Thời Báo Vietnamese Newspaper

Không Bao Giờ Nhạt Phai

44 năm trước, tôi ở Sài Gòn. Bây giờ tôi ở Xứ Tuyết. Năm nào vào ngày này tôi cũng có mặt trong lễ tưởng niệm ngày 30 tháng Tư. Năm nào tôi cũng cầm chắc trong tay hai lá cờ. Cờ vàng ba sọc đỏ và lá cờ trắng có hình lá phong màu đỏ. Như đứa bé sợ mất đi báu vật của riêng mình, tôi giữ hai lá cờ thật kỹ. Năm nay tôi đến nơi hành lễ với hai lá cờ quen thuộc trong tay nhưng khi tan lễ ra về, trong tay tôi chỉ còn một lá cờ.
Ngày 30 tháng Tư năm nay lạnh tê người. Trời lộng gió. Những lá cờ phần phật như những cánh buồm. Gió nồng nhiệt kéo những cánh buồm ra khơi. Phần lớn những người tụ tập nơi đây chắc xưa kia đã trông chờ những phút biển lặng sóng êm giúp họ đến bến bờ bình an. Khu vực hành lễ trống trải. Không có nơi nào khuất gió. Cuối tháng Tư mà vẫn còn những ngày lạnh điếng người. Mọi người co ro trong cái lạnh bất ngờ. Bất ngờ bởi mới hôm qua nắng còn ấm và gió rất hiền. Hôm nay cái lạnh ụp xuống, và gió lồng lên cuồng nộ. Tôi co ro. Tay níu chặt hai lá cờ. Bên cạnh tôi hai ông bà cao niên cũng co ro sát bên nhau. Bà cụ mặc áo dài hai tà áo bay phất phới phía dưới chiếc áo khoác dài quá đầu gối, tay níu vành chiếc nón lá. Ông cụ mặc bộ quân phục rằn ri, bên ngoài khoác chiếc áo lạnh cũng rằn ri. Bất chợt gió thổi bay chiếc nón của bà cụ. Tôi quay nhìn bà và nhanh chân đuổi theo chiếc nón, như đứa bé chơi trò đuổi bắt. Chiếc nón lá chợt như con vật biết đùa giỡn. Lăn tròn rồi chồm lên, rồi bất chợt đổi hướng.
Cuối cùng tôi cũng bắt được nó, vừa thở hì hạch vừa đưa lại cho bà. Ông cảm ơn, bà khẽ gật đầu tay cầm chặt vành nón. “Chắc không dám đội nữa rồi,” ông cụ nói. Tôi mỉm cười nhìn hai ông bà. Cả hai mái đầu đều bạc trắng và rối tung trong gió. “Gió quá bác nhỉ,” tôi gợi chuyện. Bà cụ cười. Ông cụ cũng cười, và ngước nhìn những lá cờ tung bay trong gió, ông nói, “Gió thế mà lại hay, có gió Quốc Kỳ của mình mới ngạo nghễ tung bay, cậu thấy không?” Tôi ngẫm nghĩ. Ông cụ nói đúng quá. Gió thế mà lại hay. 30 tháng Tư năm nào cũng không mưa thì gió. Tôi gật đầu biểu đồng tình với ông cụ. “Năm trước mưa tầm tã, cậu nhớ không? À quên, năm trước cậu có ra đây không?” Ông cụ gợi chuyện. Tôi nhanh nhẹn trả lời là có. Và tôi nhớ cái mưa trái mùa ngày 30 tháng Tư năm trước. Mưa dầm dề suốt buổi lễ. Tôi thêm, “Nhưng năm trước nữa thì trời nắng đẹp.”
Tôi nhớ cái nắng rực rỡ của ngày 30 tháng Tư cách đây hai năm. Nắng vàng và gió nhẹ. Tôi nhớ cả một rừng Cờ Vàng phủ kín khu vực hành lễ. Ông cụ ngập ngừng suy nghĩ. Những nếp nhăn vạch lên vầng trán lấm tấm những đốm sắc tố mà tuổi già đem lại. “Hai năm trước tôi ở đâu nhỉ?” Ông cụ lẩm bẩm. Và ông bật lên tiếng reo nho nhỏ, “Nhớ rồi, ba mươi tháng Tư hai năm trước nữa tôi đi Ottawa. Tôi với nhà tôi đi dự ngày Quốc Hận ở tận thủ đô Ottawa.” Tôi xoay qua nhìn hai ông bà với tất cả sự mến phục. Nhìn vóc dáng và nghe giọng nói, tôi thầm đoán ông cụ cũng ngoài bảy mươi; dám tám mươi không chừng. Nghĩa là những ngày binh đao, ông đã là người thanh niên ngoài hai mươi tuổi. Người lính trẻ năm xưa chắc hẳn đã nhiều lần đối diện với cái chết, đã nhiều lần nghe tiếng đạn xé gió, đã nhiều lần chứng kiến người chết trong chiến tranh. Chắc ông cũng nhiều lần vuốt mắt những đồng đội hy sinh. Và có lẽ ông cũng đã trải qua cái nơi mà bọn cầm quyền trong nước gọi bằng cái tên rất mập mờ đánh lận con đen là “trại học tập cải tạo.”
Tiếng loa phóng thanh nhắc mọi người đứng dậy để chào quốc kỳ Canada và Việt Nam Cộng Hòa. Chúng tôi ngưng trò chuyện. Mắt hướng về phía lễ đài. Những lá cờ phần phật bay trong gió. Những người lính năm xưa trong quân phục của binh chủng cũ, dàn chào theo lễ nghi quân cách. Oh Canada, we stand on guard for Thee. Tôi hát bài quốc ca Canada và trong thoáng chốc tôi nhớ đến những lần chiến đấu cơ F-18 của Không Quân Xứ Tuyết phải áp tải những chiến đấu cơ của Nga Sô – làm như vô tình – bay lạc vào không phận North-West Territories của Canada. Và tôi nhớ những tới hơn sáu trăm ngàn nam và nữ quân nhân Canada trong Thế Chiến I và hơn một triệu chiến binh Canada gồm bộ binh, hải quân và không quân trong Liên Hiệp Anh tham gia Thế Chiến II với 42 ngàn hy sinh và 55 ngàn bị thương. Và hơn 26 ngàn binh sĩ Canada tham gia chiến tranh Hàn Quốc vừa chiến đấu, vừa bảo vệ hòa bình trong lực lượng Liên Hiệp Quốc. Những người sẵn sàng hy sinh mạng sống họ để “stand on guard” cho đất nước này.
Rồi tới bài Quốc Ca Việt Nam Cộng Hòa, tôi chỉ hát được đôi câu thì lồng ngực đã đầy ứ cơn xúc động. Lá cờ vàng phất phới trên kỳ đài gợi nhớ đến buổi sáng thứ Hai, bọn học trò xếp hàng nghiêm chỉnh trong sân trường. Thuở ấy lễ chào quốc kỳ bao giờ cũng là nghi thức thiêng liêng. Và bỗng dưng tôi nhớ cả cô gái học chung trường, cái người học giỏi nhất trường ấy, hầu như thứ Hai nào cũng được vinh dự kéo cờ trong lễ chào cờ. Và tôi vẫn nhớ thuở ấy tôi không những phục cô ta vì cô ta học giỏi mà còn phục vì không hiểu sao cô ta kéo cờ thật đều, thật từ tốn mà bao giờ cũng vừa chấm dứt bài Quốc Ca thì lá cờ cũng lên tới ngọn của cột cờ. Hai điều kỳ lạ ấy trong tôi – cho đến bây giờ – vẫn là những điều bí hiểm không có lời giải đáp. Lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ cũng in đặm trong tôi hình ảnh chiếc quan tài người lính tử trận phủ quốc kỳ, và cũng lá cờ ấy phủ trên những ngôi mộ còn nồng mùi đất mới.
Xong hai bài quốc ca, tôi mới nhận ra ông cụ đứng bên tôi đưa tay ngang trán để chào như những người lính vẫn chào. Tôi lại mỉm cười với ông, và ngắm ông kết thúc cái chào kính bằng động tác dứt khoát của cánh tay. Động tác ấy vẽ trong trí tôi hình ảnh một người lính còn trẻ, một vóc dáng “lính trận miền xa” đáng mến, đáng phục.
Ông cụ quay qua tôi nói nhỏ, “Tôi vẫn còn chứng chỉ tại ngũ. Tôi sẽ là lính suốt đời.”
Câu nói làm tôi xúc động. Và tôi hiểu vì sao những người lính Việt Nam Cộng Hòa dù chỉ còn hai bàn tay trắng, dù phải sống âm thầm ở quê hương thứ hai, họ vẫn không bao giờ quên rằng họ là những chiến binh đã một lần thề sống chết với quê hương, họ vẫn sẽ mãi mãi là người lính trung thành với lá Quốc Kỳ đã bao lần phủ kín xác thân những đồng đội của họ.
Những bài diễn văn, những tràng vỗ tay, những bài ca rộn rã không gian. Ông cụ chào tôi rồi xin phép đưa bà cụ tìm nơi khuất gió bởi cụ không được khỏe. Tôi bắt tay người lính già thật chặt, lòng tràn đầy cảm mến. Trời lạnh, những cô gái áo trắng, cờ vàng quấn quanh cổ, rộn ràng những lời ca. Tôi vỗ tay hòa chung với họ, chung nhịp đập với những trái tim luôn hướng về quê nhà khốn khổ bên kia Thái Bình Dương.
Những bài diễn văn ngắn nhưng đầy xúc động. Những khẩu hiệu rộn ràng sớm mai. Thank you Canada. Lời cảm tạ của những di dân đến từ vùng đất chết. Mọi người hô vang lời cảm tạ. Không có Canada mình sẽ sống ở đâu. Lời cảm ơn loang trong tâm tư tôi như viên thuốc trợ tim ngậm dưới lưỡi cho tan đi và thấm vào niêm mạc, điều hòa những nhịp tim. Những người muôn năm trước đến nơi này, khai phá đất đai, tạo lập một môi trường khả dĩ sống được cho những người đến sau. Bỗng dưng tôi thương tổ tiên tôi thuở trước đã khai phá, mở rộng giang sơn đất Việt. Bây giờ lũ con cháu phá cho tan hoang. Bây giờ lũ quái thai đem quê nhà đi bán, đi cho. Tôi đứng lặng trong gió, tay nắm chắc hai cán cờ nhỏ như cây bút, một cờ vàng với ba sọc đỏ, một cờ trắng với lá phong đỏ phất phới bay. Gió ập hai lá cờ lên mặt, tôi hít hà mùi vải mới. Hai lá cờ quê hương.
“Excuse me, what’s going on here?” Giọng nói của một người lạ cắt ngang dòng suy tưởng. Tôi quay qua nhìn. Một đôi thanh niên nam nữ nhìn có nét người Trung Đông đứng bên nhau, chờ một lời giải thích. Tôi nhìn ánh mắt tò mò của người thanh niên cao hơn tôi gần một cái đầu và cô gái đứng bên, tay kéo mép khăn trùm đầu che một phần khuôn mặt, để ló ra đôi mắt đen nhánh. Tôi mỉm cười với họ, thay cho câu chào và tôi sốt sáng giải thích cho đôi thanh niên nam nữ ấy về cái ngày 30 tháng Tư hơn bốn mươi bốn năm trước. “Lần đầu tiên tôi biết là đã từng có một nước Việt Nam Cộng Hòa!” Người thanh niên gật gù với vẻ thích thú.
“Thế còn lá cờ này?” Anh ta chỉ vào lá cờ vàng tôi cầm trong tay. “Cờ nước Việt Nam Cộng Hòa ngày trước,” tôi giải thích. Đôi bạn trẻ tròn con mắt ngạc nhiên. Nhìn nét trẻ trung trên khuôn mặt hai người tôi đoán họ không quá ba mươi tuổi. Tôi hăng hái kể cho họ nghe rằng trước đây Việt Nam bị chia thành hai quốc gia, như nước Đại Hàn bây giờ. “Yeah, I know, Kim Jong-Un.” Người thanh niên lẩm bẩm. Tôi kể vắn tắt rằng năm 1975, miền Bắc cộng sản xâm chiếm miền Nam, lá cờ tôi đang cầm trên tay là cờ Việt Nam Cộng Hòa ngày trước. Và tôi giải thích cho họ vì sao lá cờ di sản này mãi mãi là biểu tượng của tự do.
“Bây giờ ở Việt Nam người ta dùng lá cờ nào?” Người thanh niên lại hỏi. Tôi giải thích rằng bọn cầm quyền trong nước dùng lá cờ của Đảng Cộng Sản làm quốc kỳ, nhưng lá cờ tôi đang cầm trong tay mới là lá cờ của tự do, nhân bản và là di sản của cả một đất nước.
Tôi kể sơ cho đôi bạn trẻ ấy nghe về nền cộng hòa non trẻ của miền Nam nước Việt, về Sài Gòn, về Hà Nội, về Huế khi màu đỏ chưa loang trên dải đất quê hương.
Người thanh niên cảm ơn và nói bây giờ anh mới biết trước kia – khi anh chưa chào đời – đã có một nước Việt Nam đúng nghĩa. Trước khi dời bước, cô gái hỏi xin lá cờ vàng của tôi. Và cô nói một câu dài (nãy giờ cô chỉ chăm chú nghe), “I love the beautiful meanings this flag carries.” Tôi thích những ý nghĩa cao đẹp mà lá cờ này gói ghém.
Tôi tặng đôi bạn trẻ lá cờ. Cô gái cầm lá cờ trên tay, mắt cười rạng rỡ. Đôi bạn bước lẫn vào đám đông. Chiếc khăn trùm đầu cô gái Ả Rập phất phới bay cạnh lá cờ vàng ba sọc đỏ. Lại một hình ảnh tuyệt đẹp mà tôi có được ngày 30 tháng Tư năm 2019.
Tan lễ, tôi về không với hai lá cờ trong tay như ngày 30 tháng Tư những năm trước, nhưng trong ký ức tôi, hình ảnh người lính già “vẫn còn chứng chỉ tại ngũ” và hình ảnh cô gái Trung Đông cầm lá cờ quê hương tôi sẽ không bao giờ nhạt phai.
Khúc An

Comments are closed.

error: Content is protected !!