Giờ thứ 25 lẻ 1 phút

Giờ thứ 25 của Gheorghiu
Mười bốn năm trước khi được truyền chức thánh để trở thành linh mục chính thống giáo, và bốn năm sau khi bị quân đội Hoa Kỳ còng tay vì tội danh “ngụy quyền” trong tư cách là một thư ký sứ quán thuộc Bộ Ngoại giao Romania có quan hệ với phe trục của Hitler, nhà văn Constantin Gheorghiu đã xuất bản tác phẩm “Ora 25” (Giờ thứ 25). Trong chương đầu của cuốn sách viết về làng Fantana, hai dịch giả Lê Ngọc Trụ và Võ Thị Hay đã chuyển ngữ một đoạn văn đề cập đến tên của cuốn sách như thế nầy:
“Ta đang sống một thời đại mà con người quỳ lụy dưới mặt trời điện khí như một dân dã man.
– Ta sẽ chết chùm với nhau sao?
– Mỗi người của chúng ta đều bị giết hại trong guồng máy kỹ thuật. Quyển sách của tôi sẽ là quyển nói về giai đoạn kết luận ấy.
– Anh cho nhan đề gì?
– Giờ thứ hai mươi lăm. Giờ mà mọi cứu cấp đều vô ích. Dầu cho Chúa Cứu Thế ra đời cũng không giải quyết được. Không phải giờ chót: ấy là giờ kế sau giờ chót. Thời giờ chính xác của xã hội Tây phương. Ấy là giờ hiện tại. Giờ thật đứng.”

Bác sĩ Phạm Văn Lương  (hình do NgyThanh chụp khi cùng đi hốt xác nạn nhân trên Đại Lộ Kinh Hoàng, tháng 8-1972)
Bác sĩ Phạm Văn Lương
(hình do NgyThanh chụp khi cùng đi hốt xác nạn nhân trên Đại Lộ Kinh Hoàng, tháng 8-1972)

Như thế, cái tên “Giờ thứ 25” đã đi vào lịch sử văn học và phim ảnh, với nội dung câu chuyện xoay quanh nhân vật chính là một nông dân trẻ tên Johann Moritz, dù không muốn nhưng đã phải trải đời mình qua chế độ cai trị của Đức quốc xã, của Liên bang Xô Viết và của Hoa Kỳ khi lính Mỹ chiếm đóng trung Âu sau Thế chiến Hai. Johann từng bị quăng vào trại lao động khổ sai vì tội có vợ đẹp, và vì nhan sắc của chị vợ Suzanna lọt vào mắt xanh của một đại úy công an của nhà cầm quyền. Anh bị đấu tố tội “là dân Do Thái”. Từ nhà tù, anh cùng một số tù nhân Do Thái vượt ngục, trốn sang Hungary, để lại bị nhốt vào chuồng rệp lần nữa, vì tội là “công dân của một quốc gia thù địch”. Từ nhà tù, anh bị chính phủ Hungary gởi sang Đức Quốc Xã dưới danh nghĩa “công nhân tình nguyện”. Số mệnh Johann không dừng lại ở đó. Anh “được” một sĩ quan Quốc Xã giải phóng sau khi tay nầy xác định Johann là một người mang dòng máu Aryan tuyệt vời trong huyết quản – dòng giống tối ưu của chủ tể Hitler. Từ đỉnh điểm đó, anh không chỉ được bố trí vào quân số một đơn vị Waffen-SS (Lực lượng vũ trang SS) của Thống chế Heinrich Himmler, mà còn được bơm lên thành một nhân vật điển hình mang màu sắc thần thoại và hào hùng của hệ thống tuyên truyền quốc xã. Đức bại trận, toàn bộ binh sĩ 39 sư đoàn SS bị kết án thực hiện các tội ác chiến tranh trong đó có việc tàn sát nhiều triệu người Do Thái. Cũng như các chiến hữu khác cùng màu áo Waffen-SS, anh bị tước mất những quyền lợi mà các cựu binh phục vụ trong hàng ngũ Heer (Lục quân Đức), Luftwaffe (Không quân Đức) và Kriegsmarine (Hải quân Đức) được hưởng; thành phần như anh đã bị quân Đồng minh biệt giam, và lãnh đủ đòn trừng phạt gay gắt của Liên Xô. Chiến tranh đã ngừng, nhưng các đối tượng Waffen-SS như anh còn trải qua thêm hai chế độ cầm quyền khác nữa: bị đánh đập dã man bởi hồng quân Liên Xô, rồi bị tòa án Mỹ dành cho bản án nặng nề nhất. Cuối cùng, một số cựu binh SS đã tự tử để tránh các đòn thù, còn Johann phải đứng trước một trong hai lựa chọn do phía Mỹ đưa ra: hoặc là phải gia nhập quân đội Mỹ, hoặc bản thân anh cùng thân nhân trực hệ phải bị giam giữ vô thời hạn vì là thành phần “công dân của một quốc gia thù địch của Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ”.
Tiếng súng đã im từ 1945, nhưng xã hội Romania chỉ mới thực sự nhen nhúm sự phân hóa. Cuốn sách được ra mắt tại Pháp vào năm 1949, và mãi đến năm 2004, mười hai năm sau khi tác giả qua đời, “Giờ thứ 25” mới được phát hành tại chính quê hương Romania của người viết. Ngay từ ấn bản đầu tiên, cái tên “Giờ thứ 25” đã đồng nghĩa với “giờ cuối”, “giờ không có trên đồng hồ”, và cách nói nầy trở thành hết sức phổ thông trên toàn địa cầu, trên miệng mọi người.

Giờ thứ 25 của Huế và Đà Nẵng
Nơi nắm rõ từng chi tiết diễn biến thực sự “giờ thứ 25” của hai thành phố chị em Huế và Đà Nẵng không phải tại Dinh Độc Lập Sài gòn, tại Bộ Chính trị Trung ương đảng ở số 1A đường Hùng Vương, phường Điện Biên, quận Ba Đình, thủ đô Hà Nội; hay tại Tòa Bạch Ốc bên Washington DC – mà tại Sứ quán Mỹ ở Sài Gòn. Rồi, người theo dõi sít sao nhất cơn co giật hấp hối từng giờ từng phút ấy không phải là Đại sứ Martin, mà là Frank Snepp, một nhà báo trẻ 32 tuổi, giữ nhiệm vụ trưởng ban phân tích chiến lược Bắc Việt của Cơ quan Tình báo Trung ương (CIA) Mỹ tại sứ quán. Ông Snepp kể rành rọt trong cuốn Decent Interval:
“Vào ngày 22/03, ông Thomas Polgar [Trưởng chi nhánh CIA tại Việt Nam (ghi chú của NgyThanh)] ngồi tại Saigon đã nghiên cứu thấy tình cảnh rối ren ở QK1, nên tự mình quyết định đề ra một số biện pháp an ninh trong trường hợp xảy ra bất trắc. Trong buổi sáng, ông đã phái một phi vụ Air America đặc biệt bay ra Đà Nẵng chở theo nhiều thùng và vật liệu đóng gói để dự phòng trường hợp ông Philip Custer [trưởng phòng CIA Đà Nẵng (ghi chú của NgyThanh)] rơi vào thế phải di tản bớt đồ đạc của nhân viên tình báo ngoài ấy. Phương án nầy chỉ đạt tới một mức nào đó, vì Custer chỉ kịp hốt áo quần và bàn ghế của riêng ông tới cất vào một nhà kho. Rồi các thứ nầy sẽ nằm ụ tại đó. Ngày kết thúc của thành phố sẽ xảy đến cấp kỳ trong ít hôm sau, nên chính ông Custer và hầu như không thuộc hạ nào của ông sẽ còn đủ thì giờ để chuyển đồ dùng cá nhân của mình đi nữa.
Phần Albert Francis [tổng lãnh sự Mỹ ở Đà Nẵng (ghi chú của NgyThanh)] thì cứ kéo dài màn làm dịu cơn sốt của người Việt bằng cách cam kết với các chính trị gia địa phương cũng như các tai to mặt lớn quân sự rằng hẳn là quân đội sẽ làm chủ được tình hình. Thậm chí, ông nầy còn tìm cách thuyết phục giới truyền thông Hoa Kỳ điều ấy nữa. Chiều hăm hai, ông đích thân nhảy lên cái trực thăng bay ra Huế chở hơn một chục tay ký giả đang bu lại ở Đà Nẵng để chứng kiến trận tắm máu kinh hồn sắp đến. Ông chứng minh một cách quả quyết với họ rằng Huế vẫn an ninh chán và vẫn được bảo vệ, dù rằng các dư luận thì cứ chuyền tai nhau tin tức trái ngược lại.
Tảng sáng hôm sau, quân Bắc Việt đã nổ súng, làm chủ tức khắc Quốc lộ 1, đoạn ở phía nam Huế, ở Cầu Hai, thủ phủ quận Phú Lộc. Thực hiện được việc nầy, họ đã thành công bước đầu: Sư đoàn 1 Bộ Binh nay rơi vào thế không còn đường rút lui về Đà Nẵng. Trong khi chiến sự gia tăng, hốt hoảng đã bùng ra như nước vỡ bờ giữa các đoàn dân chiến nạn bị cắt khúc dọc đoạn quốc lộ nằm ở phía bắc của chỗ đường bị cắt, nên trong vòng ít tiếng đồng hồ, hàng ngàn người đã xô lấn nhau để dồn về cái bến cảng nhỏ tên Tân Mỹ, con đường mà tướng Ngô Quang Trưởng đã nuôi hy vọng là nơi tái tập kết quân của Sư đoàn 1BB. Chẳng cần phải chờ lâu, mọi con đường dẫn ra Tân Mỹ đã bị xe pháo lèn chặt, và các tàu hạm của Hải quân Việt Nam dàn hàng ngang ngoài khơi chờ bốc binh sĩ và quân cụ, thay vào đó đã bắt đầu nhận đám thường dân hoảng hốt tuyệt vọng.
Với trục lộ chính đã bị cắt và bến cảng tê liệt, dân Huế nay trở thành mồi ngon cho pháo binh miền bắc. Sang rạng đông thì đạn đại bác còn nổ cầm chừng, nhưng khi trực thăng của KQ/VNCH cố tìm cách lao vào để di tản, pháo binh Bắc Việt đã băm nát các phi trường chuyển quân. Một vài tiếng đồng hồ sau, bạo loạn đã bùng ra ở ngôi chợ trung tâm [chợ Đông ba, chú thích của NgyThanh] khi mà thường dân đánh đấm nhau để tranh một chỗ trên chuyến xe đò hay xe lam chạy ra phía biển. Trong các khu dân cư của thành phố, tin đồn bung ra rằng quân Bắc Việt đã gây cảnh tắm máu đã loan truyền từ nhà nầy sang nhà khác như một cơn bão lửa, được tưới thêm bằng loại dầu ký ức của biến cố Mậu Thân 1968, lần mà trên 2.000 người dân bị giết rữa xác trong các hầm tập thể ở những đầm lầy quanh thành phố. Chỉ có một nhúm người không hốt hoảng bởi các chuyện kinh hoàng ấy: đó là những đặc công Việt Cộng và các cộng sự viên tự biết rằng họ không việc gì phải lo sợ khi bên thắng cuộc sẽ đến nay mai, hay những người tuổi tác, già yếu lụ khụ đã quá gần với cửa huyệt nên chẳng còn gì để nghĩ với suy…”
Một chứng nhân khác của Đà Nẵng trong giờ thứ 25, giáo sư sử học Larry Engelmann đã tường thuật từ một góc nhìn khác, trong cuốn Tears Before The Rain, được Nguyễn Bá Trạc dịch thành “Nước Mắt trước Cơn Mưa”. Xin trích một đoạn:
“Lúc đó 8 giờ sáng, quá muộn so với giờ ấn định máy bay cất cánh. Ông Daly quyết định cứ đi Đà Nẵng để đón một số người tỵ nạn gồm đàn bà và trẻ em mà khỏi cần đến binh lính hộ tống hay thông dịch viên. Chuyến bay ra khá êm. Chúng tôi mang theo một nhà báo người Anh và một người nữa của hãng tin UPI. Trong chuyến bay chúng tôi chuyện trò thân mật với nhau. Phi cơ bắt đầu đổi cao độ để hạ xuống Đà Nẵng. Theo kế hoạch, sau chúng tôi 20 phút sẽ có một chuyến World Airway 727 khác do Don McDaniel lái. Sau anh ta, lại một chuyến 727 nữa do Dave Wanio điều khiển. Chúng tôi dự tính sẽ đậu từ 10 đến 15 phút để lấy khách rồi cất cánh, để chuyến thứ hai, rồi thứ ba đáp xuống. Với cách ấy chúng tôi có thể đem đi được 3 chuyến trong vòng dưới một tiếng đồng hồ.

Bỏ phiếu bằng chân = ngày mất Huế, những đồng bào may mắn chạy vào tới biển Thanh Bình, Đà Nẵng,  để 3 hôm sau Đà Nẵng mất
Bỏ phiếu bằng chân = ngày mất Huế, những đồng bào may mắn chạy vào tới biển Thanh Bình, Đà Nẵng,
để 3 hôm sau Đà Nẵng mất

Nhưng khi hạ cánh có một cái gì rất lạ lùng. Không hề thấy một bóng người. Không một ai, cả phi trường hoàn toàn hoang vắng.
Đột nhiên trong lúc phi cơ đang “chạy taxi” trên đường vào bến, đoàn người chợt xuất hiện. Họ chạy ào ra từ những nhà chứa máy bay. Hàng ngàn con người – tôi nói đúng nghĩa là hàng ngàn con người đua nhau chạy đến chúng tôi – Họ chạy bộ, chạy xe gắn máy, chạy xe thùng, xe Jeep, xe hơi, xe đạp… Họ chạy đến phía chúng tôi bằng bất cứ phương tiện nào họ kiếm được.
Chúng tôi đã có một kế hoạch là ông Daly và Joe Hrezo, trưởng trạm của hãng World Airways sẽ ra khỏi phi cơ. Họ sẽ lo việc sắp hàng hành khách ở lối vào cầu thang phía sau. Tôi sẽ đứng ở phía trước phi cơ, Atsaco ở giữa còn Val đứng ở khoảng sau.
Chúng tôi cho phi cơ chậm lại. Lúc ấy tôi đang đứng trong phòng lái nhìn ra cửa sổ trước, chợt thấy có điều kỳ lạ. Một nhóm người lái chiếc xe vận tải nhỏ đuổi bên cạnh chiếc tàu bay. Một người đàn ông nhảy khỏi xe, chạy đến trước chúng tôi. Tôi nhìn về phía anh ta, lúc ấy chúng tôi đang đi chậm, anh ta rút một khẩu súng lục, bắn vào chúng tôi.
Đột nhiên tôi có cái cảm giác kinh dị y như đang đứng giữa khung cảnh của một phim cao bồi. Tôi đã nghĩ rằng: “Tại sao họ bắn chúng tôi? Chúng tôi là những người bạn tốt!”
Chúng tôi cho tàu chạy khỏi người đàn ông có súng và đi chậm lại ở phía xa. Bây giờ tôi bắt đầu chờ người khách đầu tiên lên phi cơ. Chúng tôi dự tính sẽ cho họ ngồi vào ghế, bắt đầu từ những hàng trước, lần lượt đến phía sau, sẽ sắp đặt họ trong vòng trật tự.
Rồi những người lính bắt đầu lên.
Họ chạy xồng xộc với cặp mắt man dại. Chừng chín người lính đã lên, tôi xếp họ ngồi vào ghế. Rồi người thứ mười lên, nhưng hắn không chịu ngồi. Hắn bị kích động, cứ chạy lên chạy xuống la lớn bằng tiếng Anh: “Bay đi! Bay đi! Bay đi! Chúng nó sắp pháo kích vào phi trường kìa!” Hắn cứ la hét như thế mãi. Tôi nắm lấy hắn, tôi cũng hét lên: “Im mồm, tôi bảo ông ngồi đâu thì ông ngồi xuống đó.” Tôi đẩy hắn xuống ghế.
Nhưng có điều lạ: rất ít người lên phi cơ. Vì vậy tôi nghĩ cần phải ra sau xem có chuyện gì… Tôi thấy Daly dưới chân cầu thang đang bị giằng xé. Áo ông rách vụn. Joe Hrezo biến đâu mất. Val đang cố giúp Daly lôi người lên cầu thang trong lúc tàu bay cứ tiếp tục chạy trên phi đạo. Còn dưới chân thang, hàng trăm người tuyệt vọng, điên cuồng, la hét cố bấu víu lấy Val và Daly. Đoàn người tiến đến không ngừng. Họ từ khắp phía, chạy đến cầu thang không ngớt. Tôi leo xuống. Daly ở dưới thang, ông cố lập trật tự bằng khẩu súng lục vung lên trời. Val cố giúp những người đang leo qua cạnh cầu thang. Một gia đình 5 người chạy đến phía tôi cầu cứu. Đó là bà mẹ, ông bố, hai đứa con nhỏ, một trẻ sơ sinh còn ẵm trên tay mẹ. Tôi có thể nhìn rõ nét sợ hãi trên khuôn mặt khi họ cố chạy đến phía tôi. Tôi quay lại định nắm tay người mẹ kéo lên. Trước khi tôi kịp nắm tay bà, một người đàn ông đứng sau đã nổ súng vào 5 người này. Họ ngã gục cả xuống, đám đông đạp ngay lên xác họ. Cái hình ảnh cuối mà tôi thấy là họ biến mất dưới chân đám đông. Chỉ vài tiếng nổ lớn, họ biến mất, tất cả những người ấy. Còn gã đàn ông vừa bắn xong đã đạp ngay lên thân họ để leo tới cầu thang. Hắn đè lên mọi người, chạy vào lòng phi cơ. Tất cả mọi thứ quá sức hỗn loạn điên cuồng. Tôi còn nhớ vào giây phút điên dại ấy, tôi nghĩ: “Chốc nữa sẽ tính chuyện này”, tôi tiếp tục kéo người lên phi cơ. Chợt cảm thấy một người đàn bà đang níu tôi từ phía hông cầu thang, bà nắm cánh tay tôi, cố lọt lên bực thang. Tôi muốn giúp bà ta nhưng cũng sợ bị rơi tuột khỏi thành cầu. Tôi bèn quay lại nắm cánh tay người đàn bà, kéo qua thành cầu. Nhưng một người đàn ông ở phía sau đã níu lấy, giựt bà khỏi tay tôi. Khi bà rơi xuống, người đàn ông kia đạp ngay lên lưng, lên đầu người đàn bà để leo lên thang. Hắn dùng người đàn bà như một hòn đá kê. Daly nhìn thấy chuyện xảy ra. Liền khi gã đàn ông tung được chân qua thành cầu, Daly nắm khẩu súng đập một cú vào đầu gã. Tôi nhớ lúc ấy đột nhiên tôi thấy vòi máu vọt ra, gã đàn ông rơi xuống, người ta đạp lên hắn. Tôi nhớ tôi đã nghĩ: “Đáng kiếp”. Gã đàn ông này biến mất dưới bàn chân dày xéo của đám đông.

Ông Nguyễn Ngọc Anh đã bị bỏ quên 41 năm nay
Ông Nguyễn Ngọc Anh đã bị bỏ quên 41 năm nay

Lúc ấy người đổ ùn ùn vào phi cơ, tôi chạy trở vào xem Atsatko có xếp nổi chỗ ngồi không. Cô nắm lấy tay tôi, bảo: “Trưởng tàu Ken Healy đang cần chị”. Tôi đến phòng lái gõ cửa. Cửa mở, Healy bảo: “Joe Hrezo đã lạc khỏi phi cơ. Khi nào hắn trở lại được cho biết.” Tôi đáp: “OK.” Chuyện xảy ra là Joe và thông tín viên người Anh đã bị đám đông kéo tuột khỏi tàu, không trở vào được nữa. Chúng tôi lạc mất cả hai người. Joe tự chạy tới đài kiểm soát không lưu, người kiểm soát viên cho anh ta vào. Sau đó Joe liên lạc được với máy bay. Ken Healy cho biết chúng tôi sẽ “chạy taxi” đi rà trên đường vào bãi và yêu cầu Joe phóng ra khi máy bay tới gần. Chúng tôi sẽ không dừng một giây nào. Liền khi Joe lọt vào phi cơ, chúng tôi sẽ cất cánh. Ken Healy bảo: “Khi thấy chắc chắn Joe vào phi cơ rồi, gõ lên cánh cửa cho tôi hay”. Tôi đi sau, bảo Val: “Val, canh chừng cầu thang, thấy Joe vào thì giơ tay, tôi sẽ ra hiệu cho Ken biết.”
Trong khi đợi phi cơ chạy qua đài kiểm soát, người ta tiếp tục ào tới. Chúng tôi ấn họ xuống, 5, 6 người một ghế. Trong lúc làm việc, tôi nhớ là đã tự hỏi: “Thế còn đàn bà, trẻ con đâu hết?” Hóa ra, mọi hành khách đều là binh sĩ. Sau đó, tôi đếm chỉ có 11 người đàn bà và trẻ con. Tất cả chỉ có thế! Còn lại đều là binh sĩ…
Mọi người ngồi trên ghế với những bộ mặt căng thẳng. Gã khùng vẫn tiếp tục la lối: “Bay đi! Bay đi! Bay đi!”
Khi tàu đến gần đài kiểm soát, Daly vẫn còn đâu đó dưới cầu thang để kéo người vào. Tàu chạy rà qua đài kiểm soát được một lát, Val quay người lại, giơ tay lên. Tôi gõ vào cửa phòng lái. Phi cơ bắt đầu rồ máy. Chúng tôi gia tăng vận tốc. Gã khùng lúc trước la lối đòi bay, bây giờ sợ hãi thét lên: “Ối! Ối! tàu bay đang cất cánh trên cỏ.”
Thật ra, chúng tôi chạy để cất cánh từ phi đạo, lối vào bãi đậu, và Ken đã rồ máy để cảnh cáo người ta tránh ra, nếu không chúng tôi sẽ cán qua mà chạy.
Phi cơ leo lên cỏ vì đã vào cuối đường bến, không còn cách nào trở lại được. Chúng tôi cứ tăng tốc lực bay vượt lên, do đó đã đụng phải một chiếc xe và một cọc hàng rào gây hư hỏng cho cánh phi cơ. Nhưng hư hỏng trầm trọng nhất là do đạn và lựu đạn ném vào một bên cánh. Ở trong phi cơ, chúng tôi không thấy hư hại, không rõ tình trạng thế nào. Nhưng Ken Healy biết rất rõ. Dầu thế, chúng tôi vẫn phải bay lên. Phải thoát khỏi Đà Nẵng. Chưa một giây phút nào tôi nghĩ là không thể thoát. Không ai có thì giờ để nghĩ những điều như vậy giữa cơn rối loạn. Sau này tôi khám phá được suýt chút nữa chúng tôi đã không thoát. Đáng lẽ chúng tôi đã mất mạng vì các hư hỏng của phi cơ. Với 358 con người ở lòng tàu, còn lại 60 người khác trong khoang chở hàng, có cả người mắc trên bánh xe. Chiếc máy bay này thật sự chỉ dùng để chở có 133 hành khách thôi.”
Phía quân đội VNCH, một người lính Thủy Quân Lục Chiến là bác sĩ Phạm Vũ Bằng kể lại tình hình lúc ấy:
“Tôi là y sĩ của Đại Đội Quân Y Lữ Ðoàn 258/TQLC. Ngày 18/3/1975, Lữ Ðoàn được lệnh di chuyển từ Quảng Trị về đèo Phước Tượng, nằm trên QL1, phía Bắc đèo Hải Vân và phía Nam Huế. Tuyến phòng thủ của chúng tôi trải dài từ phía Bắc sông Truồi đến phía Nam Phú Lộc, có nhiệm vụ bảo vệ trục giao thông huyết mạch và duy nhất trên QL1, phía Bắc đèo Hải Vân để tiếp tế quân viện cho các đơn vị Tiền Phương QĐI như Lữ Ðoàn 47TQLC, Sư Ðoàn 1BB, Liên Ðoàn 14BÐQ, Trung Ðoàn 1 Kỵ Binh, Pháo Binh và các đơn vị bạn khác tại mặt trận Quảng Trị, Huế-Thừa Thiên; trong trường hợp không giữ được Huế-Thừa Thiên thì bảo vệ cho các đơn vị nầy rút về Ðà Nẵng theo QL1.
Sáng ngày 25/3/1975, theo lệnh của QĐI, lữ đoàn chúng tôi phải bỏ đèo Phước Tượng-Phú Lộc để rút về Đà Nẵng. Đoạn QL1 chạy qua đèo Phước Tượng là con đường bộ duy nhất để các đơn vị đang chiến đấu tại Quảng Trị và Huế rút về Ðà Nẵng; bỏ đi có nghĩa là “khai tử” các đơn vị này. Tôi được lệnh mang các thương binh về Tổng Y Viện Duy Tân ở Ðà Nẵng bằng đường bộ vì trực thăng không thể đáp được. Thương binh được chở trên mấy chiếc xe GMC có một trung đội TQLC theo bảo vệ, rời đèo Phước Tượng lúc 6 giờ sáng, đường đi khó khăn, thêm nữa cầu Truồi đã bị công binh QĐI phá hủy đêm hôm trước, nên mãi tới 8 giờ chiều chúng tôi mới tới được Ðà Nẵng.
Đà Nẵng lúc ấy là một thành phố đang chết, vắng bóng người dân, trên vỉa hè, dưới lòng đường, lang thang từng toán 5, 6 quân nhân mặc đủ mọi sắc phục vừa đi vừa hướng mũi súng lên trời bắn từng loạt đạn vu vơ, thỉnh thoảng trên hè phố từng đám người mặc đồ dân sự tụ tập, vắng bóng Cảnh Sát và Quân Cảnh, không biết giờ này họ đang ở đâu? Nhà cháy, xe nhà binh cháy, xe dân sự cháy do chủ nhân tự phá hủy hay bị phá hoại! Trong bóng đêm hiện rõ lên là những cột lửa, thỉnh thoảng có những tiếng nổ bùng phát ra từ những đám cháy đó, có thể là do bình xăng, là chất nổ làm cho những cột lửa phụt bốc cao khiến thành phố đúng là đang giãy chết.
Chúng tôi đến Tổng Y Viện Duy Tân lúc 9 giờ tối, cổng chính tối đen, không một bóng đèn mà cũng chẳng có người gác, tuy nhiên phòng nhận bệnh ở phía sau cổng chính vẫn còn ánh đèn vàng hắt ra, nhìn kỹ tôi thấy có mấy người lính y tá đang cặm cụi săn sóc cho thương binh. Trong lúc đang giúp các y tá và anh em binh sĩ TQLC mang thương binh vào phòng nhận bệnh, tôi thoáng trông thấy một quân nhân dáng người mảnh khảnh trong quân phục Nhảy Dù đứng khuất trong ánh đèn vàng vọt chiếu ra từ phòng nhận bệnh, khi tôi đi tới gần thì anh đứng nghiêm đưa tay chào đúng quân cách, thoạt đầu tôi nghĩ anh là một sĩ quan Nhẩy Dù hay Biệt Động Quân, vả lại đang lúc quá vội vàng gấp rút đưa thương binh vào cấp cứu nên tôi chỉ kịp chào lại và không để ý anh là ai. Sau khi nhập viện thương binh xong, quay ra tôi vẫn thấy anh ta còn đứng đó và đưa tay chào tôi một lần nữa. Quá ngạc nhiên, tôi tiến lại gần và nhận ra anh là Y Sĩ Thiếu tá Phạm Văn Lương, một niên trưởng nổi tiếng trong giới y sĩ của chúng tôi, anh càng được nhiều người biết đến kể từ khi anh mang lựu đạn đến ngồi tuyệt thực trước Quốc Hội tại Sài Gòn để phản đối tệ nạn tham nhũng.
Tôi đứng nghiêm chào lại vị niên trưởng, anh đưa tay bắt kèm theo nụ cười đầy lo âu. Anh hiện là y sĩ trưởng khu giải phẫu TYV Duy Tân nhưng một số các đồng nghiệp đã bỏ đi nên anh phải đảm nhận thêm công tác nhận bệnh. Khi biết vậy, tôi đề nghị với anh để tôi đem thương binh TQLC về bệnh viện dã chiến của Sư Đoàn TQLC tại Căn Cứ Non Nước, nhưng anh buồn rầu cho biết bên đó đã hết chỗ và anh hứa với tôi là anh sẽ săn sóc thương binh TQLC tận tình.
Quá thắc mắc thấy anh còn ở lại trong TYV gần như trống trơn, tôi hỏi anh:
– Tại sao anh còn ở lại đây, đặc công VC đã đầy trong thành phố, anh có thể bị chúng hại bất cứ lúc nào?
Trưởng khu giải phẫu đã ngần ngừ không muốn trả lời, nhưng thấy tôi vẫn chờ đợi, anh khẽ thở dài:
– Nếu tôi cũng bỏ đi thì sẽ không đủ bác sĩ để săn sóc thương binh, và chưa bao giờ thương binh lại cần đến các anh em y sĩ chúng ta như lúc này.
Khi đến, tôi thấy anh Lương cô đơn đứng giữa những thương binh. Bây giờ ra đi, bỏ anh lại một mình để về đơn vị mình, tôi thấy anh càng cô đơn hơn! Nhưng làm sao khác hơn khi thương binh của tôi đã được anh nhận còn tôi phải về cùng đồng đội đang ở phía tuyến đầu, nơi anh em còn đang chiến đấu và rồi sẽ có thêm tử sĩ và thương binh khác cần săn sóc.
Sáng ngày 28/3/1975, TQLC chúng tôi được lệnh tử thủ Đà Nẵng. Trưa cùng ngày, Tổng Lãnh Sự Mỹ tại Đà Nẵng Albert Francis cùng hai người Mỹ khác mặc thường phục nhưng mang vũ khí cá nhân đến họp với Tướng Ngô Quang Trưởng tại căn cứ TQLC Non Nước; buổi họp kéo dài đến chiều cùng ngày. Sau đó Tướng Trưởng triệu tập một phiên họp khẩn với các tư lệnh quân binh chủng QĐI tại căn cứ Hải Quân Tiên Sa. Rồi tôi được lệnh mang Đại tá Lương (đang bị thương) quá giang trực thăng của Thiếu tướng Bùi Thế Lân, Tư lệnh TQLC, đến Bộ Tư Lệnh Hải Quân Vùng I Duyên Hải, nơi các vị tư lệnh đang họp, để tìm phương tiện đưa ông về Cam Ranh, vì TYV Duy Tân đã quá tải. Khoảng 7:00 tối, tướng Trưởng điện thoại cho Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu để xin bỏ Đà Nẵng; Tổng thống Thiệu không chấp nhận, và ra lệnh cho tướng Trưởng phải tử thủ Đà Nẵng bằng mọi giá để còn mặc cả với CS Bắc Việt. Tướng Trưởng trả lời: “Trình Tổng Thống tôi giải quyết theo tình hình”. Khi các tư lệnh đến họp gần đầy đủ, tướng Trưởng tuyên bố “Mình rút đêm nay” trước sự kinh ngạc của mọi người. Vì lệnh rút quân quá đột ngột nên cuộc triệt thoái của QĐI khỏi Đà Nẵng vào sáng ngày hôm sau 29/3/1975 đã rất hỗn loạn và đẫm máu!”

Giờ thứ 25 lẻ 1
Nếu mỗi ngày có thêm một giờ, gọi là giờ thứ 25, thì các mẩu chuyện trên đây đã chìm vào lịch sử sau 41 năm. Nhưng chuyện không phải như thế.
Sài Gòn mất ngày 30 tháng Tư, nhưng giờ thứ 25 của Đà Nẵng đi trước một tháng, vào ngày 29/03/1975 như Larry Engelmann vừa kể trên đây. Riêng Phạm Vũ Bằng kết luận: “Khi Cộng Sản vào Ðà Nẵng – vào chứ không phải đánh chiếm, vì SÐ/TQLC đã rút bỏ Ðà Nẵng vào sáng 29/3/1975 – chúng đã bắt và xử tử một số thương binh chống đối và đuổi tất cả thương bệnh binh còn lại, dù cho bất cứ vết thương như thế nào, ra khỏi Tổng Y Viện Duy Tân.”
Đọc lời kết của bác sĩ Bằng, tôi nghĩ đó chỉ là một suy luận hợp lý, nhưng khó chứng minh. Cùng ngày 5/04/2016 vừa qua, cách vài giờ, một người bạn tôi, họa sĩ Dương Phước Luyến về Huế thăm quê. Anh gởi qua cho tôi cái email có tựa đề “Mình phải làm gì đây”, với nội dung:
“Chiều về Thanh Hà, thấy một người đang lui cui trong con đò nhỏ. Mình ngừng lại khi nhìn thấy người ấy cụt chân. Loay hoay cả 30 phút để lót đầu gối thật nhiều giẻ vụn để mang chiếc chân gỗ, rồi cố bò lên bờ, dáng đi “quân trường” hiên ngang qua đường vào một quán nhỏ cạnh đó. À thì ra anh lên ăn trưa với miếng chả trứng, chén xì dầu và tô cơm nhỏ.
Lân la trò chuyện, mình mới biết anh là thương phế binh vì đạp trúng mìn khi hành quân ở Sa Huỳnh vào đầu năm 1975, được đưa về Quân y viện Duy Tân ở Đà Nẵng cắt chân, vết thương chưa kịp lành thì bị đuổi ra đường khi Đà Nẵng có chủ mới. May sao cũng lết ra tới được Huế, tìm về quê nhà ở Thanh Hà, được bà con cưu mang đùm bọc. Ngày ngày trên chiếc xe đạp cà tang, anh lặn lội đi bán vé số kiếm cái ăn, bữa mô bán hết 100 cái vé số mới có chén cơm. Đêm về sống trên chiếc đò lá tre mà không khỏi bị ám ảnh về những cơn lũ lớn… Nghe chuyện, tôi phải lấy kính đen đeo lên để che vội cặp mắt của mình các bạn của tôi ơi.”
Hóa ra, trong đời còn những con người rơi vào thân phận của giờ thứ 25 lẻ một phút: chết cũng chưa được chết, sống chẳng ra sống. Suốt ba tuần lễ qua, người viết bài nầy đã bằng nhiều cách tìm hiểu thêm, và biết được nạn nhân trên đây tên Nguyễn Ngọc Anh, sinh năm 1947, là cựu binh nhì của Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 6, Sư đoàn 2BB của tướng Trần Văn Nhật. Số quân của anh là 67/205069, anh đã mang ba lô hành quân qua các chiến trường Mộ Đức, Tam Quan, Bồng Sơn, Sa Huỳnh. Trong lần ra trận cuối cùng ở Nghĩa Hành, Quảng Ngãi vào tháng 2/1975, anh đạp trúng mìn, được trực thăng tải thương về thị xã Quảng Ngãi cắt bỏ chân phải. Sau 9 ngày, anh được chuyển viện về Đà Nẵng điều trị tiếp. Chưa kịp lãnh lương của Bộ Cựu Chiến Binh VNCH, chưa được cấp phát chân giả, thì chủ mới vào tiếp quản quân y viện; để xua anh ra đường, sống chết mặc thây, vì cái tội là lính ngụy.
Hiện anh không có chứng minh nhân dân và không được cấp hộ khẩu. Nhờ một số người nhiệt tình giúp đỡ, tôi đã nói chuyện được với anh, và gởi anh số tiền khiêm tốn để anh có thể đến bác sĩ khám những bệnh đang mang trong người. Khi anh thận trọng hỏi tôi tại sao “cho” anh tiền, tôi đã xác định tiền ấy không phải tiền bố thí, mà là trả nợ. Nợ, vì là chiến hữu, tôi đã để lạc mất đồng đội mình từ 41 năm qua, sau khi anh đã đổ máu cho tôi được sống và đi định cư.
Tôi không gọi bài viết nầy là một bài báo. Thực ra, đây là một lời van xin. Tôi thay mặt anh để làm hành khất quốc tế. Xin các bạn, kẻ đi qua, người đi lại, giúp anh sửa lại miếng che trên đầu, và mua keo trám lỗ mội dưới đáy ghe. Xin nhờ Thời Báo lật ngửa chiếc nón của tôi, để ra giữa nền đất. Tùy khả năng và lòng hảo tâm, xin giúp đỡ cho đồng đội của tôi. Ông Nguyễn Ngọc Anh và bản thân tôi xin chân thành cảm ơn.
NgyThanh
(25 Tháng Tư 2016)

LTS. Để con cháu chúng ta có thể biết, hiểu, và chia sẻ phần nào nội dung của bài viết kể trên, đồng thời giúp các cháu chia sẻ những gì các cháu có thể chia sẻ được, dưới đây là phần lược chuyển sang tiếng Anh của đoạn cuối.
Thời Báo

The 25 th hour plus one minute
Danang fell into the hand of the Communists on Mar 29, 1975, a month before the last day of Saigon. A witness, Dr. Pham Vu Bang wrote about what he saw: “When the Communists entered Danang , entered, not seized it – the RVN Marines Division had abandoned the city on the morning of March 29, 1975 – they arrested and executed a number of RVN wounded soldiers who protested and thrown all other out of Duy Tan General Hospital, no matter what conditions they were.”
On Apr. 05, 2016, Painter Duong Phuoc Luyen, a friend of mine who was in Vietnam for a visit to his place of birth, sent me an email titled “What should we do here.” He wrote:
“An afternoon in Thanh Ha, I saw a man staggering in a small boat. I stopped when I saw that one leg of his is missing. After over 30 minutes of struggling to line his knee with plenty of shredded rags so that he could fit on his wooden leg, he tried to crawl up to the bank, then walked “military way” across the street into a small eatery nearby. Well, he were there for his lunch – a piece of egg patty, a small soy sauce cup and small bowl of rice.
Talking to him, I found out he is a wounded soldier who stepped on a mine in an operation in Sa Huynh in early 1975, was taken to Duy Tan Military Hospital in Danang to have his leg amputated. When his wound was barely healed, he then thrown into the streets at the time the new owners of Danang came. Fortunately, he managed to drag himself to Hue, finding his way home to Thanh Ha where he was harbored by cared people. Every day, on his old bike, he wanders about selling lottery tickets to make a living, only on days with 100 tickets sold can he get a bowl of rice. He spends his nights back on his bamboo leave size boat, haunted by the scary floods … My dear friends, listening to his story, I have to quickly put up my sunglasses to hide my eyes.”
Turns out, there are people who fell into the fate of the 25th hour and one minute: they are not allowed to die, but they have to live in what are not worth calling life. During the past three weeks, this writer has tried to learn more about the man, and found out that he is Nguyen Ngoc Anh, born in 1947. He was a Private of the 1st Battalion, 6th Regiment, Second Infantry Division of General Tran Van Nhat. His serial number is 67/205069. He and his backpack had been all over the battlefields of Mo Duc, Tam Quan, Bong Son, Sa Huynh. During the last encounter in Nghia Hanh, Quang Ngai in 02/1975, he stepped on a mine, was evacuated to Quang Ngai town to have his right leg amputated. Nine days later, he was transferred to Danang hospital for further treatment. There was insufficient time for the Ministry of Veterans of the Republic of Vietnam to give him his benefits, nor issue him his prosthesis. When the new owners took over the military hospital, he was thrown out into the street; let him be on his own, for the crime of being an RVN soldier.
He has no identity card and has not been granted a household residence registration book. Thanks to some help, I was able to talk to him, and sent him a small amount of money so that he can see a doctor for an examination. When he prudently asked me why I “gave” him money, I assured him that it was not an donation, but a debt repayment. A debt, because as a brother in arms, I have left my comrade for over 41 years, after he had shed his blood so that I can live and be able to settle abroad.
I do not call this an article. Actually, I am calling out to you. On his behalf, I am posing myself as an international beggar. Would you, the passers- by, help him repair the patch that covers his head, and buy some sealant to seal the small holes on his boat? Thoi Bao is putting my hat out on the sidewalk. Whatever you can, please help my brother in arms. Please accept Mr. Nguyen Ngoc Anh’s and my thanks from the bottom of our hearts.

More Stories...