Hải đội Hoàng Sa (kỳ I)

Bài – ảnh: Trần Công Nhung

 

Cho đến khi giặc vào nhà “cắm dùi”, sử cũ mới được khơi nóng trở lại, Hoàng Sa – Trường Sa mới được nhắc đến. Ðối với quần chúng đây là vấn đề sống còn của tổ quốc nên nhiều tầng lớp nhân dân đã nổi lên phản kháng dưới nhiều hình thức. Nhưng về mặt chính quyền do tế nhị ngoại giao, tránh né không muốn phiền lòng láng giềng anh em (16 chữ vàng 4 tốt) nên không ra mặt. Từ đó bao nhiêu người chỉ vì yêu nước mà bị tù đày (với tội danh chống phá nhà nước).

Hoàng Sa – Trường Sa là hai quần đảo thuộc chủ quyền Việt Nam từ thời Trịnh Nguyễn, khi các chúa Nguyễn mở cõi về phương Nam. Ðây là hai đồn tiền tiêu của quân lính VN ở biển Ðông thời ấy. Năm 1786 đã có hải đội ra đảo Hoàng Sa.

Hải đội Hoàng Sa là nói về các đội thủy binh do triều đình phái ra các quần đảo Hoàng – Trường Sa (Bắc Hải), tuần tra, cắm mốc chủ quyền và sưu tầm các vật quí. Lịch sử nhà Tây Sơn và triều Nguyễn đã lưu lại nhiều chứng tích về hoạt động của các đội hùng binh (Sắc lệch của Thái Ðức Nguyễn Nhạc- của Gia Long – Minh Mạng). Tuy nhiên những trang sử oai hùng của bao nhiêu lớp người đã hy sinh ngoài biển cả để gìn giữ biên cương, thời cận đại không hề nhắc đến. Thậm chí năm 1974 Trung cộng đánh chiếm Hoàng Sa, quân lực VNCH đã đơn phương chống trả, trên 70 chiến sĩ đã hy sinh, lại bị xem như một đòn giáng xuống đầu “ngụy quân ngụy quyền”.

Nhưng, muốn hay không, đến một lúc, nhà nước cũng lui về quá khứ dựa vào sử cũ để chống đỡ kẻ chiếm nhà mình. Từ đó chủ đề Hoàng Sa – Hải đội Hoàng Sa – Hùng binh Hoàng Sa luôn nghe thấy trên các phương tiện truyền thông. Ðiều bi hài là trận hải chiến giữa quân đội VNCH và Trung cộng lại được “nhà nước ta” trang trọng ngợi ca, và cũng chỉ trong hoàn cảnh éo le này Thủ Tướng Dũng mới bấm bụng mà gọi đích danh chính phủ VNCH và xác nhận Hoàng Sa trước 75 thuộc chủ quyền VNCH.

Theo sử ghi, họ Võ là dòng họ đầu tiên đưa binh phu đi Hoàng Sa, được cả triều Tây Sơn và triều Nguyễn trọng dụng, được phong tước “Hầu” cao nhất so với các họ khác ở đây. Dòng họ này hiện còn lưu giữ tờ lệnh của năm Thái Ðức Nguyễn Nhạc thứ 9 (1786) và xem đó là một bảo vật của tộc họ nên luôn được giữ gìn cẩn mật. Mỗi khi muốn lấy ra xem cả họ phải họp tại nhà thờ cai đội Võ Văn Khiết, làm lễ hương đèn cáo bạch xin phép để tỏ lòng tôn kính vong linh Tổ, vừa cho con cháu thấy giá trị của bảo vật. Phải cẩn thận như thế, vì sau 75 miền Nam thất thủ nhiều địa phương đền miếu, di tích cổ bị phá hủy, trong đó có nhiều chiếu chỉ, sắc lệnh văn tự của thời trước.

May thay nhiều dòng họ của đảo Lý Sơn vẫn giấu được sắc lệnh vua ban liên quan đến việc ra đi thiết lập chủ quyền và giữ gìn biển đảo ở Hoàng Sa. Tờ lệnh của Thái Phó Tổng Lý quản binh dân chư vụ Thượng Tướng công được phong ngày 14-2-1786 (năm Thái Ðức thứ 9 Nguyễn Nhạc), lệnh cho ông Võ Văn Khiết đưa binh phu đi Hoàng Sa thu lượm vật quí đã bị mất bản gốc. Hỏi ra được biết hồi đó có ông Diệp Ðịnh Hoa (viện Hán Nôm) và ông Trần Văn Cầu (viện Khảo cổ học) được chính quyền cử đến gia tộc họ Võ “mượn” tờ lệnh để nghiên cứu. Các ông hứa sau khi nghiên cứu xong sẽ trả lại bản gốc. Nhưng rốt cuộc họ Võ chỉ nhận được bản photocopy. Người con họ Võ (tập kết ra Bắc) đến gặp hai nhà nghiên cứu nói trên để đòi lại tờ sắc lệnh, nhưng cũng chẳng được gì.(1).

Từ ngày mất bản gốc của sắc lệnh, dòng họ Võ chỉ còn giữ bản photocopy. Ðó là lý do tại sao sắc lệnh này công bố trễ (năm 2009) hơn các sắc lệnh của các dòng họ khác trên đảo, vì sợ thêm một lần nữa mất luôn sắc lệnh.

Gia phả họ Võ (Võ Văn Khiết chấp bút) cũng có ghi: cai đội Võ Văn Khiết là người đầu tiên ở đảo Lý Sơn ra Hoàng Sa năm 1786. Ðiều đáng nói là dù có quy định con trưởng ở Lý Sơn không phải sung quân đi Hoàng Sa, nhưng con cháu của ông Khiết: Võ Văn Phú, Võ Văn Hùng, Võ Văn Sanh… đều ra Hoàng Sa làm nhiệm vụ. Ông Võ Văn Phú (con Võ Văn Khiết), dưới triều Minh Mạng là người hướng dẫn thủy binh ra Hoàng Sa cắm mốc chủ quyền.

Năm 1789, khi 15 ghe lớn của Tàu ô vào đảo Lý Sơn cướp phá đã bị dân đảo Lý Sơn (họ Võ cùng các họ khác) đánh đuổi.

Sau khi dẹp được quân Tây Sơn, vua Gia Long trả thù quan lại nhà Tây Sơn tàn khốc, nhưng với dòng họ Võ ở Lý Sơn, nhà vua vẫn tiếp tục trọng dụng. Vẫn giữ nguyên tước “Hầu” do nhà Tây Sơn ban cho Võ Văn Khiết (Khâm sai thiết thủ Sa Kỳ hải môn kiêm tri Hoàng Sa cai cơ thủ ngự Phú Nhuận Hầu) và còn được Vua Gia Long phong tước Hội Nghĩa Hầu. Các nhà nghiên cứu cho biết, “Chức chánh suất đội, phó vệ úy… nhà triều Nguyễn ban cho các dòng họ ở Lý Sơn sau này, đều nhỏ hơn so với tước “Hầu” mà họ Võ được ban”.

Cuối thôn Tây, xã An Vĩnh, có nhà thờ và mộ của cai đội Hoàng Sa Võ Văn Khiết.

Theo lời chỉ dẫn của ông Ðạt (xem bài Mộ gió), tôi đi tìm thăm nơi thờ của vị Cai Ðội đầu tiên ra cắm mốc chủ quyền đảo Hoàng Sa.

Có những chuyện người ở xa đến cho là quan trọng, người địa phương thì ú ớ chẳng thiết gì, tôi đã đứng ngay xóm có mộ Võ Văn Khiết nhưng hỏi ai cũng ngơ ngác, lại còn chỉ chỗ nọ chỗ kia rất mất thì giờ. Ði lần về bến tàu, hỏi mấy người lớn họ cũng tù mù lẫn lộn nhà thờ và mộ gió. Một bác cả quyết mộ gió Võ Văn Khiết là miếu ông Thắm ở thôn Tây. Ông quay sang một chị đang ẵm con nhỏ nói như ra lệnh “Mi dẫn ổng đi chút đi”. Chị này lại tìm cách thoái thác bảo về làm vịt chuẩn bị cháo chiều bán. Tôi hỏi ngay:

– Quán chị chỗ nào?

– Chỗ đầu đường xuống bến tàu.

– Ðược rồi, chị giúp tí, chiều tôi ăn cháo.

Chị bán cháo vui vẻ gửi con, đạp xe đi trước tôi theo sau. Nhà thờ ngay chỗ sửa xe vào chừng 20m vậy mà mấy anh thợ chẳng hề biết.

Cổng nhà thờ khóa, tôi tần ngần chưa biết làm sao, chị bán cháo bảo “Cửa cột dây, bác mở mà vô”. Ðúng là cửa chỉ quấn sơ sợi kẽm nhỏ.

Nhà thờ ba cửa vòm cao rộng, bốn cột bốn câu đối đỏ kẽ chữ vàng, hoa văn trang trí Tứ Linh hoa lá, hơi rườm rà. Ba gian cửa pa nô, có bàn thờ lộng che trước hiên, hai bàn mỗi bàn có đủ lư hương chân đèn, bàn trước thấp, thay vì khung ảnh người chết lại là khung tranh khảm xa cừ. Bàn sau cao hơn cũng một bộ tam sự bằng đồng thay vì bằng sứ. Án thờ khá trang trọng nhưng không biết thờ ai. Ba gian chánh điện cửa khép, tôi tự động vào. Ba án thờ, đầy đủ đồ tế tự: Lư hương, chân đèn, bình hoa, hạc chầu… Trên có nghi môn, cửa võng chạm trỗ công phu. Án thờ gian giữa trang trọng hơn hết, phía trước là bàn thờ gỗ quí cẩn xa cừ, đồ tế tự lớn và tinh xảo hơn. Sau lư đồng là bức tranh gỗ khảm xa cừ cảnh trời mây. Hai hạc đỏ đặt hai bên lư hương, hai hạc vàng cao to chầu trước tủ thờ. Phía trong, bệ thờ xây thấp hơn, đồ thờ cũng đầy đủ như vậy, hai hạc gỗ sơn vàng, hai hạc đồng bài trí trên bệ đều nhỏ gọn hơn. Hai gian bên, bệ thờ thấp hơn bàn thờ gian giữa, đồ tế tự đơn giản bằng sành, chỉ có khung ảnh thờ là giống nhau. Có lẽ đây là mô tả cảnh thanh tịnh thay cho ảnh người quá cố.

Rảo quanh khuôn viên nhà thờ tìm mộ của hùng binh hải đội đầu tiên bỏ mình vì nước, tôi không thấy dấu hiệu gì. Ðối diện điện thờ, sát bờ thành, có một “hoa viên” nhỏ, một bình phong đắp phù điêu ngựa, hai bên hai trụ cao, đầu trụ có tượng nghê chầu. Trước bình phong có một nền xi măng bằng mặt bàn cao hơn mười phân. Giữa có khoét lỗ trong dựng một cục đá lớn không rõ hình thù, lồi lên chừng 20cm. Hai trụ xi măng cao chừng 1m như để kềm giữ đá, có chậu kiểng trang trí hai bên. Không một chú giải nào về khu vực này. Tôi nghĩ đây có thể là mộ gió của Cai đội Võ Văn Khiết.

Cha Võ Văn Khiết là ông Võ Văn Thắm nguyên là lý trưởng làng An Vĩnh đã xin triều đình cho lập đền thờ Võ Văn Khiết tại xóm Vĩnh Thành (thôn Tây) xã An Vĩnh huyện Lý Sơn. Ngôi đền thờ nằm trong khu đất của dòng họ Võ, dân địa phương quen gọi là miếu ông Thắm.

Võ Văn Khiết và con cháu dòng họ Võ là những hùng binh tiên chinh ra Hoàng Sa, đã hy sinh mất xác để làm tròn nhiệm vụ với đất nước. Liệu những trang sử này có được truyền đạt đến lớp trẻ hôm nay, hay chỉ nhồi nhét những chủ thuyết ngoại lai, tôn vinh sùng bái những “anh hùng” xa lạ?

Trần Công Nhung

h2

__________________________________

 

h4

(1) Ở VN chuyện này quá bình thường. Khảo cổ mượn 600kg xương cá voi để nghiên cứu rồi xin luôn (Ngư Linh Miếu trong QHQOK tập 17). Mới đây TV “chuyển động 24 giờ” có những chuyện ngộ nghĩnh: “mua nhà 15 năm vẫn chưa xin được sổ đỏ – Mà có rồi chưa chắc đã yên. Vì từ trắng qua hồng qua đỏ, biết đâu rồi sẽ “xanh lam chàm tím!”, mỗi lần đổi màu là mỗi lần hầu quan (chức) mất bạc triệu. Mua nhà trả xong nợ cả chục năm, nay có giấy đòi tiền đất hàng trăm triệu đến cả tỉ. “Bó tay”!

More Stories...