Không còn việc làm

Huy Lâm

Cuộc suy trầm kinh tế vừa qua ở Mỹ đụng đáy vào khoảng cuối năm 2009 và sau đó từ từ hồi phục trở lại, mặc dù chậm. Đặc biệt liên tiếp trong hai năm qua, các bản tin kinh tế đều nói tới những con số trăm ngàn công việc mới được tạo ra mỗi tháng và nhờ vậy tỉ lệ thất nghiệp toàn quốc cũng giảm nhiều. Tuy nhiên, nhiều kinh tế gia và kỹ thuật gia gần đây đồng thanh lên tiếng cảnh báo rằng nền kinh tế đang tiến gần tới đỉnh điểm của nó và sẽ tới thời kỳ đi xuống trở lại. Mà lần đi xuống này có thể ảnh hưởng sâu xa và lâu dài hơn những lần trước nhiều. Khi các nhà nghiên cứu trên nhìn vào các dữ liệu của thị trường việc làm, họ nhận thấy kỹ thuật tự động đang dần dần chi phối ở đủ mọi lãnh vực kinh doanh – người máy xuất hiện ở khắp nơi, từ các cơ xưởng sản xuất cho tới nhà hàng bán thức ăn nhanh. Rồi trong tương lai gần, những loại xe tự động lái không cần tài xế sẽ chạy trên khắp đường phố và những loại máy bay không người lái của công ty Amazon bay đen cả bầu trời, và những loại kỹ thuật tự động này sẽ thay thế hàng triệu công việc của những người lái xe, người xếp đồ trong những nhà kho, và người bán hàng ở các cửa tiệm bán lẻ. Các nhà nghiên cứu cho biết khả năng của máy móc ngày nay đã tiến bộ vượt bực và sẽ còn phát triển theo cấp số nhân, trong khi chính chúng ta là những người lao động, dù bằng tay chân hay trí óc, thì vẫn cứ như cũ chứ không khá hơn bao nhiêu. Và vì vậy, các nhà nghiên cứu tự hỏi là trong tương lai gần, độ mười hay hai mươi năm nữa, có còn công việc nào còn lại cho con người hay không?

Các nhà tương lai học và nhiều nhà văn viết về đề tài khoa học giả tưởng đã có lúc nghĩ đến một tương lai mà nơi đó những công xưởng được điều khiển bằng máy sẽ thay thế con người. Thử tưởng tượng tới lúc đó con người không còn phải làm gì cả, hay chỉ làm ít giờ một tuần, còn lại thì giờ rảnh rỗi để hưởng thụ cuộc sống và thật sự tự do, không còn phải lệ thuộc tới chiếc đồng hồ báo thức vào mỗi sáng nữa.

Tuy nhiên, với số công ăn việc làm lúc đó cứ biến mất hàng loạt ở khắp nơi sẽ đưa tới một sự thay đổi lớn lao trong xã hội mà loài người chưa từng bao giờ được chứng kiến và khi ấy người ta mới nhận ra rằng giữ lại một công việc là quan trọng hơn bất kỳ thứ gì khác. Tại Hoa Kỳ, và có lẽ ở những quốc gia tiên tiến khác, nền kỹ nghệ đóng một vai trò quan trọng và là cỗ máy vận hành tất cả mọi sinh hoạt của xã hội – chính trị, kinh tế cũng như những sinh hoạt đời thường của người dân. Vậy, chuyện gì sẽ xảy ra một khi việc làm không còn nữa?

Lực lượng lao động ở Hoa Kỳ được hình thành bởi thời đại hoàng kim của tiến bộ kỹ thuật. Kỹ thuật nông nghiệp đẻ ra kỹ nghệ canh nông, cách mạng kỹ nghệ đưa người ta vào các nhà máy (có việc làm), và rồi thời đại toàn cầu hóa cũng như kỹ thuật tự động đưa người ta ra khỏi nhà máy (mất việc). Trải qua những cuộc cải cách đó, số công ăn việc làm luôn tăng cao hơn trước. Nhưng lần này với những gì đang xảy ra rất có thể sẽ khác với những lần trước: một thời đại mới của thất nghiệp gây ra do kỹ thuật, mà chủ yếu là do các nhà khoa học và các kỹ sư nhu liệu điện toán làm cho nhiều người trong chúng ta trở thành thất nghiệp, và số công ăn việc làm cứ giảm đi đều đặn và không bao giờ trở lại.

Nỗi lo sợ này không phải là điều gì mới mẻ. Người ta hy vọng là máy móc có thể làm thế những công việc nặng nhọc cho con người, nhưng đồng thời người ta cũng lo sợ là những máy móc đó sẽ lấy đi mất việc làm của con người. Vào giữa thời kỳ kinh tế đại khủng hoảng, đã có kinh tế gia tiên đoán rằng đến năm 2030, với những tiến bộ kỹ thuật có thể cho phép người lao động làm việc chỉ 15 tiếng một tuần và tha hồ hưởng thụ. Nhưng cũng thời kỳ này, một số nhà khoa học cảnh báo rằng kỹ thuật của những ngành kỹ nghệ chính là “con quái vật” đe dọa xóa sổ ngành sản xuất và sẽ “nuốt chửng nền văn minh của chúng ta.” Mỗi thời kỳ đều có những người tin tưởng ở những thành quả của tiến bộ khoa học và bên cạnh đó là những người luôn tỏ ra lo lắng.

Và ở mỗi thời kỳ đó, thị trường việc làm đã chứng minh là người ta đã lo lắng thái quá, và theo những báo cáo mới nhất về số công ăn việc làm, kết quả cũng vẫn thế chứ không khác. Tỉ lệ thất nghiệp hiện nay chỉ mấp mé trên 5%, và năm 2014 là năm mà việc làm tăng trưởng tốt đẹp nhất kể từ khi nước Mỹ bước sang thế kỷ 21. Vậy thì những lời tiên đoán về tương lai số việc làm biến mất do bị người máy thế chỗ phải chăng đơn thuần chỉ là sự lo xa quá đáng về điều không bao giờ xảy ra.

Vẫn có một số nhà nghiên cứu cho rằng máy móc không thể thay thế con người. Những nhà này tin rằng con người có khả năng yêu thương, thấu hiểu đồng loại và óc sáng tạo – là những đức tính không thể bắt chước hay học được. Điều này đúng và chúng ta có thể tin là máy móc không bao giờ có thể trở thành như người được. Nhưng máy móc có thể đủ thông minh để làm được công việc mà chủ của chúng đòi hỏi. Hiện nay, những hệ thống máy điện toán ngày càng thông minh sắc sảo và không ai có thể đoán trong 10 năm tới chúng còn tiến bộ đến mức nào. Trước khi chiếc điện thoại thông minh ra đời, đâu ai nghĩ rằng sẽ có ngày thiết bị nhỏ bé này có thể làm được một số công việc thay cho người, ví dụ nó có thể giúp chủ nhân của nó cho những người khách lạ mướn phòng trống của một căn chung cư hay một căn nhà qua trang mạng Airbnd. Hoặc như công ty Google không có chút liên quan gì về việc sản xuất xe nhưng cũng đang cho thiết kế chiếc xe có khả năng tự lái mà không cần đến tài xế, và chỉ trong nay mai sẽ đe dọa tới hàng triệu công việc lái xe của nhiều người.

Năm 2013, một số nhà nghiên cứu thuộc Đại học Oxford bên Anh Quốc tiên đoán trong hai thập niên nữa máy móc có thể làm được một nửa số công việc ở Hoa Kỳ. Lời tiên đoán này có thể hơi quá, nhưng ở một số trường hợp, điều tiên đoán trên không hẳn là vô lý. Những trang mạng như Google và WebMD nay đã có thể giải đáp được một số thắc mắc của người bệnh mà trước đây phải cần tới một bác sĩ. Điều này không có nghĩa là ngành y tế cũng sẽ mất việc làm như ngành làm da thuộc, mà nó chỉ cho thấy máy điện toán (hay người máy) có thể lấn sân dễ dàng vào những khu vực mà trước đây chỉ dành cho người.

Có câu chuyện khá khôi hài nhưng lại là một sự thật đớn đau về nạn nhân đầu tiên của cái gọi là tiến bộ khoa học kỹ thuật trong lịch sử kinh tế Hoa Kỳ – đó chính là con ngựa.

Trải qua nhiều ngàn năm, con người đã phát minh ra nhiều kỹ thuật để biến con ngựa thành một “khí cụ” vừa có nhiều công dụng lại vừa có giá trị – tạo ra lưỡi cày thì cần ngựa để kéo ngoài đồng, tạo ra gươm giáo thì cần ngựa để đưa chiến sĩ ra ngoài mặt trận. Một thứ “khí cụ” nhiều công dụng như trên thì ai cũng nghĩ rằng với những tiến bộ kỹ thuật được bổ sung thêm sau này thì chỉ làm cho con vật ngày càng thêm quan trọng và cần thiết cho nhà nông cũng như cho chiến trường. Thế nhưng, những phát minh trong thế kỷ 20 với máy cày, xe hơi, xe tăng đã biến con ngựa thành thứ vô dụng, hay nói nhẹ hơn một chút thì là không còn cần thiết. Sau khi những chiếc máy cày được đưa vào những cánh đồng ở Mỹ vào đầu thế kỷ 20, số ngựa và lừa ở Mỹ bắt đầu tụt giảm, bớt đi một nửa vào thập niên 1930 và đến thập niên 1950 bớt tới 90%.

Những tiến bộ kỹ thuật cũng tạo ra công việc làm mới như trước đây đã từng có, nhưng lần này có lẽ sẽ không đủ để bù đắp cho số việc làm bị mất. Cứ mười người hiện nay thì có tới chín người đang làm những công việc đã có mặt từ cả trăm năm trước, và chỉ 5% những công việc mới được tạo ra trong khoảng thời gian từ 1993 đến 2013 là đến từ những lãnh vực “kỹ thuật cao” như điện toán, nhu liệu, viễn thông và tin học. Những ngành kỹ nghệ mới nhất hiện nay và trong tương lai đòi hỏi tốn ít sức lao động nhất vì đơn giản là những ngành này không cần quá nhiều người.

Mất việc không chỉ là mất đi phần lợi tức của người đó, mà người mất việc còn phải chịu những ảnh hưởng xấu đến tinh thần và thể xác của họ. Bản chất tự nhiên của đa số là thích làm việc, và một khi không có việc gì để làm thì hậu quả thật là tai hại.

Kết quả của những cuộc thăm dò cho thấy phần đông những người mất việc làm không dành thì giờ rảnh để thăm viếng bạn bè, người thân hay tìm những sở thích mới. Thay vào đó, họ chỉ làm hai việc là xem tivi hoặc ngủ. Đặc biệt là ở nam giới, họ dành phần lớn thì giờ rảnh để xem tivi, lướt mạng, và ngủ. Về mặt lý thuyết, người thất nghiệp là những người có nhiều thì giờ để gần gũi với người thân nhất, nhưng các cuộc nghiên cứu cho thấy họ lại là thành phần cảm thấy bị cách ly với xã hội nhất.

Chưa ai biết trước số công việc mất đi do bị người máy lấn sân sẽ trầm trọng đến đâu nhưng sớm muộn gì rồi nó cũng sẽ tới. Một số nhà nghiên cứu khuyên rằng Hoa Kỳ có thể học bài học của nước Đức trong thời gian kinh tế suy trầm vừa qua. Chính phủ Đức đã theo đuổi chính sách trợ giúp cho những công ty nào thay vì cắt giảm nhân viên thì giữ tất cả lại nhưng giảm bớt giờ làm việc. Nghĩa là một công ty với 50 nhân viên có thể phải cắt giảm 10 người thì thay vào đó giảm số giờ làm việc của nhân viên xuống 20%. Với chính sách đó sẽ giúp nhân viên ở lại với công ty và tiếp tục nằm trong lực lượng lao động chứ không trở thành người thất nghiệp. Kết quả là sau cuộc suy trầm, nước Đức là quốc gia phục hồi nhanh nhất.

Giải pháp này xem ra cũng chỉ là tạm thời và khi làm việc ít giờ đi cũng có nghĩa là lợi tức bị thiếu hụt. Nhưng có việc làm vẫn hơn không dù phải làm ít giờ trong khi chúng ta chờ đợi một giải pháp tốt đẹp hơn.

Huy Lâm

 

More Stories...