Thời Báo Vietnamese Newspaper

Góc của Phan: Những câu hỏi…

Phan

Tôi thường tự đặt ra cho mình những câu hỏi, rồi sau đó đi tìm câu trả lời, là cách tự học hỏi mà tôi cho là thiết thực nhất. Như từ nhỏ tôi đã tự đặt ra câu hỏi về con gà bé xíu trong cái đồng hồ treo tường. Nó ăn gì, sinh sống ra làm sao, mà có thể mỗi tiếng đồng hồ, cây kim phút cứ chỉ đúng số 12 là nó chui đầu ra khỏi vuông cửa sổ bé xíu trên cái đồng hồ và cất tiếng gáy?

Cho đến đêm hè khó ngủ vì sợ ma, tôi lại nghe tiếng con gà bé xíu gáy từ vuông cửa sổ bé xíu nơi cái đồng hồ treo tường trong không gian tĩnh lặng, vì các anh tôi đi chơi khuya chưa về.
Khi các anh tôi về, chắc đã thấm mệt nên ngủ khò ngay. Tôi nằm nghe mưa rơi lộp độp trên mái nhà, rồi mưa giông gào thét vì anh em tôi ngủ trên lầu nên rất gần mái nhà. Tiếng mưa đêm dịu lại sau cơn giông là tiếng mưa dầm chen chúc với tiếng ếch nhái, ểnh ương ngoài đồng…
Cảm giác sợ ma đã không còn ám ảnh tâm trí tôi vì đã có các anh tôi nằm bên cạnh, chắc là thế nên toàn tâm tôi tập trung vào tiếng đồng hồ treo tường lại gáy. Tôi không có khái niệm là đã thêm một tiếng đồng hồ nữa trôi qua nên gà lại gáy. Lúc ấy (không biết sao) tôi lại nghĩ là con gà này tuy nhỏ, nhưng cũng tới lúc nó biết đẻ trứng… nên gáy hoài!

Vậy cái trứng của nó chừng bao lớn, có ăn được không ta? Và, chắc là ngon lắm!
Tôi ngủ hồi nào không biết, nhưng sáng hôm sau còn nhớ những ý nghĩ đêm qua về con gà tí hon trên vách tường. Tôi đợi cha mẹ, các anh tôi đều rời nhà cả. Tôi nói với thằng em tôi, “Tối hôm qua, tao ngủ một mình trên lầu, sợ lắm, cho tới lúc các anh đi chơi về mới hết sợ ma. Rồi trời mưa giông nên tao ngủ không được, nhưng bớt mưa thì tao nghe được tiếng con gà trong cái đồng hồ treo tường đẻ trứng!”
“Thật không?” – Em tôi hỏi.
“Không biết có đúng không? Vì có lúc tao nghe nó gáy như gà trống, hồi thì nó cục tác như gà mái. Hay con gà trống chui đầu ra gáy để báo giờ, còn con gà mái ở trong, thì tao không biết! Tao chỉ biết là cái trứng bé xíu của nó thì ngon lắm, béo hơn nước cốt dừa…”
Tôi chỉ nói thế với em tôi, nhưng sau đó tự ra chuồn gà, nhắc cái thang tre vào để dựa vách tường, đi lấy cái búa, để ở góc tường như ai quên đem cất sau khi dùng… Rồi tôi bỏ đi chơi với bạn nhỏ trong xóm vì đang nghỉ hè thì đâu phải đi học.

Chừng đủ thời gian cho nó leo thang, lắc cái đồng hồ treo tường tới rơi xuống nền nhà, mở tung hết ra để kiếm trứng gà bé xíu như trứng thằn lằn nhưng béo hơn nước cốt dừa, thì tôi phải có mặt đúng lúc để chia trứng chớ.
Trên đường từ bờ sông về nhà, bỏ lỡ buổi đi tìm bình bác chín bói ngoài sông cũng uổng, nhưng hấp lực của cái trứng gà bé xíu như trứng thằn lằn hấp dẫn hơn. Tôi có tính lo xa và chu đáo từ nhỏ nên tôi nghĩ ngay đến cái lon thịt hộp ba lát của lính Mỹ – mới ăn hôm qua. Nay bắc cái lon ấy lên ba cục gạch thẻ, đổ ít nước luộc trứng, rồi đốt đèn cầy bên dưới tới nước sôi là vừa ăn…
Ôi trứng luộc thơm ngon, béo hơn nước cốt dừa. Nếu được hai trứng thì chia đôi với thằng em mỗi đứa một cái. Nhỡ chỉ có một thì sao ta? Đến phải nói với nó, ăn trứng tí hon thì người ta ăn vỏ, ngon hơn ăn trứng. Nó sẽ nhảy dựng lên, “Vậy tao ăn vỏ… mày là anh tao nên phải nhường tao!”

Dòng suy tính miên man trong đầu óc tôi chỉ dừng lại khi về tới nhà – với hoàn cảnh chưa từng nghĩ tới! Thằng em tôi đã đập tan tành cái đồng hồ trên nền nhà. Nó không sợ cây roi mây, cây chổi lông gà, mà còn khóc lóc thảm thương với bà vú, “… thằng Mập tối qua không ngủ. Nó ăn hết trứng gà tí hon của con rồi!”
Mẹ tôi cũng đi chợ về tới. Bà vú răng đen oang oác như con con quạ già, “Tôi mải cho gà ăn, lợn ăn sau nhà. Tất tần tật là mưu toan của cái thằng Mập đa mưu túc kế như ông nhà. Nó bày vẽ ra thang, ra búa cho thằng bé làm theo ý nó, nhưng nó không phải đòn vì phá hoại đấy! Bà liệu mà bắt tội cái thằng Mập ranh mãnh này, chứ chả phải thằng bé. Bé thế này thì biết gì mà bày mưu lập kế…”

Thế là tôi ăn một trận đòn thê thảm. Mẹ tôi ghét tính ranh ma chứ không hề nhẹ dạ cả tin bà vú. Dù sao tôi cũng tung được một nắm cát vào mặt bà vú để trả thù lúc bà ấy quét sân sau nhà. Tôi gọi vú ơi cứu con từ trên cây vú sữa, bà ấy ngửng mặt lên để lấy chứng cớ đi mách tôi tiếp về tội cấm trèo cây vú sữa, chứ bà ấy chỉ cứu thằng em tôi thôi, vì tôi cũng ưa dộng mấy đứa con bà ấy khi có tranh chấp đồ chơi, bánh trái…
Tôi cho bà dụi mắt đã đời hôm ấy. Còn tôi bỏ trốn quanh những nhà háng xóm tới tối mới về nhà, khi bố tôi về nhà thì tôi mới về, để ba mặt một lời, bà dám nói tôi đa mưu túc kế như ông nhà… thì bà cuốn gói đi cho. Bà dám bỏ đói quý tử của bố phải đi xin cơm ăn, xin nước uống ở nhà hàng xóm thì tội bạ không thể tha.
Bao nhiêu tính toán để cuối cùng bị bố tôi rút dây thắt lưng bằng da bò, phết cho tôi thêm một trận chỉ còn có lết chứ hết đi nổi vì cái tội dám hỗn hào, vô lễ với bà vú.

Nhưng tôi vẫn kiên trì đặt ra cho bản thân nhiều câu hỏi khác để tự đi tìm câu trả lời. Khi hiểu được một điều không hiểu bằng cách tự tìm tòi. Con người có cảm giác khó tả dù cảm nhận rất rõ ràng về sự hài lòng. Quá trình tìm tòi đôi khi đưa ta đến một phát minh không ngờ thì càng thú vị. Như quê tôi nhiều tôm cá, nhưng người ta muốn ăn con tôm thì dường như chỉ có hai cách là nấu hoặc nướng. Tôi thì chặt trái dừa bị mới hái trên cây xuống, vạt nắp chứ không bửa đôi; rồi nhúng vào trái dừa chừng chục con tôm mới lưới lên từ sông. Tôm đỏ hồng bởi trong nước dừa tươi có ga, tôm tươi lại ngọt thêm ngọt nước dừa, ngậm mà nghe… Thế là cả lũ trẻ trong xóm bắt chước, đến người lớn cũng nhậu món tôm nhúng nước dừa vì khỏi củi lửa gì hết mà lại ngon; đến mấy chục năm sau mới thấy món ấy được những công ty du lịch trong nước quảng cáo trên mạng. Ôi thôi họ nói quá lời về món ăn đặc sản Việt nam từ ngàn đời. Thật ra chỉ là một món dân dã, món quê mùa thôi.

Rồi tôi nấu cơm bằng ống tre từ bé, khi đi đồng bắt cua, thì nấu cơm bằng ống tre ngoài gò mả, ăn với cua nướng, có chút muối tiêu, muối ớt càng ngon. Vậy là cả đám bạn nhỏ trong xóm bắt chước nấu cơm ống tre. Hồi đốt quá lửa thì cơm hơi vàng, ăn như cơm gạo sấy của lính, nhưng ngon hết vì lạ miệng. Về sau, đi rừng mới biết người dân tộc nấu cơm bằng ống tre từ khi tôi chưa ra đời. Nhưng niềm vui tuổi nhỏ vẫn còn đó khi nghĩ ra được việc khác thường.
Những ký ức cứ còn mãi như khi phải chờ đợi ở phi trường, bệnh viện… tôi hay tự trách sao bây giờ mình thiếu kiên nhẫn như hồi nhỏ chờ đợi lúc hết người lớn trong nhà đi vắng là một dịp hiếm hoi để hỏi thăm sức khoẻ cây quạt máy, tại sao nó quay được, tạo ra gió liên tục mà không tay người nào có thể quạt liên tục được như vậy? Một câu hỏi nhỏ thôi nhưng phải nhiều năm tìm tòi sách vở trong hoàn cảnh khan hiếm sách khoa học sau hoà bình. Cuối cùng tôi cũng tự làm được một cây quạt máy nhờ chơi với thằng bạn mà cha nó làm nghề quấn mô-tơ nên tôi học hỏi bằng thực tế giúp việc vặt cho cha nó để học nghề.

Tôi thăm hỏi bác tivi thì không dám vì đó là vật rất mắc tiền khi tôi còn nhỏ vì cả xóm chỉ vài nhà có tivi để đêm đêm chòm xóm bu lại xem truyền hình. Nhưng tôi vẫn tin là trong tivi có ông tí hon thường đọc tin tức cho bố tôi nghe. Ông ấy ăn ngủ trong cái tivi… toàn thân ông ấy chắc chỉ chừng bằng trái dưa leo, trái chuối sứ…
Rồi tuổi thơ qua đi theo chiến cuộc Mậu Thân. Tuổi xa nhà theo vận nước nổi trôi nay đi làm rừng, mai đi biển đánh cá, cũng học hỏi được nhiều, tự trả lời được nhiều câu hỏi do tự mình đặt ra. Đến tuổi may mắn được trở lại trường lớp học hành để biết văn minh phương tây, văn hoá phương đông này nọ… thì tuổi bươn trải với đời cũng liền kề. Hôm đó, cha con tôi về nhà thăm mẹ, thăm bà nội. Vợ chồng thằng em sống với mẹ tôi vì là con út trong nhà. Cô em dâu tử tế nên ra đầu ngõ mua rổ tôm tươi mới đánh bắt về cho anh em tôi nhúng nước dừa, uống bia…
Quà của bác Mập về thăm bà nội mua cho thằng cháu mới chập chững biết đi là cái xe cảnh sát chạy bằng pin. Thằng cháu thích quá, nhưng thằng con tôi đã bốn tuổi. Nó chau mày suy nghĩ về mấy cái đèn xanh, đỏ, vàng trên xe cảnh sát làm sao lại nhấp nháy hấp dẫn vậy? Rồi tiếng còi hụ của xe từ đâu phát ra…? Nó có ý định mở tung cái xe cảnh sát đồ chơi đó ra để thoả mãn tò mò! Nhưng chú nó bảo, “Con đừng mở ra, sẽ hư cái xe của em. Để cho nó chơi. Chừng nào đèn xe hết nháy, còi xe hết hụ là hết pin. Đưa cho chú, chú thay pin mới cho chơi tiếp… biết chưa!”
Nó dạ dạ chú nó cho qua chuyện. Nhưng sau đó, nó lặng lẽ lấy cái búa nhựa trong thùng đồ chơi của thằng em nó, lặng lẽ giúi vào tay thằng bé, hất hàm ra lệnh!

Thằng em tôi giả bộ như thấy mà không thấy để theo dõi câu chuyện… rồi phá ra cười to, nói với mẹ tôi, “Mẹ coi kìa! Con anh Mập y chang như anh Mập hồi nhỏ, xúi con đập bể tan tành cái đồng hồ treo tường có con gà gáy của bố…”
Tôi nhìn di ảnh bố tôi trên bàn thờ, cũng thấy ông cười cười với thằng con “giống ông nhà…” Chỉ thương bà vú già đã khuất núi khi anh em tôi đủ lớn để biết ơn bà chăm lo cho chúng tôi khi nhỏ mà cha mẹ lại thường vắng nhà.
Không bỗng nhiên ngồi nhớ lại chuyện xưa, vì nắng hè trưa nay đã gay gắt giàn mướp ngoài sân sau nhà đến rũ lá mướp. Cái nắng chói chang xưa có anh em, bạn nhỏ trong xóm để bày trò nghịch ngợm. Nay nắng vàng như nghệ ngoài sân, tôi chỉ còn một mình ngồi nhớ về ngôi nhà tuổi nhỏ. Cha mẹ đã quá vãng từ lâu, đến thằng em nhỏ cũng qua đời vì bạo bệnh đã vài năm. Sao tôi vẫn thế với trong lòng lúc nào cũng là những câu hỏi… Tại sao người ta chết đi thì những chuyện về người đã chết ấy lại không được xóa bỏ trong ký ức những người còn sống cho đỡ buồn? Tại sao nghĩ tới bao giờ cũng có cái hứng thú của chinh phục, còn nhớ lại thường chỉ là chuyện buồn? Và, tại sao khi người ta không muốn hiểu biết thêm chuyện gì nữa cho nặng đầu, mệt lòng… thì những câu hỏi cũng cứ bám víu lấy, nhận chìm sự thư thả, thanh an, vì tìm tòi nào chả lắm công, nhiều suy nghĩ…

2.
Và rồi! Tôi cũng mới vừa tìm được câu trả lời cho một câu hỏi đã lâu trong tôi. Hồi mới qua Mỹ, hôm tôi vô phòng ăn của hãng để lấy thuốc uống trong túi đựng thức ăn trưa của tôi. Vì vào phòng ăn không phải giờ ăn trưa nên phòng ăn vắng hoe – chỉ một người bạn cũng là người Việt nam. Anh ta đang ngồi ăn ngon lành những món Mỹ trong những khay đựng thức ăn cỡ lớn. Anh ta mời tôi ăn. Tôi từ chối vì người đang không khoẻ, không muốn ăn. Anh ta nói với tôi, “Không phải thức ăn tôi mua đâu mà ông ngại. Đây là đồ ăn dư trên văn phòng, người ta bưng xuống phòng ăn là cho không. Ai muốn ăn thì ăn. Ông ăn miếng đi. Ngon lắm! Không ăn là chút nữa tới giờ giải lao, tụi Mỹ đen thanh toán hết liền cho coi! Tôi hên, đi lên văn phòng có việc nhưng lại gặp được mớ thức ăn này mới từ trên văn phòng bưng xuống. Tôi mà biết trước thì đã bỏ cơm trưa…”

Hình như tôi đã bị sốc với mấy chữ “đồ ăn dư”. Dĩ nhiên tôi không dám nói ra suy nghĩ nào hết vì anh bạn là người sang Mỹ trước tôi nhiều năm, làm việc ở hãng này đã lâu năm, lại đang dạy nghề cho mấy anh em người Việt mới được hãng nhận vô làm mà tôi là một.

Cảm giác của tôi từ tự ái bị xúc phạm khi có người mời tôi ăn thức ăn dư của người khác. Cảm giác ấy được một ông bạn cũng làm chung xoa dịu khi tôi kể cho ông nghe. Ông nói với tôi, chuyện ấy thường thôi. Ở hãng xưởng nào cũng vậy. Khi trên khối văn phòng có tiệc, thường là bữa ăn trưa mà hãng đãi khách khứa của hãng đến viếng thăm. Xong bữa, còn bao nhiêu thức ăn còn lại, những người trên văn phòng họ thường dọn hết xuống phòng ăn cho ai muốn ăn thì ăn. Đó là thức ăn thừa, nhưng là thức ăn mới chứ không phải ăn dư như anh nói. Bao giờ tôi ăn không hết phần ăn của tôi, tôi bỏ mứa, rồi nói anh ăn đi thì mới gọi là thức ăn dư…
Tôi cự. “Anh lẻo lự. Thức ăn dư với thức ăn thừa cũng là người ta ăn thừa mứa chứa chán rồi quẳng xuống phòng ăn này cho đám công nhân. Tôi cũng là công nhân, nhưng sẽ không bao giờ ăn thừa của ai hết. Tôi không đủ tiền mua thịt cá thì mua khoai về nhà luộc lên ăn, chứ không ăn của dư thừa của người khác…”
Những hãng xưởng tôi đã làm qua trong nhiều năm qua, vẫn diễn ra hình ảnh cũ là thức ăn dư thừa trên văn phòng được dọn xuống phòng ăn cho ai muốn ăn thì ăn. Tôi quen mắt đến vô cảm nếu là một ai đó không phải người Việt nhúng tay vào những khay thức ăn dư thừa; nên tôi càng buồn thầm trong lòng nếu là cô em, bà chị, ông anh, thằng bạn người Việt của tôi tham gia nhiệt tình. Tôi thường trở lại chỗ làm với câu hỏi cũ từ khi sang Mỹ, “người mình đâu có ai nghèo, sao lại có thể ngồi xuống ăn, thậm chí sau bữa cơm trưa thì múc lấy múc để để đem về nhà những thức ăn dư thừa của người khác. Thà là những bữa cả hãng đi chơi ngoài hồ, ăn thịt nướng. Khi về còn nhiều thứ không ăn hết, ai muốn lấy thì lấy… Chuyện ấy khả dĩ chấp nhận được, khả dĩ thôi vì phần thức ăn dư thừa ấy nên dành cho những người dọn dẹp”.

Rồi một hôm, chỉ là bà Mỹ đen ngồi bắt điện thoại ở cửa ra vào chánh của hãng. Bà ấy là ai mà lớn tiếng ở phòng ăn, “Nếu lần sau, những ai ăn thức ăn dư trên văn phòng mang xuống mà không dọn bàn, bỏ những khay không còn gì vào thùng rác thì bà ấy sẽ không mang xuống nữa…” Có những đôi mắt nhìn nhau vô nghĩa, những nụ cười quái gở trên môi người…
Nhưng bà Mỹ đen lại bưng thức ăn dư thừa từ văn phòng xuống. Bà chỉ răn đe người khác khi có thể để trả thù bà bị sai vặt như con rối trên khối văn phòng. Bà xuống xưởng nên cũng cần thị uy cho thiên hạ biết bà là người trên văn phòng, còn bà làm gì trên văn phòng thì ai có việc hay lên văn phòng mới biết!
Rồi hôm qua cuối tuần, giờ nghỉ giải lao buồi chiều. Tôi với ông bạn già không hút thuốc nhưng cũng ra gốc cây bàn chuyện thiên hạ sự với anh em. Chúng tôi trở vô khi hết giờ. Vừa đẩy cửa phòng ăn để mở tiếp cửa xuống xưởng thì chị Việt nam tôi đang cãi nhau với cô Mỹ đen nọ về thức ăn thừa từ văn phòng mang xuống…
Chị phân bua với tôi và ông già, “Cái con Mỹ đen này nó tưởng nó là ai mà không cho tui lấy. Tui đâu có trâu như nó mà mới ăn trưa xong lại có thể ăn tiếp. Tui ăn không nổi thì tui đem về nhà tui tui ăn. Nó nói tui ăn tại chỗ thôi, ăn được bao nhiêu thì ăn. Còn lại để cho người khác, chứ không được đem về nhà. Trời ơi! Đồ ăn trên văn phòng ăn dư, ai muốn ăn, muốn lấy gì chả được. Nó có quyền gì?”

Chị không nhận được phản ứng đồng tình của hai thằng đàn ông người Việt dửng dưng nên chị sượng như khoai bị hà… Tôi thì thấy miệng mình đắng nghét như ăn khoai lang sùng. Hình ảnh những người chị, người bạn đồng hương đứng múc khoai tây nghiền, ít xà lách còn dư vào hộp ăn trưa đã ăn rồi của mình để chiều đem về nhà như một nỗi ám ảnh mà tôi phải chịu đựng trong đời sống Mỹ của một người di dân từ khi tôi đến đây.
May sao lần này ông bạn già của tôi giải thích cho tôi khi cả hai trở lại chỗ làm. Ông không cù nhầy như ông bạn trước ở hãng cũ đã phân biệt thức ăn dư với thức ăn thừa một cách rất ba mứa. Ông bạn lần này của tôi nói gọn lại với tôi, “Đó là nghiệp ngã của mỗi người. Có gì đâu mà anh trầm ngâm. Anh vui hay anh buồn đều không thay đổi được nghiệp chướng của người khác.”

Tôi trả lời, “Cảm ơn ông già khai minh. Tôi thật là khó chịu cái chuyện này từ khi sang đây, đi làm hãng tới nay. Nhưng chưa bao giờ dám lên tiếng, nên cứ để lòng.”
Ông bạn tôi từ từ minh hoạ cho tôi khai trí!
“Tôi kể cho anh nghe về người nhà của tôi chứ không phải chuyện người ta. Thằng em tôi làm ăn rất thành công ở Sài gòn. Giấy tờ bảo lãnh của gia đình nó đã hoàn tất, nhưng vợ chồng nó cứ bay đi Mỹ như đi chợ mà chưa chịu đi bảo lãnh vì sợ sang đây không có cơ hội làm ăn như ở Sài gòn. Rồi cuối cùng cũng phải đi vì con cái cần sang bên này để đi đại học. Sang tới là mua nhà mới, mua mấy cái xe mới trả dứt một lần. Mua thêm nhà cũ để cho thuê… Gia đình thằng em tôi sống sung túc ở Mỹ với thu nhập từ những cơ sở làm ăn của nó còn bên Việt nam. Nó cứ tà tà ăn chơi một thời gian, chờ cơ hội, có thời cơ thì nó làm ăn bên Mỹ, không thì cứ sống với thu nhập từ Việt nam tới con cái ổn định việc ăn học thì cha mẹ lại về Việt nam để làm ăn.

Rồi cô em dâu tôi sinh buồn chán vì ở không. Tự dưng đi nhận lời chăm sóc người già tại nhà cho người ta. Thế là ngày ngày phải tắm rửa, cho ăn, nấu ăn, giặt giũ cho một bà cụ. Dần đến dọn dẹp, giặt giũ cho cả nhà chủ. Thế mà con cái của bà cụ lại còn hăm dọa đuổi việc nếu không chịu ở lại đêm để trông nom bà cụ. Cô em dâu tôi về thương lượng với chồng không được vì thằng em tôi nó đâu chịu cho vợ đi làm ô sin cho người ta…
Tôi cũng thấy lạ với cô em dâu từng là chủ cả, về thăm nhà bên Việt nam chỉ thấy cô ấy chỉ tay năm ngón, sai khiến người ăn kẻ ở thôi chứ có đụng đến việc nhà đâu! Nhưng đêm nằm nghe bà xã tôi giảng giải: Thím nó trả nợ nghiệp đó ông à! Thím ở Sài gòn, nhà thím ô sin nhiều tới mức vô lý… nên khi về già, thím đi làm ô sin cho người ta, chứ đâu phải thím cần tiền.

Tôi đâu có ngờ bà xã tôi am hiểu sâu sắc tới mức đó! Tôi tưởng bà ấy chỉ đi chùa cho khuây khoả ngày rằm như anh em mình nhà có không uống mà thỉnh thoảng kéo nhau ra quán uống bia cho tốn tiền còn sợ phiền với cảnh sát.
Thôi thì câu hỏi tại sao phải hốt nhặt thức ăn thừa ở hãng đem về nhà ăn mà tôi đã cảm thấy xấu hổ nhiều năm qua coi như được hoá giải vì nghiệp chướng của mỗi người, luật vay trả của tự nhiên trong vũ trụ này. Có gì đâu mà tự ái dân tộc? Đọc báo thấy nhiều người giàu có, nổi tiếng… nhưng bị bệnh ăn cắp vặt, mới thấy cái nghiệp ngã vô hình mà hiện hữu…

Phan

Comments are closed.