Thời Báo Vietnamese Newspaper

Góc của Phan: Bình an dưới thế…

Phan

Xa quê nên khi nhớ về tuổi thơ và xóm nhỏ thì thể nào hình ảnh, không khí ở cái nhà thờ xóm đạo những ngày cuối năm cũng ẩn hiện nhiều kỷ niệm của tuổi rong chơi vô tư lự. Nhưng ngôi giáo đường nhỏ trong ký ức tôi như gắn liền với hàng chữ: ‘Vinh danh Chúa ở trên trời/ Bình an dưới thế cho ngưởi thiện tâm” mà lễ Giáng sinh hay Mừng năm mới đều được giăng ngang cổng nhà thờ.

Nhưng người thiện tâm dưới thế có được bình an hay không thì từ tuổi nhỏ ở xóm làng tới tuổi già phiêu bạt, tôi có thấy nhiều người thiện tâm, nhưng không hẳn là những người thiện tâm ấy đều bình an. Tôi biết nhiều người ở địa phương nơi tôi sinh sống, họ gánh vác việc nhà thờ với tinh thần phục vụ Chúa thông qua giáo xứ nên cực nhọc mấy cũng không nề hà vì tâm họ rất thiện, nhưng bình an của họ không trọn vẹn vì nhiều lý do. Tương tự những người thiện tâm đi làm công quả cho chùa chiền cũng khó tránh chuyện thị phi nên bình an cũng không trọn vẹn dù tâm họ rất thiện, lòng họ rất lành…

Người cụ thể nhất về thiện tâm mà tôi quen biết là ông bạn già. Nhìn ông như một vị giáo sư về hưu với cung cách khoan nhã, tính tình điềm đạm, hiền lành. Đôi khi nhìn những xử sự của ông làm tôi phát bực mình. Nhưng ông lại từ tốn nói với tôi: “Tu chợ là thế đấy anh bạn trẻ ạ!”

Ông cho tôi khái niệm tu chợ như một món quà để tu thân từ lần ông bị người trịch thượng vu khống ông, công kích ông trước đám đông về điều không có. Nhưng ông im lặng, hoà nhã rút lui, làm tôi tức điên lên được. Nhưng khi nghe ông giải thích thì mù sương u minh trong tôi như rạng ra được tia nắng nhỏ, “…công kích lại một người trịch thượng chỉ làm cho họ thêm lố bịch.”

Hoá ra tu chợ còn khó hơn đi tu trong chùa, im lặng khó hơn nói ra nhiều lắm vì tự nhiên của con người là khi bị ức hiếp thì phản kháng, bị vu oan là chống đối tới cùng. Nhưng im lặng được trước thói đời là cảnh giới cao thâm của trí huệ vì im lặng là biết ức chế khẩu nghiệp cho bản thân trong dòng đời đố kỵ.
Người bạn lớn tuổi, người thầy ngoài đời của tôi đã bình an ra đi như một người thiện tâm dưới thế đã biết vinh danh Chúa ở trên trời bằng niềm tin, lòng thành nên cả đời không mếch lòng ai, được nhiêù người kính trọng. Phải chăng người bạn khác vừa củng cố cho tôi niềm tin rằng có: Bình an dưới thế cho người thiện tâm.

Rất ngẫu nhiên tôi có mặt ở buổi “Hội chợ Tết: Mừng Xuân Kỷ hợi 2019” của Cộng đồng Người Việt Austin. Dưới bầu trời xám và gió lạnh cuối năm nơi hải ngoại. Tôi đứng nhìn hàng cờ Việt nam bay phất phới với lòng bồi hồi vô kể vì thâm tâm tự hào pha trộn nỗi xót xa khi nhìn quốc kỳ lưu vong vào những ngày giáp tết. Tâm tư con người xa quê khi tết tới đã có thể cam tâm được theo thời gian biệt xứ, nhưng nhìn những lá cờ bay tuyệt đẹp trong sáng sớm như thấy cả tổ quốc lưu vong thì bùi ngùi vô kể…
Tôi đang phân vân trong lòng vì muốn đứng nghiêm và hát quốc ca như ở sân trường tiểu học ngày nào nơi quê cũ, thèm một sáng thứ Hai chào cờ toàn trường mà hồi nhỏ sợ muốn chết, vì mắc lỗi và dễ bị phạt chứ không gì. Nhưng lại sợ đồng hương xung quanh nói tôi điên. Hoá ra tu chợ không dễ dàng khi còn sợ bị người khác mắng nhiếc, khinh khi, cả hiểu lầm…

Đang buồn vui lẫn lộn trong lòng thì có người bạn trẻ đến vỗ vai tôi! Cuộc hội ngộ trời cho như món quà tết ý nghĩa nhất năm nay. Cái người bạn trẻ lạ lùng này đã một thời làm tôi bấn loạn tâm thần với anh ta. Nhưng khi chào hỏi nhau đủ đầy, biết được lý do anh có mặt ở Austin là về ăn tết với gia đình vợ định cư ở Austin, chứ vợ chồng anh vẫn làm tiệm nail bên Calif. Vợ chồng anh đưa các con đến hội chợ tết Việt nam để các cháu xem múa lân.
Anh đưa vợ con đến chào hỏi tôi. Trong mắt người vợ trẻ mà tôi biết cô ấy chứ cô ấy mới biết tôi lần đầu. Tôi chỉ thoáng qua suy nghĩ riêng trong đầu tôi, “Con xin tạ ơn trên đã cho bạn con có được người vợ hiền.” Còn đứa bé nhỏ nhất, xinh như một thiên thần, là: “Vinh danh Chúa ở trên trời/ bình an dưới thế cho người thiện tâm”.
Rất đẹp với hình ảnh một gia đình trẻ đến tôi về lục tìm mãi mới ra một bài viết cũ mà tôi đã viết về cặp đôi này mấy năm trước…

Mấy năm trước. Nó thường hỏi tôi, “chị nhà khoẻ không, vẫn đi làm bình thường chứ hả,… thằng nhóc nhà anh chắc nay lớn dữ rồi hả?…” Những câu xã giao ấy chẳng tìm đâu ra chút ấm áp trong đời thường, bởi sau mấy câu nhạt nhẽo ấy là tràng giang những câu hỏi về việc làm. Đại loại: “Anh có việc gì cho em làm cuối tuần không? Cho em đi giao báo đi! Hay anh giới thiệu cho em làm việc gì từ chiều tới tối cũng được. Đừng quên em nha, em cần tiền dữ lắm!”
Đâu phải nó đang thất nghiệp mà hù hơ hù giật vậy! Nó đang giũa nail ở một tiệm nail khỉ ho cò gáy nào đó bên Oklahoma, Tyler city, Greenville city… hay một thành phố nhỏ nào đó, cách xa Dallas chừng vài tiếng lái xe vào hai ngày cuối tuần. Còn năm ngày thường thì nó đã làm hãng.

Nhưng ngày ấy, nó còn ở Dallas thì còn gặp gỡ vì tôi theo cái chuyện tình lạ lùng của nó trong âm thầm, kín đáo để thấy một mặt nào đó của người trẻ lớn lên trong nước như nó nên có suy nghĩ lạ lùng qua những mẩu chuyện vặt khi còn làm chung hãng. Nó vui tính, giản dị, hào phóng theo phong cách người miền Nam, làm tôi nhớ những bạn bè đã lâu không gặp.

Nghe nó kể về chuyện tình của nó với cô gái bên hàng xóm, cách nhau một con mương nước thải giữa hai nhà. Tôi hoài niệm biết bao nhiêu về những xóm nghèo ở miền Nam.

Chắc là nó không nói láo về cuộc tình chân quê ấy vì hai bên đều chẳng có gì để khoe khoang từ nhan sắc tới gia cảnh, tài năng của đôi bờ con mương đều không có gì đặc biệt. Nó mù mờ tương lai khi yêu người con gái học hết tiểu học đã ở nhà nuôi heo với má. Cuộc tình không hứa hẹn gì trong tương lai hơn là một gia đình mới sẽ ra đời chỉ để tiếp tục sự mù mịt ở vùng quê.

Bỗng nó may mắn được mở lại hồ sơ xuất cảnh mà chị nó đã bảo lãnh từ đời nào. Vậy là nó chỉ còn kịp làm tờ hôn thú (giấy đăng ký kết hôn) với cô hàng xóm để bảo lãnh vị hôn thê qua Mỹ với nó khi nó đã định cư ở Mỹ. Gia tài của cô vợ chưa cưới không có gì ngoài một tình bạn thơ ấu, trở thành tình yêu khi trưởng thành; và niềm hy vọng đổi đời trước ngưỡng hôn nhân!

Vốn liếng của bà má vợ tương lai cho sớm để mưu cầu hạnh phúc cho con gái cũng vừa đủ để hối lộ cho tờ giấy đăng ký kết hôn nhưng không làm ảnh hưởng đến chuyện xuất cảnh của nó, như phải ở lại đợi bổ túc hồ sơ cho vị hôn thê.
Chị nó từ bên Mỹ đã lệnh về cho nó như thế, vì cơ hội được đi không có gì bảo đảm sau vài năm ở lại đợi bổ túc hồ sơ cho con nhỏ bạn của mày. Nó hiểu mà, chị nó bên Mỹ cũng khó khăn lắm mới bảo lãnh được nó đi xuất ngoại khi việc làm của chị cũng đang bấp bênh nên tài khoản bảo lãnh là vấn đề không nên để đêm dài lắm mộng. Chị lại còn gởi về giúp nó chút tiền đô để đi học tiếng Anh. “Tội nghiệp chị em lắm!” Nhưng nó thực tế hơn là đi học lớp nail cấp tốc để lên đường xuất ngoại.

Không nghe chuyện dài dòng tam quốc thì không hiểu để thông cảm cho nó được! Nó quá mê lái xe sau khi lấy được bằng lái xe bên Calif. Nên chạy lung tung dọc bờ tây, từ Calif lên tới Seattle, với lòng dễ tin ai cũng thật thà như nó nên lại theo lời người này kẻ khác mà lang bạt sang tới bờ đông, rong ruổi từ New York đổ về Carolina, rồi lại xuôi xuống New Orleans, tà tà về Florida, tạt qua Houston, vòng lên Dallas… Nó đi giũa nail ở những thành phố nhỏ, hẻo lánh, vì tự lượng sức mình. Dĩ nhiên là không được nhiều tiền bằng làm nail ở những tiệm lớn trong những thành phố lớn; chưa kể đến chuyện, “tay ngang, tiếng Anh yếu thì tiệm lớn đâu chịu mướn em.” Biết tự lượng sức mình đã là khôn. Nhưng ngặt tiền nail kiếm được đã không nhiều lại đổ vào tiền xăng quá đáng vì nó cứ thích lái xe đi lung tung.

Cuối cùng nó nghe lời khuyên của người bạn gái hồi mới qua bên Calif, nó đi làm hãng cho có tương lai. Cuối tuần mới đi giũa nail để tôi luyện thêm tay nghề và tiếng Anh. Nhưng nó cứ đi giũa ở tiệm nào phải cách xa chỗ ở chừng vài tiếng lái để vừa được lái xe vừa có tiền. Tiền tuy cần nhưng không cản nổi những cơn ghiền lái xe, không làm lu mờ được bản chất phóng khoáng của người miền Nam; sự hào sảng đến vung tay quá trán trong đời lắm người chịu chơi nhưng hiếm kẻ chịu chi nơi quán nhậu ở Dallas này. Chỉ khi tỉnh ra muộn màng thì nó lại cật lực kiếm tiền hồi mới qua để gởi về giúp cho vị hôn thê của nó có chút đỉnh mà… làm đám cưới… với thằng bạn nó! (Nó hỏi ý tôi về lá thơ tạ tình của nó với người yêu cũ mà nó muốn viết và sẽ gởi! Nội dung thơ là anh đã có người yêu ở Calif. Anh xin lỗi không về rước em qua Mỹ nữa. Anh rất buồn chuyện chúng ta có duyên không nợ. Nhưng mừng cho em sẽ không khổ vì anh. Số tiền anh dành dụm được không nhiều, nhưng mong em nhận để làm vốn làm ăn, sau khi em lấy chồng.
(Tái bút), Anh hoàn toàn tin tưởng vào thằng bạn anh. Nó giỏi hơn anh nhiều thứ, và cũng thương em như anh. Nhưng tại nhà nó nghèo quá nên nó không dám nói ra thôi…
Nghe tâm sự của nó buồn như tiếng hát Vũ Khanh, “…anh biết em đi chẳng trở về…” Nhưng buồn cũng chưa bằng ù tai, chóng mặt khi hỏi thăm và nghe nó trả lời về người bạn gái của nó bên Calif, “Nó làm đĩ. Nhưng dễ thương lắm anh ơi!”

Chắc không ai hiểu nó hơn tôi vào những ngày trước khi nghỉ lễ gì đó trong năm. Hễ nghỉ được bốn ngày trở lên là nó lái về Calif để thăm người yêu. Tôi rất muốn hỏi nhưng không mở miệng được, “mày về Calif vài hôm thì cô ấy có đi làm không?”

Nó sống vui vẻ như bao nhiêu người trai trẻ khác là giờ nghỉ, lúc rảnh thì gọi điện thoại, gởi tin nhắn cho người yêu. Mỗi lần ngồi trò chuyện với nó, tôi thường nghĩ đến tác phẩm “Khải hoàn môn” của Erich Maria Remarque mà lúc còn đi học, tôi hình dung hoài vẫn không hiểu được những người con gái Pháp từ những vùng quê nghèo, họ lên kinh đô ánh sáng để làm nghề mại dâm với mục đích dành dụm được một ít tiền trước khi họ về quê lấy chồng, sanh con đẻ cái và sống đời sống gia đình. Cả vị bác sĩ chăm sóc sức khoẻ cho những cô gái điếm trong tác phẩm Khải hoàn môn, là ông thầy lang tận tụy, thương mến những cô gái điếm như người thân. Rồi sau ngày làm việc, ông cũng trở về nhà với đời sống của riêng ông. Không bao giờ động đến một cô nào ngoài việc khám bệnh và điều trị của bác sĩ. Ông đã thắng được lòng ông trước nhan sắc của những cô muốn cho ông hưởng lạc miễn phí để trả ơn bác sĩ cứu giúp lúc bệnh hoạn. Nhưng ông rất khổ tâm khi phải đưa ra quyết định bắt cô nào phải tạm nghỉ việc để điều trị những bệnh xã hội mà ông đã tìm ra qua những kết quả xét nghiệm định kỳ, hay bất thường do triệu chứng nên phải khám bác sĩ. Ông hiểu họ nghỉ việc ngày nào là không tiền hôm đó, mà đời sống ở Paris không miễn phí cho ai một ngày nào…
Người bác sĩ trong Khải hoàn môn cứ khiến tôi suy nghĩ, so sánh ông với mụ tú bà, ông là ông thiện bà là bà ác trên cõi đời ô trọc này. Và tôi không biết những nhân vật trong tác phẩm ấy, khi trở về (trở lại) đời sống bình thường như bao người bình thường khác, tâm tư họ có bình thường không?

Thuở đi học, tôi thường so sánh Khải hoàn môn với Truyện Kiều để thấy hai quan niệm đông tây về nghề lầu xanh. Nhưng so sánh chỉ ở mức thấy được khác biệt chứ không lý giải nổi.

Đến hôm tôi đi xem phim chiếu rạp khi còn đi học, phim tựa không nhớ nhưng nhớ nội dung phim nói về một cô gái mãi dâm sau khi ra khỏi tù (trại phục hồi nhân phẩm) của nhà nước cộng sản. Hình ảnh cô gái trở lại đời thường là một con đường vắng dẫn vào khu lao động nghèo, với ánh đèn vàng hiu hắt và cơn mưa đêm buồn thảm. Khi cô gái bước qua cây cầu sắt hoen gỉ và ván cầu long lở, nhạc phim day dứt âm hưởng Trịnh công Sơn… “đi về đâu hỡi em/ khi trong lòng không chút nắng/ giấc mơ đời xa vắng/ bước chân không chờ ai đón…” làm lòng tôi day dứt theo tương lai vô định của người con gái mà “đời gọi em biết bao lần” trước khi đi đến kết cục là “đi về đâu hỡi em…” thì không ai biết gì về một kiếp người sinh ra đã không có nhân phẩm trong xã hội xã hội chủ nghĩa, thì phục hồi thế nào cái không có đó chứ! Sự trở về đời thường của cô gái điếm trong xã hội xã hội chủ nghĩa qua hình ảnh được dàn dựng. Tôi hiểu cái ngôn ngữ điện ảnh của đạo diễn theo cách riêng tôi. Nhưng không chừng là tôi hiểu đúng ý ông đạo diễn cũng không chừng, vì cô gái ấy sẽ đi về đâu ngoài con đường cũ để sinh tồn trong cái xã hội nhiều hình thức mà kém nội dung.
Về nhạc phim. Có thể, có thực về người bênh kẻ chống nhạc Trịnh (sau 1975). Nhưng tôi cứ để lòng tự nhiên thẩm thấu âm hưởng ấy mà chia chung ngậm ngùi với một phận đời không may làm nên cái nhìn cả đời còn lại của chính mình mà từ ngữ tôi học trong trường lúc ấy gọi là “nhân sinh quan”. Vậy cái “thế giới quan” tôi sống có gì để nhân sinh quan có thể phục hồi mà yêu chủ nghĩa xã hội được chứ!

Nhưng lý luận với ai trong thời buổi lương tâm không bằng lương thực; quốc giáo là vô thần…
Tôi cứ phân thân một nửa dõi về quá khứ, và một nửa đối diện, lắng nghe người bạn trẻ làm tôi hiếu kỳ về suy nghĩ của người sinh đẻ trong nước sau 1975. Anh bạn trẻ chẳng hiểu biết gì về quan niệm xã hội Việt nam trước cộng sản; hay là cộng sản miền bắc đã chiến thắng trọn vẹn con người miền nam sau mấy chục năm im tiếng súng. Sự chiến thắng ngoài mặt trận đã đủ lâu thời gian để hình thành nên những thế hệ mới không còn ràng buộc bởi những định kiến xã hội về nghề nghiệp như: bác sĩ, làm đĩ, thiến heo, khóc mướn, tú bà, chạy mánh, móc ngoặc, v.v… Những điều không nghĩ tới không thấy rùng mình với đạo đức xã hội được (bị) buông thả trong một đất nước mà dân trí còn hạn chế.
Nó thản nhiên yêu người con gái làm đĩ như tôi yêu cô bạn học ngày xưa vậy! Tôi cũng chắt chiu chút kiếm được từ nghề tay trái là đi chụp hình (hồi còn đi học) để mua được món quà mọn, cành hoa khiêm tốn mà thổ lộ lòng mình; Nó cũng dành dụm chút tiền dũa nail để mua cái điện thoại, lọ nước hoa, làm quà cho cô bạn ngày đêm thương nhớ. Tôi chưa bao giờ nghe nó thắc mắc về nghề nghiệp của cô bạn là tại sao bao nhiêu cô gái khác đi làm hãng xưởng, hay làm nhà hàng, làm thâu ngân ở các siêu thị… Tại sao cô bạn gái của nó lại đi chọn cái nghề bán mạng.

Không có thắc mắc trong tư tưởng nên không nói ra; nghĩa là nó thấy bình thường như mọi nghề nghiệp đều có cái vất vả riêng, nhưng rất chung là đồng tiền không phải dễ kiếm. Nó rất buồn khi kể lại những tâm sự của bạn gái nói về sự khốn nạn của mụ tú bà đời mới, sự ác độc của khách làng chơi thời nay. Tôi thật khó tin một chuyện khó tin nhưng có thật là lần nó về Calif để thăm người yêu đôi ngày rồi anh đi. Hai đứa đang đi ăn, đi chơi, thì cô ấy có điện thoại, phải đi làm thế cho cô bạn bị tai nạn giao thông trên đường đi làm. Chính nó đưa bạn gái tới chỗ làm vì sẵn xe. Nó đi uống cà phê một mình, chờ điện thoại gọi thì tới rước. Tôi không tin, thậm chí mất bình tĩnh khi nghe nó kể. Nhưng nếu không tự biết chế ngự cú sốc của mình lại thì nó kể với ai? Tôi chỉ ngồi xoay xoay ly bia lạnh trong tiệm cánh gà Wing Stop mà nhớ lại những người phu khuân vác ngoài ga xe lửa Hoà hưng, Bình triệu, hay bến gạo Lê Quang Liêm, Cảng Sàigòn… họ sống đời thấp hèn ban ngày, nhưng đêm về bên ly rượu lạt, họ dõng dạc tuyên bố, “lấy đĩ làm vợ chứ không để vợ đi làm đĩ.” Họ cặp cổ cô gái đĩ một đêm, một ngày, một thời gian, hay mãi mãi không chừng. Những Từ Hải thời đại vẫn chấp nhận Thúy Kiều đó thôi! Quá khứ của người tình không cần câu nệ, không phải chuyện để bàn cãi, càng không phải tì vết như yếu điểm để khai thác trong đời sống hai người từ đó về sau…

Nói gì thì tôi cũng nhớ lần từ giã. Một kỳ nghỉ lễ, nó về Calif với cái xe cũ xì của nó. Chính tôi ngại cho nó đường xa, sợ cái xe chạy không nổi. Nhưng nó điếc nên không sợ súng, “em đi hoài mà nhằm nhò gì!” Không biết có phải tại tôi nói xui nên nó bị nằm đường thật. Gặp cái thằng có máu giang hồ nên không tiền thay máy xe bị cháy thì bán luôn cái xác xe, bỏ ba trăm đô la bán xe vào túi rồi tìm đường về Calif thăm em chứ không trở lại Dallas vì việc làm. Máu lưu dân miền Nam trong nó chẳng biết sợ là gì thật!

Nhưng hết lễ, nó trở lại Dallas với cái xe còn mới lắm. Xe của người yêu mua nợ, “cho em bớt lo anh đi đi về về với em.” Rồi mỗi lần nó đi Calif về, lại có quần áo, giày dép mới. Nó đã tìm được một nửa của đời nó, chỉ có thành kiến trong tôi nên đi tìm chỗ bỏ. Là suy nghĩ hôm chia tay nhau lần sau cùng: “Chuyến này em về Calif làm đám cưới. Anh ráng thu xếp qua chơi với vợ chồng em vài bữa…”

Nó không biết câu “vợ chồng em” ấy, đã để lại trong tôi thật nhiều ưu tư! Tôi không đi dự được đám cưới nó cũng buồn. Cái đám cưới rất nên có mặt để hiểu biết ấy trong suy nghĩ tôi rồi cũng bị lãng quên theo thời gian xa cách. Lúc nhớ tới nó, tôi chỉ thầm mong cho nó có hạnh phúc. Chỉ có nó giúp được vợ nó đổi nghề để đời sống hai đứa có thể ngẩng mặt. Bởi tôi nhớ ra là nó không nói với ai ở Dallas về nghề nghiệp của bạn gái nó bên Calif ngoài thằng anh bù khú với nó.

Dù gì cũng chỉ là những thoáng nhớ bất chợt trong đời mau quên. Đã mấy năm không liên lạc. Bỗng gặp cô bạn làm chung với tôi và nó ngày xưa, cũng là một cô em tử tế, là người chị thích tính tình vui nhộn của nó ngày xưa. Cô ấy cho tôi hay, “Em qua Calif ăn đám cưới cô em họ của em. Không ngờ gặp lại nó ngay trong đám cưới. Bây giờ nó ra dáng ông chủ lắm! Bớt lóc chóc rồi! Có tiệm nail đông khách ha, vợ đẹp, đứa con dễ thương quá chừng! Không biết sao cái thằng đen thủi như nó mà lấy được con vợ đẹp lắm anh ơi! Lại hiền nữa nha… thiệt là mừng cho nó.”
Tôi tả ra hình dáng vợ nó, làm cô bạn hết hồn vì tưởng tôi biết mặt. Nhưng chỉ là biết qua tấm ảnh nó chụp chung với cô ấy ở bờ biển San Diego mà nó đã cho tôi xem ngày trước. Tôi chỉ muốn xem có đúng là người bạn gái mà nó đã tâm sự với tôi ngày ấy hay không?

… thì ra đúng người ấy! Bây giờ hai vợ chồng nó tối mặt đi cày mấy năm nay, chưa mua nổi nhà ở Calif nhưng đã sang lại được cái tiệm nail nhỏ nhỏ để làm ăn. Nó hài lòng với cuộc đời, hạnh phúc với gia đình. Điều tôi muốn hỏi đã không phải đặt nó vào thế khó trả lời. Bây giờ vợ nó ngày ngày ra coi tiệm nail. Nó lại đi làm hãng để có bảo hiểm cho gia đình. Tôi chỉ còn câu hỏi: “Cô hàng xóm – vị hôn thê của mày bên Việt nam có lấy thằng bạn mày không? Tụi nó sao rồi?”
Nhưng câu hỏi khác trong tôi lại nảy ra, “Có phải là người bạn trẻ này đã sống. Đặc biệt là từ khi sang Mỹ, anh ta dám đi bất cứ đâu anh ta muốn đến. Làm bất việc gì anh ta cảm thấy cần. Yêu người thật sự làm anh ta rung động… Sự can đảm của anh ấy đã dẫn tới hạnh phúc mà loài người khổ công đi tìm kiếm thay vì vứt bỏ những định kiến cố hữu, rào cản do tư duy của chính con người tạo ra – thì hạnh phúc trong tay. “Người ta sinh ra để sống chứ không phải để đợi sống.” Boris Pasternak đã viết như thế trong tác phẩm: Doctor Zhivago. Nhưng tôi với bao người cứ ám ảnh với những gì đã thừa kế từ đời cha ông để lại – cả cái tốt lẫn cái xấu của tiền nhân nên bốn ngàn năm ta vẫn là ta/ từ trong hang đá chui ra… vươn vai một cái lại chui ngay vào. Cứ đợi sống một cuộc đời xứng đáng nên chưa thực sự sống mà chỉ đợi sống, đợi mãi hoài với cái ảo tưởng cố hữu trong con người.

Tôi viết lại chuyện tình của anh bạn trẻ trên nước Mỹ mấy năm trước như để còn đó một mảnh đời di dân cho hậu thế hiểu được bước chân lưu lạc của người Việt sau khi mất miền nam. Nay lại tự tôi thấy khác ở tấm băng rôn thường giăng ngang cồng nhà thờ vào những ngày lễ tết cuối năm khi tôi còn bé ở xóm làng đã theo chân đứa bé ngoại đạo đi tìm bình an dưới thế nhiều năm thì nay đã có bằng chứng qua người bạn trẻ đã yên bề gia thất vì dám sống thật với lòng mình nên có bình an.

Phan

Comments are closed.

error: Content is protected !!