Giờ Ra Chơi ( chương 2)

Lts: Một trong những tác phẩm lẫy lừng cùa nhà văn Nguyễn Đình Toàn phải kể đến tác phẩm Giờ Ra Chơi. Trong tác phẩm này, tác giả kể lại chuyến đi nghĩ hè ở Đà Lạt của hai thiếu nữ vừa học xong trung học và thêm một người em trai của một trong hai thiếu nữ này.
Khi viết lần đầu và đăng từng kỳ trên báo Tuổi Ngọc của nhà văn Duyên Anh, tác phẩm Giờ Ra Chơi chỉ có 3 chương.
Nhưng sau đó, với những ái mộ của những độc giả muốn biết thêm về chuyện của cô Thục, khi cô này về Saigon, tác giả đã viết thêm nhiều chương nữa.
Với lời văn trong chuyện như là lời thơ, đã gây xúc động cho nhiều nhiều độc giả, nhất là những độc giả ở tuổi học trò.
Xin mời quý độc giả theo dõi..

CHƯƠNG HAI

Cái lạnh của Đà Lạt có thể nhận ra ngay khi máy bay đáp xuống phi trường Liên Khương.
Ở đó, trong khi chờ đợi xe hơi của hãng hàng không dư vào thành phố, một trận mưa đã đổ xuống.
Cả phi trường trắng xóa dưới mưa.
Hành khách đáp máy bay trở về Sài Gòn chạy tới tấp ra phi cơ. Gió thổi lồng lộng trên các bụi hoa phía đằng trước phi cảng.

phi trường Liên Khương

Chúng tôi rủ nhau vào trong quán uống nước, ngồi ngó ra phi đạo. Những chiếc máy bay cất cánh dưới mưa trông buồn và đẹp vô cùng. Máy bay cất cánh, vượt qua mấy ngọn núi màu xanh dương đặc lại trong bóng mưa mù trời, giây lát biến mất sau màn mây vần vũ.
Lãm ngồi yên lặng trước ly trà bốc khói. Khôi gọi một tách cà phê. Hai người bạn trong ngày hè của tôi. Khôi là em Lãm, nhưng chỉ thua Lãm một tuổi. Lãm bằng tuổi tôi. Chúng tôi lên Đà Lạt sẽ ở tại nhà ông chú của Lãm kỳ nghỉ hè này.
Lãm nói:
– Xui thật. Đi nghỉ hè mà mới đáp xuống phi trường đã tắm mưa thế này, không chừng suốt tháng chỉ còn cách đắp chăn nằm nhà thôi.
Lãm ăn mặc gọn gàng, chiếc quần dạ đen bó sát ống, một chiếc pull-over màu xám, khoác ngoài một chiếc áo mưa màu sữa đặc. Lãm có hai con mắt, tôi tin chắc, ai yêu nó sau này, ắt sẽ bắt đầu bằng đôi mắt đó, đôi mắt to, đen, long lanh một vẻ trong sạch không thể nghi ngờ. Nhưng tôi thich Lãm nhất là lúc nó mặc quần áo dài, thứ lụa nội hoá màu mỡ gà hay tím, in hình chữ thọ. Tôi vẫn nói đùa với Lãm: “Con bé này lúc nào cũng mang lời chúc tụng trên người”.
Khôi có vầng trán cao, cắt tóc ngắn đằng trước nhưng để dài ở chung quanh và sau gáy. Hắn có đôi lông mày rậm giao nhau phía trên sống mũi, hai con mắt đen sâu, trông hơi dữ. Theo Lãm nói lại, hắn có nhiều bạn gái. Như thế, tuy hắn nhỏ hơn tôi, nhưng đây là một người bạn khá nguy hiểm. Nhưng, tôi nhủ thầm một mình “Chú bé, trêu ta, chú sẽ biết tay ta”.
Lãm có vẻ sốt ruột vì trận mưa kéo dài.Trong hơi lạnh của bầu trời ẩm đục, hai mắt Lãm trông thăm thẳm như chìm lẫn sau một làn sương mỏng.
Tôi nói:
– Con bé này hay thật, rừng núi ở cả trong mắt nó.
Lãm trợn mắt:
– Chị cứ gọi ta là con bé mãi, có ngày ta vặn cổ chị.
Khôi đứng áp mặt vào khung kính của quán hàng trông ra ngoài sân bay, hơi thở của hắn làm mờ mặt kính mỗi lúc.
Hắn to con và bộ quần áo dầy màu nâu sậm càng làm cho hắn có vẻ to lớn hơn.
Hắn để mặc tôi và Lãm ngồi ở bàn, cứ đứng áp mũi vào tấm tường kính, không nhúc nhích.
Sau cùng hắn quay lại quầy hàng hỏi mua một bao thuốc lá, bật diêm, châm hút.
Lãm có vẻ khó chịu vì việc Khôi hút thuốc lắm. Nó lườm Khôi bảo: “Bầy đặt”. Chắc Khôi nghe thấy nhưng làm ngơ.
Hắn trở lại bàn ngồi với chúng tôi, hút thuốc một cách tự nhiên. Tôi chắc đây không phải lần đầu hắn hút thuốc. Khôi thở khói mù mịt, cố tình trêu tức Lãm.
Khôi hỏi tôi:
– Khói thuốc không làm chị khó chịu chứ?
Tôi nói:
– Không. Nhưng người hút thì có.
Khôi ngó tôi. Tôi cười với hắn và bảo:
– Khôi cho tôi một điếu hút thử xem sao.
Lãm nói:
– Nếu hai người muốn hút thuốc thì ra ngoài hiên mà đứng.
Tôi giả vờ hỏi Khôi:
– Ở đây người ta cấm hút thuốc à?
Khôi đáp:
– Không. Nhưng người ta cấm khiêu khích.
Tôi cười bảo với Khôi:
– Vậy là huề nghe.
Lãm ngó chúng tôi hứ một tiếng rồi nhún vai, không nói gì.
Tôi tự bật diêm châm điếu thuốc. Cách tôi đốt thuốc làm Khôi cười và Lãm khó chịu.
Tôi bảo Lãm :
– Làm gì mà nhăn nhó quá thế chị?
Chiếc xe bus chở khách của hãng chạy vào sân, ngừng lại ngoài hiên. Hành khách lao xao gọi nhau lên xe.
Lãm kêu người con gái hầu bàn lại tính tiền.

Trời tiếp tục mưa.
Mưa đổ ròng ròng trên mui xe vỡ thành những hạt bụi trắng xoá. Phia góc phi trường, những bông hoa đỏ nhìn thấy lờ mờ trong bóng mưa, tựa những tin vui chưa rõ. Gió lạnh thổi, những ngọn lá mềm chĩu xuống sát chân tường, màu vôi vàng uớt nước sậm thêm một chút. Dưới những tàn cây, buổi chiều đã sắp sửa. Mưa và hơi nước tụ dưới những đám lá dày trông như biến thành khói, màu khói xanh đặc biệt của cao nguyên, từ đó, dường toát ra cùng một lúc, cái lạnh lẽo và sự ấm cúng, sương khói như tấm áo khoác ngoài của cây cỏ, thung lũng, gió cuốn lướt thướt trên lối đi trải nhựa sâu hút dẫn ra con lộ phía ngoài, các rừng cây đã chìm hẳn vào bóng chiều chỉ còn là những khối xanh đặc. Trong một phút, cả trí óc tôi dường cũng bị thu hút, tan loãng vào khoảng trời nhòa nhat, ngây ngất bên ngoài đó.

Lãm nói như ra lệnh:
– Thôi đứng dậy, ra xe. Tao phải coi chừng tụi bay hết kỳ hè này chắc chết.
Tôi đứng dậy theo Lãm, bảo:
– Khỏi tập làm mẹ già, trông mày cũng giống lắm rồi.
Lãm nói như quát lên:
– Dập điếu thuốc đi.
Tôi vứt mẩu thuốc ra ngoài hè, cố ý lắng nghe tiếng đốm lửa bị nước mưa làm tắt kêu xèo một tiếng, bảo Lãm:
– Quyền hành vừa thôi chị. Có lúc cần tôi trông nom tôi không thèm ngó mặt chị đâu.
Khôi nói:
– Mỗi người tự xách đồ của mình ra xe. Mau, còn về ngủ.
Lãm hất ngược tóc ra đằng sau, lấy sợi thung buộc túm lại, bảo:
– Chị có khiến Khôi xách hộ đâu mà chưa chi đã phải chối.
Tôi ngó Lãm cười, bảo:
– Con nhỏ, sao mày có cái gáy đẹp quá vậy?
Lãm cầm cái sắc lia về phía tôi. Tôi phải gập người lại tránh.
– Đừng mất công nịnh tao.

Khôi chạy ra xe trước. Hắn chiếm một chỗ ngồi sát cửa sổ xe. Tôi và Lãm ngồi băng phía sau. Các hành khách khác cũng đã lên xe, ngồi vào chỗ. Chỉ còn chờ mấy người lao công buộc những hành lý trên nóc xe, phủ tấm bạt che mưa xong là xe chạy.
Dù mưa vẫn lớn, Lãm không chịu quay kính cửa xe lên. Mưa hắt vào mặt lạnh buốt. Gió hất tung đầu tóc. Mưa quất vào mặt đau rát.
Tôi ngả đầu vào vai Lãm. bảo:
– Nhỏ, mày cho tao dựa đầu một tí.
Lãm không nói gì. Nó ngồi ngó ra ngoài cửa xe. Mỗi lúc xe chạy qua một tàng cây thấp nghe như tiếng gió reo vỡ bên ngoài. Rừng cây lướt qua trước mắt không nhận nổi hình thù, chỉ nhìn thấy một màu trắng đục của mưa phủ ngoài một màu xanh. Hỡi nuí non, cây cỏ, rét mướt, ta xin chào các mi và xin hẹn ngày mai ta sẽ nhìn rõ mặt, bây giờ ta muồn ngủ đây.

Xe leo núi, đổ dốc, làm nôn nao ruột gan. Tiếng mưa rơi trên thành sắt rào rạt bị gió cuốn nghe như tiếng thác đổ, không khí ướt dính, mùi thơm của Lãm ngửi thấy rõ bên cạnh.
Tôi hỏi Lãm:
– Sắp tới chưa?
Lãm không nói gi, nhưng tôi thấy nó ngọ nguậy.
Một lát tôi mở mắt nhìn, thấy cái gáy của Khôi, tóc trùm xuống cổ áo.
Tôi nhớ có đọc đâu đó một câu, hình như của Huy Cận nói về Xuân Diệu “chàng có cái duôi tóc như cái cò cái hạc”. Đây hẳn là thứ cò hạc của thành phố, thứ cò hạc có lẽ chưa bao giờ soi thấy bóng mình trên đồng ruộng.

Tôi gọi Khôi bảo:
– Này Khôi, để tóc dài làm gì vậy?
Khôi quay lại ngó tôi, rồi hắn lại nhìn thẳng ra đằng trước, nói đủ cho tôi nghe thấy:
– Để chọc những kẻ thích nhìn vào gáy người khác.
Lãm phàn nàn, đi máy bay không sao, ngồi xe hơi một chút khó chịu quá. Tôi ngồi thẳng dậy, dựa lưng ngay ngắn vào thành ghế bảo:
– Mi ghé vào vai ta mà nằm cho đỡ.
Lãm tụt người cho thấp hơn xuống trong chiếc ghế của mình, nhắm mắt, khoanh tay trước ngực. Xe lắc lư làm Lãm đập vào vai tôi mỗi lúc.
Tôi kéo đầu Lãm cho tựa vào vai mình và nói đùa:
– Ngủ đi em, mộng bình thường.

Lãm làm lơ như không nghe cũng hay biết gì. Quãng đuờng từ phi trường về thành phố cũng khá xa, xe chạy đến sốt ruột vẫn chưa tới. Ở nhiêu chỗ, đêm đã bắt đầu xuống. Những mảng bóng tối lem luốc che từng khoảng rừng, sương bay mù trời, khói núi và hơi nước quần tụ trong các thung lũng, gió mỗi lúc thêm lạnh giá.
Tôi hỏi Khôi:
– Mấy giờ rồi?
Khôi giơ tay coi đồng hồ bảo:
– Bốn giờ.
– Mới bốn giờ, sao trời như sắp tối?
Khôi hỏi:
– Chị đói bụng rồi à?
– Không. Nhưng tôi buồn ngủ quá.
– Thì mình lên Đà Lạt chỉ để ngủ chứ để làm gì.
– Thế Khôi không có người bạn nào ở trên này, dẫn tụi mình đi chơi à?
– Chị muốn đi đâu tôi dắt đi, việc gì phải nhờ ai.
– Nhưng có bạn vẫn thích hơn chứ.
– Chị lên Đà Lạt bao nhiêu lần rồi?
– Vài lần. Nhưng chưa lần nào đuợc đi hết những chỗ mình thích.
– Chị muốn đi những đâu?
– Thì rừng, núi, thác, đèo, trại cây.
– Tôi có người quen làm ở Sở kiểm lâm. Lên tới nơi, tôi sẽ giới thiệu chị với hắn và nhờ hắn dẫn chị đi.
– Tôi ngại làm quen với người lạ lắm.
– Con trai hay con gái?
– Mỗi người một cách.
– Con gái hay vờ vịt.
– Bạn Khôi có ai giống vịt không?
– Không. Nhưng bạn chị Lãm thì có.
Tôi nghĩ thầm, nhỏ này ghê thật, lanh và chẳng lép ai điều gì. Tôi gợi chuyện lại với hắn:
– Tôi nghe Lãm nói, Khôi nhiều bạn gái lắm phải không?
Khôi lặng thinh sau câu hỏi của tôi. Có lẽ hắn muốn đo lường xem tôi định nói gì.
Tôi tiếp:
– Cái gì khiến Khôi dễ làm quen với họ?
Khôi đáp:
– Tôi cũng không biết.
– Cái gì khiến họ tin Khôi?
– Có lẽ vì tôi ngay thẳng.
Ngưng một lát, hắn tiếp:
– Dù sao họ cũng chỉ là bạn. Vả lại, khi chị quen một người chị dễ quen thêm một người khác.
– Khôi nói, Khôi ngay thẳng nghĩa là thế nào?
– Nghĩa là tôi sòng phẳng trong trong cách đối xử với bạn hữu mình.
– Tôi vẫn chưa hiểu rõ câu nói của Khôi.
– Nghĩa là điều gì tôi có thể nói ra đuợc thì tôi nói và tôi không nói dối.
Tôi cười bảo:
– Nghĩa là không nói dối nhiều lắm?
Khôi khẽ nghiêng đầu nhìn tôi qua một bên vai rụt thấp của hắn, bảo:
– Tôi biết giới hạn sự thân mật của tôi với người khác.
– Khôi học giỏi không?
– Tôi chưa bao giờ đứng thứ nhì trong lớp.
– Vậy thì Khôi cừ quá rồi còn gì.
– Có lẽ chị hiểu lầm rồi. Tôi chỉ định nói, tôi thường đứng từ thứ ba trở xuống.
– Tôi bao giờ cũng đứng thứ nhất.
– Chị nhất cả về triết nữa phải không?
– Sao Khôi biết?
– Trong cái “thế giới bỏ túi” của chị Lãm, cái gì tôi cũng biết.
– Lãm nó thân với Khôi lắm à?
– Tôi là cố vấn thứ hai của chị ấy.
– Thế cố vấn thứ nhất của nó là ai?
– Chắc chị ấy chưa tìm thấy.
Trong có một lúc nói chuyện, hắn đã làm tôi hổng cẳng mấy lần. Hắn biết giăng bẫy tiếng nói của hắn và chờ dịp xập xuống.
Tôi nói:
– Tôi chắc Khôi có thể nhất ở trong lớp.
Hắn đáp:
– Tôi chưa thử cố bao giờ.
– Khôi không thích đứng nhất lớp à ?
– Tôi cũng không biết.
– Lãm nó hay hỏi Khôi về cái gì?
– Về những cái đáng nhẽ chị ấy không cần hỏi.
– Thí du?
– Khôi có biết cục tẩy của chị đâu không?
Hắn cố tình chọc cho tôi cười, nhưng hắn không cười. Trong hắn có một cái gì kỳ quặc. Nếu chỉ nghe những điều hắn nói không thôi, người ta sẽ tưởng hắn là người hoạt bát, lanh lẹ, nhưng ngược lại, hắn nói chậm rãi, và biềt làm cho tiếng nói của hắn có vẻ ngờ nghệch, có thể tin đuợc. Đó có lẽ là cái hắn gọi là sự thành thật của hắn. Hắn dễ thương nhưng tóc hắn để kỳ quá. Nhưng cứ nhìn mãi vào cái đuôi cò đuôi hạc của hắn, cũng thấy có cái hay hay, ăn nhập với lối nói chuyện hóm hỉnh của hắn. Và cuối cùng người ta sẽ nhận ra, hắn ắt phải như thế, không thể khác. Tất cả người ngợm, tóc tai, mặt mũi hắn, kết hợp một cách nhịp nhàng với nhau thành một sự khó chịu rất dễ thương. Khó chịu trước mắt người khác. Và dễ thương đối với chính hắn. Có khi chính hắn lại khó chịu khi nhìn vào những cái đầu hớt chải gọn gàng của người khác y như người ta nhìn hắn.
Tôi hỏi:
– Sao Khôi không chịu cắt tóc ngắn đi?
– Quái nhỉ, tại sao tôi lại phải cắt đi?
– Dầu sao, Khôi để tóc thế trông cũng kỳ.
– Tôi không làm phiền ai cả. Và tôi chỉ chơi với những người không thấy thế là kỳ.
– Nhưng trông nó có vẻ tác điệu quá.
– Sao chị không nói là trông sốt ruột quá?
– Không. Tôi có cho thế là sốt ruột đâu.
– Vậy chị bận tâm làm gì?
– Tôi muốn hiểu một điều làm tôi thắc mắc vậy thôi.
Khôi quay hẳn người lại nhìn tôi, hỏi:
– Chị biết Lautréamont chứ?
– Sao?
– Ông ta đã ăn một con chuột sống trước mắt mọi người.
– Nhưng ông ấy là Lautrémont ăn con chuột, chứ đâu phải ăn con chuột để trở thành Lautréamont?
– Đúng thế. Nhưng đâu phải chì mình ông ta có quyền ăn chuột. Ai muốn ăn thì ăn chứ.
Lãm hích tôi một cái thật mạnh vào mạng sườn, bảo:
– Bộ hết chuyện rồi hay sao mang những chuyện khỉ gió ấy ra nói, làm cho nó điên tiết lên.
Tôi nói:
– Trong khi các tinh cầu trao đổi ánh sáng, ngươi hãy ngủ đi.
Lãm nhắm nắt trở lại, vểnh mặt lên hỏi tôi:
– Mày có biết con sâu đất mê ngắm sao không?
– À, thế ra mày không theo dõi tin tức gì cả. Khi người ta bước chân xuống nguyệt cầu, chiều cao là trái đất đấy.
Lãm bắt chước giọng tôi thường nói với nó:
– Nhỏ, sao mày dóc tổ quá vậy?
Xe chạy qua một cánh rừng có những thân cây đổ ngổn ngang. Màu đất đỏ nhìn thấy trên các sườn núi và trong các thung lũng ỡ những chỗ cỏ chưa lấp kín. Ngày bỗng buồn lạ lùng trong cái vắng không mênh mông của rừng núi, mưa đan thành một tấm lưới mịt mùng giăng qua các đỉnh cây và các lũng sâu từ núi này sang núi nọ, những khoảng cách cứ tưởng tượng đủ thấy mỏi cánh chim bay. Chiều như một nỗi hoang mang rộng lớn đang chụp xuống các cánh rừng. Những thân cây trông có vẻ bơ vơ, lạnh lẽo. Hai bên đuờng đã thấy loáng thoáng nhà cửa, đồn bót. Xe sắp về đến trạm.
Tôi gọi Lãm:
– Dậy đi Lãm, tới nơi rồi.
Lãm mở to mắt ngó ra ngoài cửa sổ xe nói:
– Đâu, còn dốc mà.
– Vớ vẩn, ở đây chỗ nào chả là dốc.
Sơn cúc nở vàng trong các bụi cây hai bên đường như ngỏ lời chào đón. [Hoa như dấu hiệu thân yêu nở ở nơi gần hơi người]. Trên những tấm biển lớn người ta đã đọc thấy những dòng chữ quảng cáo, chào đón du khách của các khách sạn, nhà trọ, thị xã hiện dần ra bằng những nhà cửa.
Khôi nói:
– Chắc chú Quyên sẽ đón chúng mình ở trạm.
Lãm nói:
– Trời xấu, máy bay đến trễ, sợ chú chờ lâu tưởng mình không lên được, bỏ về thì mệt quá.
Nhưng chú Quyên vẫn còn đợi chúng tôi ở trụ sở hãng hàng không. Xe ngừng lại đúng vào lúc chuông nhà thờ thành phố đổ lễ chiều. Tiếng chuông âm vang trong bầu trời ướt sũng, khu phố loáng thoáng bóng người, ai nấy đều co ro trong những tấm áo mưa, áo rét, tất cả như một lời nhắc nhở các du khách rằng, họ chỉ là những người lạ trong thành phố.
Tôi nhớ lại một câu thơ đã đuợc nghe đọc đâu đó còn sót trong đầu :

Hãy rung lại tiếng chuông
của một ngày vàng trong quá khứ
Có thể em sẽ nghe ra hồn mình
run rẩy từng mỗi thanh âm.

Nhà thờ chánh tòa Đà Lạt

Lãm gọi:
– Chú Quyên! Chú Quyên!
Chú Quyên ăn mặc sang trọng, đón chúng tôi bằng một chiếc xe hơi đen, mới. Lãm giới thiệu tôi với ông. Trong khi chờ lấy lại hành lý, chú Quyên hỏi thăm chúng tôi về chuyến bay vừa rồi:
– Mưa gió thế này, chắc máy bay làm các cháu mệt lắm ?
Tiếng nói của ông lẫn với tiếng chuyên trò của những người chung quanh đang luc tục xuống xe, nhận lại hành lý. Vài chiếc taxi lượn vòng mời khách. Quang cảnh rộn rịp trong chốc lát và chỉ ở một chỗ, cho thấy rõ cái vắng vẻ của tỉnh lỵ.

Khôi ghé tai tôi bảo:
– Chị có nghe thành phố rung chuông đón chúng ta?
Một trận gió cuốn mưa cuộn tròn lại thành một cây nước giữa đường, ùa tới, cả khu phố dường run rẩy. Trận gió lướt qua, tôi nhìn xuống con dốc truớc mặt bảo với Khôi:
– Tôi lạnh quá.
Lãm quay sang hỏi chú Quyên:
– Mới mưa hay mưa lâu rồi hả chú?
Chú Quyên nói :
– Không, trời không mưa dầm đâu mà sợ. Mau lên xe về kẻo ướt. Có lẽ hôm nay có bão rớt nên mới mưa lớn thế.
Chú Quyên. Tên người đàn ông dội trong tôi một âm vang gì đó. Phải rồi, tên chú tôi đã nghe trong một bản nhạc:

Vuờn xuân có một con đỗ quyên
Hót lên hoài ngàn muôn tiếng sầu thảm.

Đỗ quyên, giống chim của mùa hè. Chú nói, chú mong các cháu sẽ được vui ở nhà chú trong kỳ nghỉ hè này.
Tôi không biết nói gì với chú nên yên lặng.
Khôi nói nhỏ với tôi:
– Chú Quyên góa vơ đã năm sáu năm nay.
Tôi nhìn xuống con dốc một lần nữa, tự nhiên cảm thấy thật sự xa lạ với tất cả cảnh vật và những người xung quanh. Chú Quyên, Lãm, Khôi, thật ra họ chẳng có liên hệ gì với tôi cả. Họ chỉ là những người quen biết. Họ có những dây liên lạc ruột thịt, còn tôi, tôi chỉ là người ngoài, là khách của gia đình họ.

Trời mưa và lúc xe chạy xuống dốc, tôi nhìn thấy sương mù ủ kín trên mặt hồ, gió từ dưới hồ thổi lên càng lạnh. Những cây anh đào hai bên lề đường trụi lá, trông như đã chết khô, nhưng cỏ và các rừng thông đều xanh tươi. Khu chợ vẫn đông người qua lại. Cảm giác bơ vơ tôi tưởng như đang biến thành sự lạnh lẽo bám trên người. Dĩ nhiên, tôi biết rõ đây chỉ là một chuyến đi chơi của tôi, không có gì quan trọng trong những ngày nghỉ học này, nhưng phải ra khỏi gia đình, ra khỏi mái nhà quen thuộc của mình, nhập hẳn vào một khung cảnh mới, tôi mới nhận ra sự xa lạ của mình đối với đời sống.

Đèn trong các cửa tiệm đã đuợc thắp lên, thấp thoáng sau các tàn cây và các khung cửa trong bóng mưa, làm nhớ nhà, và trong nỗi nhớ nhung, buồn bã tình cờ đó, tôi bỗng nhận ra tôi đã im bặt khá lâu, nhận ra sự thách thức, đe dọa của đời sống khi người ta phải sống một mình.

Feature News
1 of 7,045

Ngồi trên xe, Lãm hỏi thăm chú Quyên về công việc làm ăn, về mùa trái cây Đà Lạt, về nhà cửa.
Chú Quyên lúc nào cũng tươi cười trả lời các câu hỏi của Lãm. Lãm hỏi để mà hỏi. Chú Quyên trả lời để mà trả lời, những câu hỏi và trả lời không có gì đáng chú ý. Chú Quyên bảo người tài xế lái xe quanh hồ một vòng cho chúng tôi xem hồ. Hồ nước gió thổi làm thành những đợt sóng lớn. Những chỗ có bóng cây mặt nước trông thẫm lại và những ngấn cây vẽ thành một đuờng vòng lồi lõm với khoảng trời sáng hơn giữa mặt hồ giống như một mặt gương xỉn. Xe chạy chậm chậm, tôi nghe cả thân thể chìm đắm trong một môt sự váng vất êm đềm. Trong hồn tôi lúc ấy cũng xôn xao những câu thơ, những chữ, những hình bóng lờ mờ rơi vỡ, tan nát, không thể nhập lại.

Ôi những ao hồ trên quê hương tôi
Như những dấu chân của định mệnh hiện hình dẫm xuống

Không thấy tôi nói gì, chú Quyên quay lại hỏi:
– Cô Thục đã bắt đầu nhớ nhà rồi sao?
Tôi mỉm cười với ông, nói:
– Không ạ. Tự nhiên cháu thấy lạnh và lười biếng quá.
Khôi ngó tôi trong tấm kính xe bảo:
– Nếu chị Thục chưa muốn về nhà ngay thì xuống xe vào đây thuê thuyền đạp chơi một lát.
Thực ra, tôi đã mệt lắm, muốn về nghỉ, nhưng nghĩ, nhà chẳng phải nhà mình, tôi sẽ phải làm quen với mọi vật dụng xa lạ, từ các lối ra vào, bàn ghế, giường nệm, chỗ tôi ở sẽ như thế nào, có cửa sổ trông xuống vườn hay nhìn ra đồi núi, mặt hồ, những tưởng tượng làm tôi ngần ngại. Nhưng bỏ xe xuống đi chơi trong lúc chân tay mỏi rời thế này cũng chán, nhất là nghĩ đến lúc về vẫn phải làm tất cả những gì mình đang muốn tránh, nên tôi không biết quyết định thế nào.
Chú Quyên quay lại nhìn chúng tôi, bảo:
– Nếu các cháu thích cứ xuống đi chơi. Nhưng nhớ là tối nay sẽ có một dạ hôi nho nhỏ chú muốn đưa các cháu tới dự.
Đây lại cũng là một mối phiền hà nữa. Tôi ít giao thiệp với “thế giới bên ngoài”, thành thử còn vụng về trong giao tế. Tôi không biết trong các buổi tiếp tân như thế, nguời ta cần phải có những cử chỉ, cách ăn nói, đi đứng thế nào cho thích hợp.
Để tiện việc suy nghĩ và chuẩn bị cho buổi tối, tôi nói với Khôi, xin chú Quyên cho xe ngừng lại, tôi muốn tản bộ coi thành phố ngay bây giờ. Chú Quyên vui vẻ bảo xe ngừng lại.
Tôi và Khôi xuống xe. Lãm kêu mệt, muốn về nhà nghỉ. Nó cũng nói không muốn bỏ phí cuộc vui buổi tối.
Chú Quyên nói:
– Các cháu cứ đi quanh quẩn. Lát, chú sẽ cho xe ra đón.
Tôi cảm ơn ông rồi nói:
– Để chúng cháu đi bộ về cũng được ạ. Vì chúng cháu cũng chưa biết đi đâu, xe biết đón ở chỗ nào.
Chú Quyên cười:
– Thành phố có một chút thế này xe chạy quanh một lúc thế nào chẳng gặp.
Khôi nói:
– Chú đừng bận tâm. Chúng cháu sẽ vế kịp bữa cơm tối.
Chúng tôi lấy áo mưa khoác lên người và chú Quyên bảo người tài xế dừng xe lại.
Khôi và tôi xuống xe.
Chỉ còn lại tôi với Khôi, tôi cảm thấy thoải mái hơn.
Ngồi mãi trên máy bay và trên xe, buớc xuống đất, tôi vẫn còn cảm thấy hơi lao đao.
Khôi hỏi:
– Chi muốn đi chơi phố hay bơi thuyền…
Tôi cười bảo Khôi:
– Cứ đi đi đã. Khôi không mệt chứ?
Khôi không đáp thẳng vào câu hỏi của tôi:
– Mặt chị xanh mét.

Chúng tôi tản bộ quanh hồ. Trời mưa và chiều gần như đã sắp hết hẳn. Nhưng quanh hồ vẫn có những người đội mũ, mặc áo mưa ngồi câu cá. Bây giờ tôi mới nhìn thấy màu thật của nước, cái màu xanh xám như màu đá. Giữa những đám cỏ mọc lan ra ngoài mép nước, tôi nhìn thấy những chùm hoa tím nhỏ, những bông hoa lấm tấm trắng trong đám lá xanh. Khôi lầm lũi đi bên tôi. Hắn móc túi lấy thuốc lá hút. Hắn hỏi tôi, có muốn hút không. Tôi nói, không. Vì cảm thấy nôn nao khó chịu. Khói thuốc Khôi thở ra thơm ngát trong mưa và bị gió hút đi mất liền. Trên những bực thềm dẫn lên khu khách sạn trên lưng đồi, tôi nhìn thấynhững sợi cỏ mọc len trong kẽ đá và sương mù đã bắt đầu buông xuống.
Khôi nói:
– Thôi, trời lạnh quá, đừng đi chơi nữa. Để tôi đưa chị vào nhà thủy tạ uống một ly nước nóng cho ấm.
Tôi ngó Khôi, bảo:
– Được, Khôi muốn cho tôi uống gì cũng được.
Tôi cũng nói tiếp:
– Tôi có muốn đi đâu, Tự nhiên thấy ngại không muốn về nhà chú Quyên.
Khôi hỏi:
– Sao thế?
Tôi nói:
– Chẳng sao cả. Tôi ít khi ra khỏi nhà. Nên chỉ cần sống hơi khác một chút với cách sống trong gia đình đủ làm tôi bối rối.
Khôi nhìn tôi bảo:
– Chị đừng lo. Nhà chú Quyên rộng lắm. Chúng ta sẽ có phòng riêng. Chị muốn sao tùy ý mà.
Tôi nhìn Khôi, bảo:
– Khôi có vẻ được tập cho biết mọi việc nhỉ.
Khôi nói:
– Dù sao, tôi cũng chưa thể nói như thế được.
Trong nhà thủy tạ lúc đó cũng khá đông người, tuy nhiên vẫn còn nhiều bàn trống. Khôi hỏi tôi muốn ra ngoài hiên nhìn hồ hay ngồi trong nhà.
Tôi nói:
– Ra ngoài.
Những ngọn đèn ngoài góc sân không đủ soi sáng cả một hàng hiên dài và chúng tôi ngồi núp ở một bàn kê sát tường như được giấu trong bóng tối. Từ chỗ này, tôi có thể nhìn thấy mưa trên hồ, nhìn thấy những biệt thự bên kia bờ lờ mờ trong ánh điện vàng và mưa. Trời rét đến nỗi, ly nước trà nóng Khôi kêu cho tôi, uống đến hớp thứ hai, đã thấy lạnh môi. Vị ngọt của đuờng, vi chua của chanh, chất chát của trà, thấy rõ từng thứ một trong cái nguôi tanh cùa từng hụm nước.

Khôi nói:
– Chị định tát cạn Đà Lạt trong một ngày hôm nay sao?
Tôi cười bảo:
– Tôi không mắc bẫy tiếng nói của Khôi nữa đâu.
– Chị muốn dạo phố, ngắm hồ, bơi thuyền, nhìn mưa và tối nay khiêu vũ nữa. Đà Lạt còn gì?
– Không lẽ Đà Lạt của Khôi chỉ có được ngần ấy thứ thôi sao?
Tôi nói và thấy mỏi gáy nên ngả đầu ra phía sau ghế, ngửa mặt nhìn lên vòm mái hiên tối. Trong bóng đen của buổi chiều đang rút đi hết, màu vôi trắng của mảnh tường trông lam nham. Gió lạnh buốt thổi từng cơn dọc theo mái hiên kéo tới cuối hành lang, tan lẫn vào khoảng không xám đục cắt với cạnh tường dựng nghiêng như một lưỡi dao.
Khôi hỏi:
– Chị đã muốn về chưa?
Tôi nói:
– Muốn về lắm rồi. Nhưng không còn muốn cử động nữa.
Trời bỗng thôi mưa. Những tiếng động rì rào phút chốc dường như chẳng còn sót lại một tiếng nào. Cả mặt hồ chỉ còn những con sóng lăn tăn, trông như một mặt da với những cơn xúc động đang làm cho rung chuyển. Ý nghĩ này làm tôi rùng mình.
Khôi bảo:
– Thôi đuợc. Tôi sẽ chờ tới lúc chị muốn về thì về.
Tôi nhắm mắt nói với Khôi:
– Khôi đã chiều ai như thế bao giờ chưa?
Khôi nói:
– Tôi câu cá rất giỏi. Còn ở đây thế nào cũng có bữa tôi dẫn chị đi câu.
Tôi nói:
– Tôi mà có quyền tôi sẽ cấm không cho ai câu cá trong hồ này.
Khôi cười bảo:
– Chị còn muốn cấm gì nữa không?
Tôi nghe những cơn gió lạnh mơn man trên mặt và có cảm tưởng cả bầu trời êm tĩnh, sạch sẽ, cả bầu trời vừa đuợc rửa bằng cơn mưa, đang thấm xuống trong người.
Tôi nói:
– Tôi sẽ cấm không cho ai đi một mình vào thành phố. Tôi sẽ gửi lời chào tất cả du khách tới Đà Lạt trong bản tin của đái phát thanh thành phố mỗi buổi tối. Và, nếu trong số du khách có một người nào đó nổi tiếng, tôi sẽ mời người đó nói vài tiếng với Đà Lạt trên làn sóng điện. Tôi sẽ có những chương trình nhạc dành riêng cho họ phát vào những giờ nhất định trong đêm khuya.
Khôi nhướng mày, bảo:
– Chị còn muốn bầy thêm trò gì nữa không?
Tôi nói trong lúc hai mắt dính lại vì buồn ngủ:
– Và tôi sẽ chúc mọi người ngủ ngon và hạnh phúc.
Khôi giục:
– Trong khi chờ đợi cái ngày dài mỏi mệt đó của chị, chúng ta nên về nhà xem có gì ăn không.
Tôi nói:
– Ước gì tôi đuợc ngồi đây ngủ một giấc.
Khôi bảo:
– Trong những ngày nghỉ ở đây, sẽ có bữa tôi tình nguyện ngồi canh cho chị ngủ một lần như thế.
Câu nói của Khôi làm tôi vui thích. Tôi hé mắt nhìn khoảng trời rộng bên ngoài. Trong tưởng tượng, tôi đoán các vì sao chắc đã mọc. Quả thật, trên cao, trên đỉnh những rừng cây đã đen đặc lại, sau những đám mây đang dần tản mạn đi, trên bầu trời trong veo của đêm, những ngôi sao nhỏ đã long lanh chiếu sáng.
Tôi hát thầm một câu trong trí tưởng:

Ngồi im nhìn lên vườn sao lấp lánh
Thấy tình cầu ngỡ tưởng là người cũ
Là người của xa mờ…

Người cũ, người xa, người chưa đến, có biết bao nhiêu tên gọi dành sẵn cho một người với cuộc đời trước mặt, bao nhiêu khổ đau, bao nhiêu hạnh phúc, bao nhiêu ước mơ sẽ thành tựu, sẽ dở dang, sẽ rơi rụng, sẽ sa ngã. Ước mơ nào là ước mơ lớn nhất của đời tôi đây?
Tôi hỏi Khôi:
– Có lúc nào Khôi mường tượng nổi sau này, mình sẽ sống như thế nào ?
Khôi ngồi lọt thỏm trong chiếc ghế của hắn, đầu thụt sâu xuống hai vai, đầu bù xù như tổ chim nhưng xén gọn truớc vầng trán rộng [mỗi lần nhớ đên bộ tóc của hắn tôi laị tưởng tượng cầm cái kéo trong tay, nhưng thực cũng không biết phải cắt thế nào cho đúng]. Hắn ngồi im như tượng, mặt mũi lầm lì.
Khôi nói :
– Có gì rắc rối đâu. Sang năm, nếu cuộc chiến tranh này còn kéo dài, có lẽ tôi sẽ phải đi lính. Cũng có thể tôi sẽ thi đỗ và đuợc đi học tiếp.
– Nếu đuợc đi học nữa Khôi sẽ học gì?
– Học luật, học thuốc, học một cái nghề gì đó.
– Như thế đời sống chỉ là những cuộc triển hạn, thôi à?
– Như bất cứ cái gì người ta có thể gọi nó.
– Khôi có buồn không?
– Tôi nghĩ cũng chẳng nên buồn sớm quá.
– Khôi cũng muốn triển hạn cho nỗi buồn của mình à?
– Tôi mới mười bẩy tuổi.
– Tôi sắp mười tám tuổi và phải nghĩ đến tương lai mình.
– Chúc chị may mắn.
– Lời chúc của Khôi làm tôi muốn khóc.
– Khóc làm gì cái không đáng khóc.
Giọng nói tỉnh táo của hắn làm tôi chợt nhớ lại tôi đã đi quá xa trong cơn mơ tưởng của mình. Nhưng quả thật dường như tôi cũng nhận ra có một sự đe dọa nào đó đang bay lượn quanh mình làm tôi hoảng sợ. Tôi muốn nói chuyện với Khôi và nắm lấy những tiếng nói ấy để ra khỏi sự lo sợ vẩn vơ này, như đó là điều không có thật, chỉ là sự lo sợ hão huyền của tôi mà thôi.
Tôi hỏi:
– Trong số các bạn gái của Khôi, Khôi thân với ai nhất?
Tôi nói, không mở mắt nhìn, nhưng tôi biết, hắn đang ngó tôi.
Khôi bảo:
– Tôi chẳng thân với ai cả. Nhưng giá có tôi cũng chẳng làm thế nào nói cho chị hay đuợc. Bởi chị có biết mặt mũi các bạn của tôi ra sao đâu.
Tôi cười một mình:
– Tôi cứ tưởng tượng đó là người bạn đẹp nhất của Khôi.
Tôi nghe tiếng Khôi cười nhỏ, và hắn tiếp:
– Chị có cho là chị đẹp không?
– Chi vậy?
– Để tôi căn cứ vào đấy cho chị biết bạn tôi có đẹp không.
– Theo Khôi thì tôi ra sao?
– Chắc cũng đủ để sau này làm phiền một vài người nào đó.
– Chỉ có thế thôi à?
– Chị muốn phải như thế nào nữa?
– Không, tôi làm sao muốn đuợc thế này hay thế khác. Nhưng Khôi chưa trả lời câu hỏi của tôi.
Tôi có đọc được trong sách một câu bà ngoaị dậy cháu thế này: “Con đừng động vào chiếc nụ sớm quá. Vì như thế, nó không thành hoa và cũng không kết trái được”.
– Vậy, ngoài cái bộ tóc kỳ quặc, Khôi còn nhiều cái ly kỳ nữa?
– Tôi không ngờ bộ tóc của tôi lại làm chị đau lòng đến thế.
– Không. Khôi làm đau lòng mấy bác thợ cắt tóc chứ không phải tôi.

Hắn bật cười thành tiếng. Cái cười làm cho hắn trở nên có một vẻ lanh lẹ khác thường. Hắn như con chim đang ngái ngủ, chợt đập cánh sảng khoái bay lên. Và tôi chợt nhận ra ở hắn, hình như, chỉ thiếu có một điều: thời gian. Hắn chỉ cần có thêm tuổi tác. Tuổi tác sẽ mài rũa móng vuốt cho hắn, và hắn sẽ…
Chúng tôi về nhà chú Quyên lúc mặt hồ đã tối đen. Trên trời cao những cụm mây trắng trôi gần các vì sao, cơn mưa buổi chiều hình như chưa rút đi hẳn. Những đám khói đen vẫn ủ trên các cánh rừng và gió không ngớt thổi tới cái lạnh lẫn hơi nước. Tiếng cá giầy của Khôi gõ trên mặt đá lề đường, khua động trong tôi một nỗi xôn xao, hình như tôi nhớ tới một thành phố, một tuổi thơ, một mặt hồ nào khác, nỗi tiếc thương những mơ ước chưa thành đã mất.
Nhà chú Quyên thực ra là một biệt thự khá lớn, hai từng, quét vôi hồng. Từ xa người ta đã có thể nhìn thấy màu hồng của những bức tuờng, các bồn hoa, cây cảnh đằng sau chiếc cửa sắt rộng. Mấy chiếc đèn lồng treo ở hàng hiên như dấu hiệu của sự giầu có, cách biệt.

Đúng như lời Khôi nói, chúng tôi mỗi người đều có phòng riêng. Phòng của tôi ở trên lầu, trông ra mặt hồ. Lãm đưa tôi lên tận chỗ, chỉ dẫn tất cả các cửa ngõ, lối đi, đồ dùng rồi bảo:
– Tắm rửa, thay quần áo, xuống ăn cơm rồi đi chơi.
Lãm ra khỏi phòng, đóng cửa lại cho tôi.
Còn lại một mình với những ngọn đèn bật cháy sáng choang, nhìn bóng mình trong gương, giường nệm, tủ bàn, những kệ sách đầy ắp, vẻ sang trọng của căn phòng làm tôi e ngại.

Tôi tắt bớt mấy ngọn đèn, chỉ để lại một cây có chụp, mở hành lý lấy sẵn quần áo, đi tắm. Nuớc nóng từ chiếc vòi hoa sen chẩy trên người xoa dịu sự mệt mỏi của một ngày. Hơi khói bốc mù mịt. Qua đám khói, tôi nhìn thấy tôi xa lạ, buồn bã, trong tấm gương lớn của phòng tắm. Mỗi người sinh ra có một chỗ sống thật. Người ta không thề thoải mái khi sống không phải chỗ của mình. Cục xà bông màu hồng, trong cái bồn tắm màu xanh, bốn bức tường lát gạch men màu nước biển, ngọn đèn dấu sau tấm kính hoa đục, những tấm khăn trắng treo trên móc, tất cả những thứ đó cho tôi cảm giác vừa êm đềm vừa khiêu khích. Mùi xà bông ngát thơm xông lên mũi, tôi có cảm tưởng như tôi đang bơi trong cái phòng tắm rộng lớn này, đang trôi trong đám khói.

Chỗ của tôi là chỗ nào đây mai sau, một cuộc đời nghèo khó hay khá giả, hạnh phúc hay bất hạnh, hết thẩy có lẽ tùy thuộc vào may rủi. Tôi dìm mình xuống làn nước ấm cho trôi hết những bọt xà bông bám trên người, hít hà cái mùi vị của chính mình trên một bên vai. Nhan sắc hứa hẹn nhưng da thịt không hứa hẹn gì cả, số phận không hứa hẹn gì cả. Tôi đứng dậy ngửa cổ lấy tấm khăn lông quấn quanh người, thấm khô những giọt nước. Nuớc nóng làm cho máu chạy nhanh hơn, cả thân xác tôi dường chìm trong một nỗi bồi hồi, e ngại.

Tôi thay xong quần áo, cất dọn những vật dụng mang theo vào trong tủ thì Lãm trở lên gọi tôi xuống ăn cơm. Bữa cơm dọn trên một chiếc bàn dài với những đũa bát, thức ăn sang trọng.
Chú Quyên nói:
– Nếu trong phòng riêng các cháu còn cần thứ gì, cứ cho chú biết.
Lãm nói:
– Thục đi suốt buổi chiều ở ngoài phố, mệt chết còn gì.
Tôi cười, bảo:
– Khôi đưa tôi vào nhà thủy tạ ngôi uống nuớc chứ có đi đâu.
Lãm tiếp:
– Thế thì về nhà nằm một lúc có phải hơn không.
Khôi hỏi chú Quyên:
– Chú sẽ ở lại chơi hay chỉ đưa tụi cháu tới đó thôi?
Chú Quyên nói:
– Hôm nay chú sẽ ở lại tới lúc nào các cháu muốn về thì cùng về.
Chú Quyên có bộ râu mép và mái tóc đều đã lốm đốm bạc, nhưng mọi cử chỉ, cách ăn nói của ông còn nhanh nhẹn khác thường. Ông có vẻ một bá tước không đuợc sắc phong.
Sau bữa cơm, chúng tôi trở về phòng riêng lấy thêm áo lạnh, trang điểm lại một chút.
Lãm vào phòng kẻ hộ tôi đôi lông mày.

Ngó mình trong gương sau khi sửa soạn, tôi bảo Lãm:
– Cứ trang điểm mãi có lúc thấy mình trở thành người khác.
Lãm nói:
– Mi đừng quên hôm nay hết là học trò mà là khách dự dạ hội.
Khôi đứng bên ngoài giục chúng tôi ra xe.
Nhìn thấy tôi từ trong phòng bước ra, hắn có vẻ bất ngờ.
Chờ tới lúc xuống cầu thang, đi gần hắn, tôi hỏi:
– Khôi thấy tôi thế nào?
Hắn nói ngay không cần suy nghĩ:
– Tôi thích chị lúc không trang điểm hơn.
Tôi cười bảo:
– Khôi ích kỷ quá.
Lãm nói:
– Mau lên không chú Quyên đợi.
Khôi vẫn mặc bộ quần áo lúc chiều, chỉ thay chiếc chemise bên trong. Áo xọc làm cho hắn dường cao hơn một chút, cà vạt màu nâu sẫm cài thẳng trước ngực, trông hắn già dặn hẳn lên.
Chú Quyên đã ngồi sẵn trên xe, bảo:
– Chúng ta là khách mời từ xa tới, không nên đến trễ.
Lãm vừa bước lên xe vừa nói:
– Chú nhẩy với cháu bài đầu tiên nhé.
Chú Quyên cười:
– Nếu cháu không chê chú già quá, chú sẽ rất hân hạnh mời cháu.
Lãm nhìn ông cũng cười, không nói gì.

(hết chương 2)

Related Stories...