Thời Báo Vietnamese Newspaper

Khoa học thể thao

Khoa học kỹ thuật ngày nay có thể giúp các lực sĩ có được những phương pháp huấn luyện mới, và nhờ vậy tại các cuộc tranh tài thể thao, các lực sĩ đã có những cú biểu diễn thật ngoạn mục, liên tiếp phá đổ những kỷ lục cũ đã từng đứng vững từ bao lâu nay. Nhiều người tự hỏi với sự trợ giúp của khoa học kỹ thuật sẽ còn giúp đưa các lực sĩ tiến xa hơn bao nhiêu nữa, và giới hạn trong khả năng thể thao của con người sẽ dừng lại ở đâu?

Nếu sự tưởng tượng có thể trở thành hiện thực thì chắc hẳn nhiều người hâm mộ thể thao sẽ mơ tưởng một cuộc đua giữa hai lực sỉ điền kinh thuộc loại huyền thoại trong thời đại của họ: Usain Bolt và Jesse Owens.

Đây là Usain Bolt trên lằn đua của thế kỷ 21, với mặt phẳng được trải bằng loại nhựa dẻo láng, không trơn trượt dài 100 mét, được thiết kế để trong khi lực sĩ chạy năng lượng sẽ được nạp lại thật nhanh vào đôi chân.

Và kia là Jesse Owens đang đứng trên lằn đua của thời kỳ trước Đệ nhị Thế chiến, mặt đường đua được trải bằng thứ nguyên liệu mềm nhưng không bằng phẳng và khi chạy thì năng lượng từ đôi chân của lực sĩ bị hút ra.

Bolt, lực sĩ điền kinh huyền thoại gốc người Jamaica từng chiếm tám huy chương vàng Thế vận hội và hiện đang giữ kỷ lục thế giới ở hai môn điền kinh 100 và 200 mét trong gần một thập niên nay, chân mang loại giày rất nhẹ được đặc biệt chế tạo để chạy trên bề mặt được thiết kế và xây dựng với kỹ thuật cao. Trong suốt cuộc đời tranh tài của anh, Bolt luôn được tập luyện trong những chương trình huấn luyện tốt nhất trên thế giới. Đi máy bay có chỗ ngồi tốt nhất đến nơi tranh tài, có đầu bếp riêng để chuẩn bị cho anh những bữa anh hợp khẩu vị và đầy đủ chất bổ dưỡng cần thiết. Bolt đạt tới đỉnh điểm của sự nghiệp điền kinh vào lúc khi mà những vụ bê bối của những vụ sử dụng thuốc kích lực cũng đang ở đỉnh điểm của nó. Anh chưa từng bị thử nghiệm với kết quả dương tính, nhưng cũng như nhiều lực sĩ Thế vận hội hàng đầu khác, Bolt vẫn luôn bị dư luận nghi ngờ là có sử dụng thuốc kích lực một cách bí mật mà chưa bị khám phá, nếu không thì tại sao anh có thể giữ được một thể lực hoàn hảo trong gần một thập niên hầu như không bị suy suyển. Bolt đã phải trả lại một huy chương vàng của môn chạy tiếp sức tại Thế vận hội 2008 sau khi một bạn đồng đội bị thử có dương tính.

Owens, từng thắng bộ môn chạy 100 mét với thời gian được ghi nhận là 10.3 giây tại Thế vận hội 1936 – một trong bốn huy chương vàng ông lấy được tại Berlin – chân chỉ mang độc một đôi giày da rất bình thường. Bolt có thể khởi động cuộc đua thật nhanh từ bàn đẩy hiện đại nhất, nhưng Owens thì phải tự đào lấy “bàn đẩy” của mình với cái xúc đất của người làm vườn.

Owens lớn lên trong một nước Mỹ còn kỳ thị chủng tộc, nhưng may mắn có chút tài năng để trở thành lực sĩ điền kinh. Để tới được Berlin, Owens và nhiều lực sĩ Mỹ khác đã phải mất nhiều ngày trên tàu vượt Đại Tây Dương.

Bolt, từng chạy 100 mét với thời gian kỷ lục là 9.58 giây năm 2009 và đã giải nghệ vào năm ngoái, và cho đến nay vẫn được công nhận là người chạy nhanh nhất thế giới. Tuy nhiên, nhiều người vẫn thắc mắc là Bolt có thực sự chạy nhanh hơn so với những lực sĩ thượng thừa khác thuộc những thế hệ trước như Owens hay không? Và chúng ta đã học được điều gì về những kỹ thuật mới và những phương pháp tập luyện mới đã giúp con người bằng cách nào để đẩy được cái mức giới hạn khả năng của chính con người tiến xa hơn nữa?

Trong một hội nghị năm 2014, ký giả thể thao David Epstein đã dựa trên những dữ liệu nghiên cứu và chứng minh cho thấy nếu Owens cũng được chạy trên cùng một đường đua như Bolt, thời gian nhanh nhất Owens ghi được trong 100 mét (10.2 giây) hoàn thành chỉ một thời gian ngắn trước Thế vận hội 1936 – có thể chỉ thua khoảng một sải chân so với thời gian của Bolt (9.77 giây) trong cuộc đua 100 mét tại giải Vô địch Thế giới 2013.

Trong tám thập niên kể từ chiến thắng vẻ vang của Owens tại Thế vận hội Berlin 1936, những tiến bộ trong việc huấn luyện, thử nghiệm, kỹ thuật, thiết kế đồ mặc cho lực sĩ, và dụng cụ tập luyện đã giúp lực sĩ trở nên nhanh hơn, khoẻ hơn và chính xác hơn. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu tin rằng con người vẫn chưa đạt được mức giới hạn cao nhất về khả năng thể thao của con người.

Trong trường hợp tay bơi nữ Katie Ledecky, 21 tuổi, mặc dù được huấn luyện bằng những phương pháp truyền thống, nhưng Ledecky đã biết áp dụng các phương pháp khoa học thể thao để trở thành một trong những tay bơi nữ môn bơi tự do cừ khôi nhất thế giới. Từng thắng năm huy chương vàng Thế vận hội và hiện đang giữ hai kỷ lục thế giới tại Thế vận hội 2016 ở Rio de Janeiro, Brazil, Ledecky rất chịu khó theo dõi các kết quả nghiên cứu về dinh dưỡng và đã cho thực hành áp dụng trong chương trình huấn luyện của cô, và đồng thời nghiên cứu rất kỹ những đoạn phim thu lại các cuộc tập luyện và cuộc đua của chính cô để cố gắng tìm ra những cách thức mới để phát triển các cử động bàn tay và cánh tay của cô. Sự thành công của Ledecky thường được đánh giá là nhờ sự chăm chỉ tập luyện, nhưng điều bí mật thực sự đưa đến thành công của cô có thể là vì cô có được một trong những cú đánh sải tay hiệu quả nhất trong môn bơi lội.

Ledecky và các lực sĩ hàng đầu khác được may mắn sống trong thời đại với những tiến bộ kỹ thuật hỗ trợ cho các môn thể thao. Chẳng hạn như nghành khoa học y tế sức khoẻ giúp rất nhiều trong việc bảo vệ cho các lực sĩ tránh được nhiều rủi ro thương tích, giữ cho các lực sĩ có sức khoẻ tốt và bền bỉ. Một khi lực sĩ giữ được sức khoẻ tốt thì thường là thành công sẽ tới ngay sau đó. Tuy nhiên cũng cần phải nói thêm rằng một phần quan trọng trong sự thành công của các lực sĩ là nhờ ở tinh thần tranh đua và sự chăm chỉ luyện tập rất kỷ luật của họ.

Hiện nay các nhà nghiên cứu vẫn chưa thật sự đụng tới lãnh vực nghiên cứu thể thao mới – đó là sức mạnh của bộ não con người. Đây có thể là biên cương mới của ngành nghiên cứu khoa học thể thao trong 30 năm tới: làm thế nào để huấn luyện cho bộ não giống như người ta huấn luyện cơ thể. Đó là nơi mà ngành nghiên cứu khoa học thể thao trong tương lai có thể đạt được những tiến bộ mới.

Huy Vũ

Comments are closed.

error: Content is protected !!