Framton nói; “nhưng cái cửa sổ ấy liên hệ gì đến thảm kịch vậy?”
“Qua khung cửa sổ ấy, cách đây đúng ba năm, chồng dì ấy và hai người em trai đi săn. Họ không bao giờ trở về nữa. Họ băng qua truông đến khu rừng săn thú, rồi cả ba bị lọt xuống một cái đầm lầy quỷ quái. Hôm ấy là một ngày mùa hạ ẩm ướt đầy hãi hùng, chú biết không, mọi năm chả sao vậy mà ngày hôm ấy bỗng nhiên lại có chỗ đầm lầy. Điều kinh khiếp là người ta không bao giờ tìm thấy xác họ nữa.”
Đến đây giọng nói cô gái nhỏ mất đi nét tự tin và thấm đượm nét yếu đuối đời thường. “Tội nghiệp dì lúc nào cũng nghĩ một ngày nào đó họ sẽ trở về, họ về cùng với con chó nhỏ tai rũ màu nâu đã chìm dưới đầm lầy cùng với họ, và sẽ bước qua khung cửa sổ ấy như họ vẫn làm trước đây. Chính vì vậy chiều nào cửa sổ cũng mở toang cho đến tối mịt. Tội nghiệp dì ấy, dì vẫn thường kể cho cháu nghe chú ấy và hai em trai lên đường như thế nào, chồng dì ấy mắc cái áo khoác trắng không thấm nước trên cánh tay, còn Ronnie, em út dì ấy, luôn miệng hát, “Bertie, why do you bound?” bởi cậu ấy vẫn hát để trêu chọc dì, dì ấy bảo vì nó làm dì ấy bực mình. Chú biết không, đôi khi vào những buổi chiều im vắng như hôm nay, cháu cứ thấy rờn rợn ở sống lưng khi nghĩ là cả ba người sẽ bước qua khung cửa sổ này…”
Cô gái ngừng lại và khẽ rùng mình.
Framton thở phào khi người dì bước ào ra phòng khách tíu tít xin lỗi vì để khách chờ.
“Tôi hy vọng cháu Vera giúp ông giết thời giờ?” bà nói.
“Cháu rất vui tính,” Framton nói.
“Tôi mong là cửa sổ mở không làm phiền ông,” bà Sappleton liến thoắng nói; “lần nào chồng và em trai tôi đi săn về cũng đi qua cửa này. Hôm nay họ đi săn ngoài đầm lầy, thế nào họ cũng làm lấm lem hết cái thảm tội nghiệp của tôi. Mấy người đàn ông là như vậy phải không nào?”
Bà tíu tít chuyện trò về việc săn bắn cùng chuyện chim chóc hiếm hoi, và chuyện săn được vịt vào mùa đông. Mọi thứ đều gợi ra cảm giác ghê rợn đối với Framton. Ông cố gắng một cách tuyệt vọng để lái câu chuyện qua một hướng bớt kinh dị hơn; ông để ý thấy bà chủ nhà gần như không ngó ngàng gì đến ông, và hai mắt bà luôn nhìn lướt qua ông về phía khung cửa sổ, ra sân cỏ phía ngoài. Thật là một sự tình cờ đầy xui xẻo khiến ông ghé thăm đúng vào ngày kỷ niệm biến cố bi thảm này.
“Bác sĩ bắt tôi nghỉ ngơi hoàn toàn, tránh mọi kích thích tâm thần, và tránh những hoạt động thể chất mạnh bạo,” Fromton loan báo, cố gắng tin tưởng một cách đầy ảo tưởng dù biết những con người hoàn toàn xa lạ cùng những người tình cờ gặp gỡ chả mấy quan tâm đến chi tiết chuyện đau ốm, thương tật của ông, cả nguyên nhân lẫn cách điều trị. “Về vấn đề dinh dưỡng họ không đồng ý với nhau mấy,” ông nói tiếp.
“Không à?” bà Sappleton nói, bằng cái giọng lười lĩnh trám vào chỗ của cái ngáp dài. Rồi bỗng nhiên mắt bà sáng lên, người bà như tỉnh hẳn – nhưng không phải vì những gì Framton vừa nói.
“À họ về tới đây rồi!” bà la lớn. “Vừa kịp uống trà, và nhìn kìa, họ lấm lem dính bùn khắp nơi, chỉ còn chừa con mắt!”
Framton khẽ rùng mình và quay qua ném cô cháu gái cái nhìn đượm nét hãi hùng. Cô gái nhìn qua khung cửa sổ mở toang với nét kinh hoàng trong ánh mắt. Trong cái ớn lạnh gai người của cơn sợ hãi không tên, Framton xoay người trong chiếc ghế nhìn về phía cửa sổ.
Trong ánh hoàng hôn sậm màu, ba bóng người đang bước trên sân cỏ về phía khung cửa sổ, cả ba cùng cầm súng trên tay, một trong ba người có khoác trên vai cái áo choàng trắng. Một con chó tai rũ màu nâu lủi thủi bước theo họ với đầy vẻ mệt mỏi. Trong cái tịch mịch hoàng hôn, ba người tiến lại gần căn nhà, và giọng khàn của một người trẻ vang vang trong nhập nhoạng bóng chiều, “Bertie, why do you bound?”
Framton cuống cuồng vồ lấy cây gậy và chiếc mũ của mình; trong bóng tối nhạt nhòa, bóng ông ta lướt nhanh qua khung cửa, trên sân sỏi, qua cánh cổng trước nhà. Một người chạy xe đạp phải đâm sầm vào hàng giậu để khỏi đâm nhào vào ông ta.
“Về tới rồi đây, cưng,” người khoác cái áo choàng trắng nói lúc bước qua khung cửa sổ; “Hơi dính bùn, nhưng cũng khô hết rồi. Ai mới chạy vụt ra khỏi nhà mình vậy?”
“Một người đàn ông kỳ quái, ông Nuttel nào đó,” bà Sappleton trả lời; “Toàn nói về bệnh tật của ông ta, rồi chạy tuông ra ngoài không một lời từ biệt hay cáo lỗi khi anh về đến. Như thể ông ta trông thấy ma vậy.”
“Cháu nghĩ chú ấy sợ con chó,” cô cháu gái thong thả nói; “Chú ấy nói với cháu là chú ấy sợ chó lắm. Có lần chú ấy bị một đàn chó hoang săn đuổi vào một nghĩa trang đâu đó bên bờ sông Hằng, chú ấy phải co quắp suốt đêm dưới một cái huyệt mới đào trong khi lũ chó nhe răng, sủi bọt mép gầm gừ bên trên. Chỉ nghe kể thôi cũng đủ để đứt dây thần kinh mà chết.”
Chả ai biết bịa chuyện không cần chuẩn bị trước vốn là sở trường của cô cháu gái.

Chú thích: “Bertie, why do you bound?” là tên một bài hát phổ thông đầu thế kỷ hai mươi. “Bound” có nghĩa là nhảy, câu hát có tính cách chơi chữ vì “bounder” là một người có hành vi làm người khác khó chịu.

Bản tiếng Việt– Hoàng Chính

More Stories...