Ðời sống ở Lý Sơn

Bài – ảnh: Trần Công Nhung

 

Lịch sử đã chứng minh từ Văn Lang đến Ðại Việt…, nước ta từ Bắc đổ dần vào Nam. Có những thời kỳ nội chiến triền miên nhưng việc mở mang bờ cõi vẫn không ngừng. Ngay cả hôn quân Lê Chiêu Thống cũng không xẻ thịt tổ quốc bán ăn. Qua triều Nguyễn nước Việt đã nối dài xuống tận Châu Ðốc Cà Mau. Người Việt không chỉ ở trong đất liền mà còn tìm ra các đảo như Phú Quốc (Kiên Giang), Phú Quí (Bình Thuận), Cù Lao Chàm (Hội An), Lý Sơn (Quảng Ngãi)…

Hôm ra Lý Sơn. tôi gặp cụ Nguyễn Hữu Ðạt, người cao tuổi nhất thuộc dòng họ lâu đời ở Lý Sơn cho biết ngôi nhà cổ của cụ đã qua 4 đời gần 200 năm. Như vậy người Lý Sơn đã đến định cư từ thời đầu nhà Nguyễn. Cũng qua sử cũ thì người Việt ra khai hoang lập ấp ở Lý Sơn vào đầu thế kỷ XVII, muộn hơn ở đất liền ít nhất một thế kỷ(1). Theo gia phả của các dòng họ đầu tiên ra khai phá đảo, thì hầu hết từ đất liền Quảng Ngãi, chứ không phải từ Bắc vào. Nhiều người gốc Huế, vào Quảng Ngãi định cư ở Rừng Lăng, sau chuyển xuống vùng Tịnh Long, Tịnh Châu, Tịnh Kỳ… trước khi ra đảo Lý Sơn.

Trực nhìn ngó thấy Bàn Than

Ba hòn lao Ré nằm ngang Sa Kỳ

Ðó là hai câu cửa miệng của người Quảng Ngãi mô tả đảo Lý Sơn. Huyện đảo mới thành lập sau này, gồm hai đảo nằm sát cạnh nhau: đảo Lớn và đảo Bé, tổng diện tích gần 10km2. Một con đường(2) độc nhất chạy vòng quanh đảo lớn, qua những vùng trồng tỏi, dưa hấu, bắp…v.v. Ðảo có hơn 20 ngàn dân, với 550 ha trồng hành tỏi, rau dưa và đánh cá xa bờ. Hiện nay Lý Sơn có khoảng 500 thuyền đánh cá. Tuy là một huyện đảo có đầy đủ các đơn vị hành chánh, đời sống người dân có vẻ rời rạc và độc lập (mạnh ai nấy làm).

Ðánh cá là nghề chính của dân Lý Sơn, sống chết với biển cả. Gần 200 năm qua, Lý Sơn đã có cả nghìn người già trẻ gửi thây vào lòng đại dương mỗi khi thuyền gặp bão lớn ngoài khơi. Trong vòng mươi năm trở lại, Trung cộng thường xuyên xua tàu qua đuổi thuyền cá của ngư dân VN mà phần lớn là dân Lý Sơn và Quảng Ngãi. Trung cộng tuyên bố quần đảo Hoàng Sa là của họ và cấm ghe thuyền nước khác đến gần. Ngư dân Lý Sơn là nạn nhân nặng nhất. Có những lần tàu cá bị đâm chìm, tài sản trên tàu bị tịch thu, người bị bắt, bị đánh đập đưa về Hải Nam và đòi tiền chuộc.

Trăm tội đổ lên đầu, người dân Lý Sơn tự xoay sở đi vay ngân hàng để chuộc người về. “Nhà nước ta” thì chỉ ghi nhận “tàu lạ” khuấy phá, coi như không có gì xẩy ra. “Biển đông không có gì lạ”- “chỉ là chuyện anh em trong nhà”… “16 chữ vàng, 4 tốt vẫn sáng ngời tình hữu nghị”- “Hoàng Sa – Trường Sa, chúng ta có đầy đủ bằng chứng chủ quyền không chối cãi”… cứ thế loa phường rao ngày này qua ngày khác. Ngoài khơi mặc tình cho giặc Tàu ức hiếp. “Nhà nước ta” cứ ôm “bằng chứng không chối cãi” và “tình hữu nghị bền vững” cho đến khi Tàu đưa giàn khoan HD891 vào Hoàng Sa cách Lý Sơn 120 hải lý, mới lên tiếng phân bua với thế giới. Ðến mùa bão và trước những lời cảnh báo của Hoa Kỳ, Tàu rút giàn khoan HD891 về, coi như “ta thắng lợi”(!)

Ðời sống của dân Lý Sơn bấp bênh và muôn vàn cực khổ mà không biết kêu ai, kêu nơi nào. Một anh Tây quốc tịch Việt, anh Hồ Cương Quyết quá “bức xúc”(3) nên đã ra Lý Sơn ăn nằm mấy tháng (2011) để làm cuốn phim “Hoàng Sa – Nỗi đau mất mát”. Trong lời nói đầu có đoạn: “Bộ phim là tiếng nói chân thật của các ngư dân miền Trung bị tàu Trung Quốc cướp bóc, đánh đập, hành hạ tại vùng biển đảo Hoàng Sa của Việt Nam”(4).

Ðiều đáng buồn là một anh Tây, một người nước ngoài thấm thía được nỗi đau xót mất mát của người dân Lý Sơn, thì chính nhà chức trách VN tại Sài Gòn lại hoàn toàn vô cảm: cấm chiếu phim này vì không có “tính đảng”, trong khi cuốn phim được đón nhận nồng nhiệt tại nhiều nước ở châu Âu và thu được một số tiền lớn. Andre’ Menras đã trở lại Lý Sơn hỗ trợ cho các gia đình bị nạn một phần nào gánh nặng nợ nần (tiền chuộc người, tiền vay đóng thuyền, tiền ma chay… mỗi gia đình còn nợ từ 1 đến 4 trăm triệu đồng).

Trước bao nhiêu mất mát do bão tố, do giặc Tàu, ngư dân Lý Sơn vẫn vững đôi chân, vững tay chèo để ngày ngày tiếp tục ra khơi tìm nguồn sống. Người không đi biển thì canh tác trên bờ. Trong khi đi tìm mộ gió tôi ghé qua một nhà hai vợ chồng đang chuẩn bị dọn đất trồng hoa màu. Thấy có bày bán dưa hấu, tôi mua một trái bự mà giá chỉ 6000 đồng (30cent), quả dưa đỏ au ngọt lịm. Không biết dưa thời An Tiêm ngày xưa có ngọt như vầy chăng, ngọt đậm và mọng nước. Người chồng đang bằm nhỏ một đống dây dưa hấu, anh cho biết bằm để dọn đất trồng bắp. Tôi hỏi anh:

– Dọn đất nghĩa là sao anh?

– Muốn cây lên tốt đất phải dọn kỹ, có 4 lớp: Ngoài lớp đất có sẵn, rải lên một lớp rong biển hoặc dây dưa hấu bằm nhỏ, lớp kế là đất đen (nham thạch) lấy trên núi, và trên cùng là lớp cát trắng lấy ngoài biển.

– Sao không dùng cát trên bờ?

– Cát hút ngoài biển có nhiều thứ như vỏ sò, san hô tốt cho cây. Cây trồng xuống ngang lớp đất đen thôi. Khi cây bén rễ sẽ ăn dần xuống lớp dưới.

– Một lần làm đất trồng được mấy mùa?

– Trồng 5 vụ: Tỏi hành, bắp, đậu mè, dưa hấu, rau xanh. Cứ thu hoạch thứ này trồng thứ khác liền.

– Sản phẩm thu hoạch xong rồi bán đi đâu?

– Có thương lái trong đất liền ra mua.

– Một ký tỏi thường giá bao nhiêu?

– 50 nghìn. Còn tỏi mồ côi thì mắc gấp mười.

– Tỏi mồ côi là sao chị?

– Là tỏi củ chỉ có một tép thôi. Tỏi này người ta ngâm rượu làm thuốc trị nhiều bệnh.

Lúc ngang qua một đám ruộng tỏi, tôi ngạc nhiên khi thấy nhiều ống phun nước tưới. Hóa ra ở Ly Sơn áp dụng lối phun tưới kiểu công nghiệp Tây phương, trong đất liền làm gì có. Tôi hỏi người đàn ông đứng gần đấy, anh ta chỉ cho tôi chiếc máy bơm nhỏ đang chạy xè xè ở góc ruộng và giải thích:

– Máy hút nước lên đẩy qua hệ thống ống phun.

– Máy bơm lấy nước từ đâu?

– Từ giếng khoan sẵn.

– Lắp đặt bơm phun như vầy có tốn lắm không anh?

– 1 sào tốn chừng 3 triệu.

Ai cũng nghĩ ở đảo đặc sản là cá tôm cua…, nhưng thực tế hầu hết hàng quán đều bán gà vịt, heo, bò. Thậm chí ốc cũng lấy ốc bươu trong đất liền. Sáng sớm ngay bến tàu có chợ cá bán đủ thứ cá biển: Mú, hố, hồng, cá hồng có con lớn gần 5 kg, giá 110 nghìn đồng 1kg. Có con cá lạ, cá chìa vôi dài hơn mét, giá 150 nghìn, nhà hàng trong đất liền 300 nghìn/con. Ốc thì đủ thứ, đặc biệt cua huỳnh đế lớn như cái đĩa bàn. Loại cua này màu sắc có vẻ “hoàng tộc”, trong đất liền ít thấy. Người bán có sẵn nước đá, thùng xốp, đóng cá cho khách mang đi. Ða số là các bà, còn các cô thì chỉ xem qua. Do nhu cầu nghề nghiệp, người Lý Sơn cũng tự chế ra những đồ dùng để đi biển. Ðặc biệt là đèn lặn. Chúng ta thường thấy người nhái mang bình hơi và đèn ngay trên người khi lặn. Dân chài làm gì có những thứ ấy, bình hơi là “nín thở”, đèn là kéo từ bình ắc qui hay máy nổ trên thuyền. Người Lý Sơn đã chế ra loại đèn điện bằng cách: dùng những chai thủy tinh lớn, cắt bỏ phần cổ, phần còn lại như một cái ly lớn. Bóng đèn sau khi đã hàn 2 mối dây, cho vào cốc chai. Bấy giờ miệng lót ni lông và đổ vào một loại sáp khằn cứng tất cả lại để lúc đưa đèn xuống biển nước không vào. Công việc do một người đàn bà làm. Không biết qua quá trình sử dụng, mức độ an toàn ra sao, nếu vì một lý do nào đó, đang lặn sâu mà nước vào bóng đèn thì chuyện gì xảy ra!

Nhìn chung đời sống của dân Lý Sơn trầm trầm như một thôn làng xưa nay (5). Chỉ khi đi sâu vào nỗi bất hạnh của dân chài mới thấy lòng can đảm, nỗi đau mất mát và sức chịu đựng của họ như thế nào. Ðiều này ngày nay cả thế giới đều thấy, đều biết, nhưng dân Việt thì không mấy người.

Trần Công Nhung

h8 h5

_________________________________

(1) Thời ấy việc “chuyển vùng” sinh sống hoàn toàn tự do, không có chủ trương “kinh tế mới” như ở miền Nam sau 75.

(2) Ðường bê tông tốt xấu không đều và chỉ được một đoạn từ bến tàu xuống khu hành chánh huyện, qua dinh Tam Tòa, còn thì đường đất quanh co, chỗ rộng chỗ hẹp.

(3) Ðáng lý phải nói căm phẫn, tức giận, điên tiết… nhưng do anh là “cháu nội” ông Hồ nên ghi “bức xúc” cho đúng “điệu”!

(4) Tuy “cháu nội bác” nói thế nhưng “cơ quan chức năng” không tin cho là HCQ phịa, bị “bọn xấu” xúi giục đặt điều vu khống “bạn”.

(5) Ngày tôi ra Lý Sơn, điện do máy nổ cung cấp, nhưng 5 giờ chiều mới có. Sau tháng 9 /2014 lưới điện quốc gia đã kéo ra Lý Sơn.

More Stories...