Ghen tuông và những thiệt thòi

Khi đàn ông ghen
Nhạc sĩ “Hoa trắng thôi cài trên áo tím” Huỳnh Anh sáng tác khá nhiều, với hơn 30 tác phẩm (chính xác là 36 tác phẩm), do đó ông đã ghi tên mình vào một trong những nhạc sĩ hàng đầu của dòng nhạc trữ tình tại miền Nam VN trước 1975. Ông là người hiền lành, tốt bụng, đối với ai cũng khoan hoà, mực thước, nhưng đặc biệt là… hay ghen với vợ, bởi vì vợ ông rất đẹp, lại con nhà giàu, rất được nhiều người chiêm ngưỡng. Sau dây là lời kể của ca sĩ Phương Dung với MC Quỳnh Hoa trong chương trình “Chân dung cuộc tình” trên một đài truyền hình về vị nhạc sĩ rất nổi tiếng tại miền Nam trước năm 75 này.

 Tiểu sử nhạc sĩ Huỳnh Anh
Huỳnh Anh (tên thật), sinh ngày 2 tháng 1 năm 1932 tại Cần Thơ, là con trai của nghệ sĩ Sáu Tửng, một người chơi đàn kìm (còn gọi là đàn nguyệt) nổi tiếng của cải lương miền Nam.
Năm 1947, 15 tuổi, Huỳnh Anh chính thức bước vào con đường âm nhạc với vai trò một tay trống trong một ban nhạc tại thành phố Đà Lạt. Từ đó cho tới năm 1957, ông là nhạc công cho những đoàn cải lương, các phòng trà ca nhạc với các ban nhạc Philippines (hiện nay vẫn có các ban nhạc Philippines sang chơi và “đóng đô” tại Cần Thơ như trước 75). Huỳnh Anh chơi được nhiều nhạc cụ, từ guitar, piano cho tới kèn và percussion instrumens (các thứ thuộc về bộ gõ đi kèm với trống).
Năm 1957, ông trở thành trưởng ban nhạc và là một tay trống danh tiếng, trình diễn ở phòng trà và các vũ trường tại Sài Gòn.
Năm 1975, Huỳnh Anh rời Việt Nam sang tỵ nạn tại Mỹ, ở San Francisco, California.
Năm 2004, Huỳnh Anh cùng hai nhạc sĩ Nguyễn Hiền và Song Ngọc được Trung tâm Thúy Nga vinh danh trong chương trình Paris By Night 74 “Hoa bướm ngày xưa” (tên một bản nhạc của NS Nguyễn Hiền).
Ông mất ngày 13 tháng 12 năm 2013 tại San Francisco, thọ 81 tuổi.

Chi tiết về một số bản nhạc nổi tiếng của NS Huỳnh Anh
Nhạc phẩm đầu tay của Huỳnh Anh là “Em gắng chờ”, xuất bản tháng 2 năm 1957. Tiếp theo đến những ca khúc khác được nhiều người biết tới như “Kiếp cầm ca” và “Mưa rừng” (sáng tác cho vở cải lương cùng tên Mưa Rừng của đoàn cải lương Thanh Minh – Thanh Nga, do các nghệ sĩ Thanh Nga, Hữu Phước, Thanh Tú đóng năm 1960. Còn ca khúc “Kiếp cầm ca”, theo lời Huỳnh Anh, ông sáng tác để tặng nghệ sĩ Thanh Nga. Huỳnh Anh còn có nhạc phẩm “Thuở ấy có em” rất nổi tiếng qua tiếng hát của Sĩ Phú và bản “Hoa trắng thôi cài trên áo tím” (phổ thơ của thi sĩ Kiên Giang Hà Huy Hà) do ca sĩ Như Mai và ca sĩ Hoàng Oanh hát, được nhiều người hâm mộ.
Huỳnh Anh cũng sáng tác một số ca khúc cho các phim như “Loan Mắt Nhung” cho cuốn phim cùng tên năm 1970 và ca khúc “Sa mạc tuổi trẻ” trong phim Điệu ru nước mắt.

Feature News
1 of 7,059

Chuyện kể của ca sĩ Phương Dung
Tham gia chương trình “Chân dung cuộc tình” của đài truyền hình Vĩnh Long với vai trò khách mời với ca sĩ Quỳnh Hoa làm MC, ca sĩ Phương Dung cho biết, khi còn trẻ tuổi, cô có cơ hội quen biết nhạc sĩ Huỳnh Anh. Đây chính là người anh thân thiết đã dìu dắt Phương Dung từ những ngày mới bắt đầu vào nghề, chập chững đi hát. Trong mắt Phương Dung, Huỳnh Anh là người hết sức hiền lành, tận tâm, đặc biệt là rất thương cô em ruột duy nhất mặc dầu cô đã có gia đình.
Một lần, chính Phương Dung đã chứng kiến, Huỳnh Anh nói chuyện với người em rể. Ông cho biết mình chỉ có một cô em gái duy nhất nên muốn em rể cần gì thì cứ tới tìm mình, ông sẽ sẵn lòng giúp đỡ. Tuy nhiên, để bù lại, Huỳnh Anh cũng yêu cầu em rể tuyệt đối đừng làm gì tổn thương đến em gái ông như la mắng, đánh đập. Đặc biệt, Huỳnh Anh cũng rất qúy mến Phương Dung và coi cô như em ruột: “Có nhiều lần tập nhạc xong, anh dẫn tôi đi ăn, đi xem phim. Anh đối với tôi y hệt một người anh trai, hết lòng che chở và dìu dắt em gái”.
Hiền lành, hết mình với mọi người là vậy nhưng đường tình duyên của Huỳnh Anh lại lận đận. Ông từng kết hôn với Lệ Hằng – một cô gái xinh đẹp nức tiếng của Sài Gòn thời đó. Lệ Hằng là con của chủ một hộp đêm giàu có. Nhưng cuộc hôn nhân này tan vỡ khi hai người đã có với nhau một con gái. Theo lời ca sĩ Phương Dung, lý do là bởi nhạc sĩ Huỳnh Anh rất hay ghen và cuộc sống của hai người có nhiều bất đồng. “Là con gái chủ một hộp đêm nổi tiếng, giàu có, lại vô cùng xinh đẹp, có không ít đàn ông vây quanh Lệ Hằng. Trong khi đó, nhạc sĩ Huỳnh Anh thì lại không giàu. Quá yêu vợ, ông nhiều lần ghen tuông, cuộc sống lứa đôi vì thế nảy sinh nhiều rạn nứt, dẫn đến chia tay”.
Sau khi ly dị, nhạc sĩ Huỳnh Anh trở thành mất phương hướng. Ông buông xuôi tất cả, chỉ tìm đến rượu để giải sầu. Những ca khúc của ông ra đời trong giai đoạn này đều thể hiện niềm đau chất chứa của một người đàn ông hết lòng trong tình yêu nhưng bị trả lại toàn những đắng cay, ngang trái.
“Dù chia tay với vợ nhưng Huỳnh Anh còn thương cô Lệ Hằng nhiều lắm. Hai ca khúc Thuở ấy có em và Lạnh trọn đêm mưa là ông viết tặng riêng cô Lệ Hằng. Sau khi chia tay, hai người thỉnh thoảng vẫn gặp nhau nhưng không thể tái hợp. Huỳnh Anh chỉ làm việc để lo cho cha, cho em gái, còn thì ông không chú ý đến ai cả. Hai người bạn duy nhất của ông thời ấy là nhạc sĩ Phạm Đình Chương và nhạc sĩ Mạnh Phát, vì cả hai người đó đều có hoàn cảnh gần giống ông” – ca sĩ Phương Dung cho biết.
Mãi đến sau này, khi nỗi đau đã nguôi ngoai, NS Huỳnh Anh mới tái hôn với một phụ nữ khác và có thêm hai con. Tuy nhiên, cuộc hôn nhân này của Huỳnh Anh một lần nữa cũng không đem lại cho ông niềm vui đến cuối đời. Sau khi cùng hai con và người vợ sau sang Mỹ định cư, hai người chia tay do người vợ đòi ly dị và nhận nuôi hai con. NS Huỳnh Anh lại một lần nữa sống một mình. Ông làm nghề lái xe taxi, tạm đủ để nuôi bản thân.
Ca sĩ Phương Dung cho biết, trong một lần tình cờ gặp lại NS Huỳnh Anh ở Mỹ, chị rất bất ngờ vì nhạc sĩ Huỳnh Anh vẫn tốt bụng, nhiệt tình. Vì hai anh em quá thân thiết, chồng Phương Dung cũng là người quen nên Huỳnh Anh không ngại gì cả và bảo: “Lâu không gặp, cho anh ôm hôn em một cái”. (Ôm hôn, “embrasser” theo phong tục của Pháp là hai người mừng rỡ ôm chầm lấy nhau, áp má bên này ben kia mỗi bên một lượt thay vì bắt tay. Còn hôn, “baiser”, thì đa số người nước nào cũng dùng, nhất là trai gái yêu nhau.- ĐD).
Không may mắn như Phương Dung đã được gặp lại nhạc sĩ Huỳnh Anh, ca sĩ Thái Châu cho biết, Huỳnh Anh là thầy đã dạy ông đánh trống từ nhỏ, song rất tiếc những ngày cuối đời của NS Huỳnh Anh, Thái Châu không có dịp gặp lại. “Tôi là người rất mê trống. Tôi đã từng năn nỉ mẹ cho đi học trống. Năm 1963, tôi được gặp nhạc sĩ Huỳnh Anh khi đó ông là một tay trống danh tiếng và được thầy dạy không lấy thù lao. Tính thầy nghiêm túc nhưng rất gần gũi, thân thiện. Sau này, khi là ca sĩ chuyên nghiệp, tôi từng mơ ước được đứng cùng thầy một lần trên sân khấu. Nhưng do hợp đồng với các trung tâm ca nhạc ràng buộc nên mơ ước đó của tôi không thành. Khi sang Mỹ, tôi nghe nói thầy lái xe taxi ở San Francisco nên xin số của thầy để gặp, song thầy từ chối rằng thầy đi lái xe suốt ngày mà như tôi biết rồi, ở Mỹ trong lúc đang lái xe không được phép chuyện trò điện thoại. Trong một lần đi hát xa, khi về nghe tin thầy mất, tôi buồn lắm vì không có cơ hội gặp lại thầy”.
Về phần nhạc sĩ Huỳnh Anh, ngoài hai cuộc hôn nhân tan vỡ với nhiều đau khổ, ông còn có mối tình đơn phương với nghệ sĩ cải lương danh tiếng Thanh Nga. Đó là quãng thời gian ông viết ca khúc cho phim Mưa rừng. Mưa Rừng là một vở cải lương rất nổi tiếng của hai soạn giả Hà Triều và Hoa Phượng, do đoàn Thanh Minh – Thanh Nga diễn vào năm 1961. Sau đó, đoàn này “thừa thắng xông lên”, làm phim Mưa Rừng cũng do Thanh Nga đóng vai chính. Trong phim, có những đoạn Thanh Nga phải hát nên NS Huỳnh Anh được mời dạy cho Thanh Nga hát. Trong thời gian này, Huỳnh Anh thầm thương trộm nhớ cô “học trò” quá xinh đẹp và quá dễ thương, song rất tiếc, đó chỉ là một mối tình đơn phương. Tuy vậy, Huỳnh Anh cũng kịp viết hai ca khúc cho Thanh Nga hát, đó là Mưa rừng và Kiếp cầm ca.

Khi đàn bà ghen
Nhạc sĩ Hoàng Trọng (1922- 1998) là một nhạc si tên tuổi trong làng nhạc Việt Nam. Ông được giới yêu nhạc gọi là “vua nhạc tango” bởi vì ông ghi dấu ấn nhiều trong các nhạc phẩm nổi tiếng theo điệu tango. Bà vợ của nhạc sĩ Hoàng Trọng khi còn con gái là một người đẹp thuộc một gia đình giàu có ở Nam Định. Nhưng bà hay ghen, lúc nào cũng nghi ngờ chồng có tình ý với người khác. Lấy nhau, mặc dầu đã có 3 con còn nhỏ, 2 trai 1 gái, cô con gái út Bạch La mới 3 tháng tuổi, vì ghen quá bà lặng lẽ bỏ nhà ra đi khiến nhạc sĩ Hoàng Trọng gà trống nuôi con, đau khổ khôn nguôi…
Hoàng Trọng tên thật là Hoàng Trung Trọng, sinh năm 1922 tại Hải Dương, sau đó gia đình chuyển về sống tại Nam Định.
Hoàng Trọng bắt đầu học nhạc từ năm 11 tuổi, do người anh trai là Hoàng Trung Quý dạy. Đến năm 15 tuổi (1937), cậu thi vào học nhạc tại Trường Dòng Saint Thomas Nam Định. Năm 1941, 19 tuổi, cậu học hàm thụ tại một trường ở Paris bên Pháp. Cùng thời gian sống tại Nam Định, Hoàng Trọng có mở một lớp dạy nhạc và cùng các anh em trong gia đình như Hoàng Trung An, Hoàng Trung Vinh và một số bạn bè như Đan Phú, Đan Thọ, Đặng Thế Phong, Bùi Công Kỳ… thành lập một ban nhạc. Ban đầu, ban nhạc không có tên và gần như chỉ để giải trí. Cho đên năm 1945, Hoàng Trọng mở phòng trà Thiên Thai ở Thái Bình (Nam Định rấtt gần Thái Bình, đạp xe đạp cũng tới), từ đấy ban nhạc lấy tên Thiên Thai.
Ban nhạc Thiên Thai luân phiên trình diễn ở Thái Bình và Nam Định mỗi tối cho tới năm 1946, khi chiến tranh Việt – Pháp bùng nổ.
Hoàng Trọng bắt đầu viết nhạc từ năm 16 tuổi với bản Đêm trăng, sau đó là các bản khác, đã được nhạc sĩ kiêm ca sĩ Phạm Duy trình bày trên sân khấu của ban nhạc Đức Huy.
Do tình trạng chiến tranh, Hoàng Trọng rời Nam Định, qua phủ Nho Quan, Phát Diệm và cuối cùng sống tại Hà Nội từ năm 1947. Thời gian này ông viết bản Phút chia ly, một nhạc phẩm tango rất có giá trị, đồng thời ông cũng liên lạc với các nghệ sĩ của đài phát thanh Hà Nội như Mộc Lan, Minh Diệu, Mạnh Phát, Châu Kỳ, v.v…, nhờ đó các nhạc phẩm của ông được phổ biến rộng rãi. Hoàng Trọng cũng viết cuốn Tự học Hạ Uy cầm (Guitare Hawaii) do nhà xuất bản Thế Giới phát hành.
Năm 1950, Hoàng Trọng gia nhập quân đội của quốc trưởng Bảo Đại (tức Bảo Chính Đoàn). Ông là trưởng ban Quân nhạc Bảo Chính Đoàn, trình diễn mỗi tuần một lần tại vườn hoa cạnh Bưu Điện Hà Nội (nay là vườn hoa Indira Gandi) và trong chương trình Tiếng nói Bảo Chính Đoàn của Đài phát thanh Hà Nội. Thời gian này ông viết nhiều ca khúc, trong đó có Gió mùa xuân tới. Năm 1953, tên tuổi Hoàng Trọng càng lan rộng với Nhạc sầu tương tư, ngoài ra cùng năm đó ông còn viết một bản tango khác rất nổi tiếng, đó là bản Dừng bước giang hồ.
Năm 1954, Hoàng Trọng di cư vào Nam, sống trong hoàn cảnh gà trống nuôi ba con nhỏ mà ông đặt tên toàn là nốt nhạc: Hoàng Nhạc Đô, Hoàng Cung Fa, Hoàng Bạch La.
Tại Sài Gòn, ông thành lập những ban nhạc trình diễn trên Đài phát thanh Sài Gòn, đài Quân Đội, đài Tiếng Nói Tự Do và đài Truyền hình Việt Nam. Các ban nhạc của ông hoạt động đến tận 1975, từng mang nhiều tên khác nhau như ban Hoàng Trọng, ban Tây Hồ, ban Đất Nước Mến Yêu… Đặc biệt, từ năm 1967, ban hợp xướng Tiếng Tơ Đồng với các ca sĩ, nhạc sĩ danh tiếng Sài Gòn khi đó, đã trình bày nhiều ca khúc tiền chiến giá trị.
Thời gian ở Sài Gòn, Hoàng Trọng sáng tác rất mạnh mẽ, nhiều ca khúc nổi tiếng như Ngàn thu áo tím, Lạnh lùng, Bạn lòng, Mộng lành, Tiễn bước sang ngang, Ngỡ ngàng… Với khoảng 200 nhạc phẩm của mình, Hoàng Trọng chỉ tự đặt lời khoảng 40 bài, số còn lại được sự giúp đỡ của nhiều nhạc sĩ khác như Hồ Đình Phương, Hoàng Dương, Nguyễn Túc, Quách Đàm, nữ thi sĩ Vĩnh Phúc..vv.. Trong giới nhạc sĩ Việt Nam, Hoàng Trọng viết nhạc theo điệu tango nhiều nhất và được xem như người thành công nhất với danh hiệu Vua Tango.
Ông cũng viết nhạc cho một số phim nổi tiếng như Xin nhận nơi này làm quê hương, Giã từ bóng tối, Người tình không chân dung, Sau giờ giới nghiêm, Bão tình. Riêng phần nhạc trong bộ phim Triệu phú bất đắc dĩ, Hoàng Trọng được giải thưởng Văn học Nghệ thuật của VNCH trong thời gian 1972 – 1973.
Sau 1975, Hoàng Trọng có sáng tác một vài ca khúc nhưng tuyệt đối không phổ biến. Bản cuối cùng của ông là Chiều rơi đó em.
Năm 1992 Hoàng Trọng được con gái là Bạch La bảo lãnh sang định cư tại Hoa Kỳ và qua đời ngày 16 tháng 7 năm 1998, thọ 76 tuổi.

Lời kể của con trai NS Hoàng Trọng
Theo nhạc sĩ Hoàng Nhạc Đô, con trai cả của NS Hoàng Trọng thì mẹ ông tức người vợ đầu của nhạc sĩ Hoàng Trọng khi còn con gái rất xinh đẹp, con một gia đình giàu có ở Nam Định. Khi tìm hiểu về Hoàng Trọng, gia đình cô gái phản đối. Nhưng vì tình yêu, cả hai vẫn quyết định đến với nhau và có ba người con. Tuy nhiên, trong cuộc sống hàng ngày, bà vợ của NS Hoàng Trọng là người rất hay ghen, luôn luôn nghi ngờ chồng có có tình ý với người khác.
Đỉnh điểm của việc ghen tuông là khi cô con gái út tên Bạch La chỉ mới được 3 tháng tuổi, bà quyết định chia tay và bỏ đi, để lại chồng một mình với 3 đứa con nhỏ dại. Nhạc Đô kể: “Ngày đó tôi còn bé không biết gì. Cha tôi đau khổ lắm, đành phải gửi hai em tôi về nhà nội, còn tôi được gửi vào ký túc xá của các Sơ. Mỗi thứ bảy cha lại vào thăm. Mẹ tôi cũng có đến thăm một vài lần nhưng sau thôi không đến nữa. Sau này cứ ai hỏi về mẹ thì cha tôi lại nói là mẹ tôi đã chết, nhưng tôi biết mẹ còn sống”.
Một trong những nguyên nhân khiến bà vợ nhạc sĩ Hoàng Trọng ghen tuông, đó là chuyện mà dư luận thường đồn đại là giữa ông với ca sĩ Tâm Vấn (tên thật là Dương Thị Vân, do tránh tên người trong họ nên gia đình gọi trại ra là “Vấn”, sinh năm 1934 tại Hà Nội, mới mất năm ngoái, 2018, tại Sài Gòn.- ĐD) – một nữ ca sĩ có giọng ca vô cùng ngọt ngào, rất nổi tiếng từ những năm 1950 tại Hà Nội với bản Thoi Tơ (Em lo gì trơi gió. Em lo gì trời mưa. Em tiếc gì mùa hè. Em tiếc gì mùa thu…) của NS Đức Quỳnh. Biết bà vợ nhạc sĩ Hoàng Trọng ghen tuông với mình, Tâm Vấn bỏ vào trong Nam và lập gia đình. Tuy nhiên, khi nữ ca sĩ sinh con, bà lại đặt tên con là Hoàng Trọng Thủy, điều này khiến không ít người cho là con của bà Tâm Vấn có mối liên hệ với nhạc sĩ Hoàng Trọng.
Ngoài ca sĩ Tâm Vấn, NS Hoàng Trọng còn bị nghi ngờ là có mối tình tri kỷ trong âm nhạc với nhà thơ nữ Vĩnh Phúc – người thường có thơ đuợc Hoàng Trọng phổ nhạc. Tuy nhiên, theo lời Nhạc Đô thì cha ông đã từng kể cho ông nghe đó không phải tình yêu mà chỉ là tình nghệ sĩ giữa hai con người có sự đồng điệu trong nghệ thuật. Nhạc đô nói: “Cô Vĩnh Phúc làm thơ rất hay, tính nết cô không lãng mạn mà rất chững chạc. Có lần em út tôi – tức Bạch La – nghi ngờ là cha có tình cảm với cô vì thấy ông phổ tới hơn 20 bài thơ của cô và trên bản nhạc nào cũng ký tên tác giả: “Hoàng Trọng – Vĩnh Phúc”. Một lần, cha tôi ướm lời, thử hỏi Bạch La là ông muốn lấy vợ mới, ngay lập tức Bạch La phản đối: “Cha có ba đứa con là đủ rồi, con không muốn có thêm ai về nhà mình”. Từ đó, ông thôi không có ý định tái hôn và cũng không còn phổ thơ của cô Vĩnh Phúc nữa”.
Buồn và đau khổ vì vợ bỏ đi, nhưng NS Hoàng Trọng lại kiên quyết không lấy vợ mới. Theo lời Nhạc Đô thì cha ông muốn chứng tỏ cho vợ biết rằng những gì bà nghĩ về ông là sai: “Xưa mẹ tôi ghen tuông vì nghĩ rằng cha có người khác, thế nên khi bà đi rồi, ông nhất định ở vậy để chứng tỏ những gì bà nghĩ là sai”.
Mãi sau này, khi “cô út” Bạch La đã trưởng thành, hiểu nỗi cô đơn của cha khi về già, cô và hai anh trai mới khuyên ông bước đi đi bước nữa.
Người vợ thứ hai của nhạc sĩ Hoàng Trọng tên là Thu Tâm, còn ít tuổi hơn cả Bạch La nữa. Nhạc Đô kể: “Cô Thu Tâm nhỏ tuổi hơn tôi, nhỏ hơn cả Bạch La. Ban đầu tôi không nghĩ là cô sẽ về làm mẹ kế của chúng tôi. Nhưng cô đối với bố tôi rất tốt, thường tìm hiểu các loại thuốc giúp bố tôi chữa bệnh. Từ đó chính Bạch La cũng yêu quý và đồng ý cho cô đến với bố”.
“Hồi sinh” từ cuộc hôn nhân mới, nhạc sĩ Hoàng Trọng vui vẻ, lạc quan hơn hẳn. Ca khúc Chiều rơi đó em là tình cảm ông dành cho người vợ thứ hai này. Hai người có với nhau hai người con.
Đoàn Dự

Related Stories...