Đổi món ăn chơi

Đoàn Dự ghi chép

 

THƯA QUÝ BẠN, anh chủ nhiệm và anh chủ bút bảo tôi thỉnh thoảng “mần” một truyện ngắn để thay đổi không khí đặng quý vị độc giả thưởng thức cho vui. Xem ra, truyện ngắn thì nhiều nhưng cứ bàng bạc, thiếu tính hấp dẫn. Trong khi đó thì như có lần tôi đã từng thưa chuyện với quý bạn, trong lời tựa cuốn Gió Đầu Mùa của mình, nhà văn Thạch Lam đã nói rằng truyện ngắn, truyện dài hay bất cứ một loại nghệ thuật gì, điều quan trọng là phải có tính hấp dẫn và tính xây dựng. Vậy, theo tôn chỉ đó, thỉnh thoảng tôi xin dịch hầu quý bạn một vài truyện trong bộ Liêu Trai Chí Dị của Bồ Tùng Linh; trong bộ Ngàn Lẻ Một Đêm của thế giói Á Rập; hoặc trong bộ Truyện Cổ Tích của Andersen người Đan Mạch. Hay lắm quý bạn ạ, tất cả đã được dịch sang tiếng Anh, mà, theo tôi nghĩ, các tác phẩm đã được dịch sang tiếng Anh thì đều… hết xẩy, quý bạn thưởng thức cho đầu óc đỡ mệt nhọc rất tốt.

Nói về Bồ Tùng Linh (Pu Songling), ông sinh năm 1640, mất năm 1715, đầu đời nhà Thanh bên Tàu. Như thế bộ Liêu Trai Chí Dị (The Strange Tales of Liaozhai) gồm 510 truyện đã đươc ông viết cách đây khoảng hơn 300 năm. Sau đây xin mời quý bạn thưởng thức truyện Anh Ninh (Yingning) của ông. Về tính hấp dẫn của nó, quý bạn thưởng thức sẽ thấy, còn về tính xây dựng thì theo lối viết của Bồ Tùng Linh, dù nhân vật là người, là ma hay là hồ (cáo) cũng đều có cách cư xử rất tốt. Bây giờ Đoàn Dự tôi xin bắt đầu việc dịch thuật để quý bạn giải trí…

Truyện Anh Ninh của Bồ Tùng Linh

Vương Tử Phục, người ở làng La Điền, mồ côi cha sớm, rất thông minh. Mười bốn tuổi đã thi đậu được vào học trường huyện của nhà nước. Nhà con một, mẹ rất yêu quí Vương, ngày thường không cho ra chơi bên ngoài thành. Đã hỏi Tiêu thị cho Vương, nhưng chưa cưới thì cô Tiêu chết nên Vương vẫn chưa có vợ.

Gặp tiết Nguyên tiêu (Rằm tháng giêng), có người anh con ông cậu là Ngô sinh đến rủ đi dạo chơi, ngắm cảnh. Nhưng mới ra đến ngoài thôn thì ông cậu cho đầy tớ đi gọi Ngô về. Sinh thấy con gái đi chơi đông đảo, nhân lúc cao hứng bèn đi một mình. Có một cô gái đi với con hầu, tay cầm một cành hoa, mặt mày tuyệt đẹp, cười tươi như hoa nở. Sinh mắt nhìn đắm đuối không rời, quên cả tị hiềm.

Cô gái đi qua vài hước, quay lại bảo con hầu:

– Tay thiếu niên này mắt nhìn trừng trừng như mắt giặc!

Nói xong nàng đánh rơi cành hoa trên mặt đất rồi cười mà đi thẳng. Sinh thất vọng, nhặt cành hoa lên, thờ thẫn như người mất hồn, buồn bã trở về.

Về đến nhà, cất cành hoa dưới gối, gục đầu xuống ngủ, chẳng nói chẳng rằng mà cũng bỏ cả ăn uống. Bà mẹ lo sợ, cầu cúng đủ cách. Sinh gầy dộc đi trông thấy. Thầy thuốc đến xem bệnh, cho uống thuốc nhưng sinh cứ ngơ ngẩn như mê. Mẹ dỗ dành, hỏi:

– Con vì sao mà ốm?

Sinh lẳng lặng không chịu trả lời.

Chợt Ngô sinh đến, bà mẹ dặn kín đáo hỏi dò giùm. Ngô đến bên giường, sinh trông thấy Ngô đã rơi nước mắt. Ngô ngồi xuống giường, khuyên giải, dần dần gạn hỏi. Sinh thố lộ tâm tình và nhờ tính gíúp. Ngô cười và nói:

– Chú này ngớ ngẩn thật, muốn thế có khó gì đâu, để anh thay chú hỏi giùm. Con gái mà đi chơi bên ngoài không có bảo mẫu đi kèm thì chẳng phải con nhà dòng dõi cao sang. Nhà mình khá giả, ta dạm hỏi thật nhiều vàng bạc chắc chắn là được. Chỉ cần chú khỏi bệnh, việc ấy anh giúp thế nào cũng xong.

Sinh nghe nói, tươi tỉnh lại ngay. Ngô đi ra, kể cho bà mẹ nghe. Theo hình dáng, tìm khắp mọi nơi nhưng thăm hỏi mãi tịnh không thấy tung tích nàng đâu. Bà mẹ lo lắm, không biết tính sao.

Sau khi Ngô về, vẻ mặt sinh tươi ra, mà ăn uống cũng được thêm. Cách vài hôm Ngô lại đến, sinh hỏi chuyện đã bàn, Ngô nói dối:

– Tưởng ai xa lạ chứ té ra là con gái của cô tôi tức em con bạn dì của chú. Bây giờ còn đang treo giá ngọc, tuy có họ hàng thật nhưng là phía bên ngoại nên thế nào cũng xong.

Sinh mừng rỡ ra mặt, hỏi:

– Nhà cô ta ở đâu?

Ngô lại nói dối:

– Trong núi phía tây nam, cách đây độ chừng ba mươi dặm.

Sinh lại dặn đi dặn lại ba bốn lần để nhờ vả, Ngô làm bộ vui vẻ nhận lời rồi ra về. Từ hôm ấy, Sinh càng ngày càng ăn uống được nên khỏe mạnh bình thường. Thử xem lại cành hoa dưới gối, đã khô nhưng chưa rơi rụng. Chàng cầm lên, ngắm nghía rồi hôn lên môi tưởng như trông thấy người đẹp.

Lâu vẫn không thấy Ngô tới, sinh sốt ruột bèn viết hư mời. Ngô tìm cách thoái thác là bận việc nọ việc kia, không chịu đến. Sinh buồn bực không vui. Bà mẹ lo lắng sợ con lại ốm, vội tính đến chuyện hôn nhân, đem bàn với sinh nhưng sinh cứ lắc đầu không chịu, ngày ngày chỉ mong tin Ngô. Lâu chẳng có tin túc gì của Ngô, càng oán hận, chàng nghĩ thầm: “Ba mươi dặm thì có xa gì mà phải nhờ vả. Ta đi một mình cũng được”.

Chàng bèn bỏ cành hoa vào trong tay áo rồi một mình hớn hở ra đi, cả nhà không ai hay biết.

Chàng đi, đi mãi, không gặp ai để hỏi thăm đường, cứ trông về phía tây nam mà đi. Ước chừng ba mươi dặm, thấy núi non trùng điệp, cây cối um tùm, vắng vẻ không có người qua lại, thỉnh thoảng chỉ có chim bay.

Từ xa nhìn xuống thung lũng ở dưới chân núi, trong đám cây thấp thoáng hình như có làng xóm nhỏ. Chàng đi xuống, vào làng thì thấy nhà cửa lơ thơ, toàn là nhà tranh cả nhưng rất u nhã, thanh tịnh. Có một ngôi nhà quay về hướng bắc, trước cổng có hàng liễu rủ, phía bên trong tường, các cây đào cây hạnh chen nhau, xen lẫn với các khóm trúc, chim chóc ríu rít. Chàng nghĩ đây là vườn nhà người ta nên không dám vào. Quay lại nhìn phía đối diện với cổng, thấy có một phiến đá rất lớn, nhẵn nhụi, sạch sẽ, chàng bèn ngồi tạm lên đó nghỉ chân. Một lát, nghe phía bên trong có tiếng con gái gọi:

– Tiểu Vinh!

Giọng nói hết sức nhẹ nhàng, êm ái. Đúng lúc chàng đang giương mắt lắng nghe thì thấy cô gái đi ngang qua sân, tay cầm cành hoa hạnh, ngắt một đóa cài lên mái tóc. Chàng nhìn kỹ thì thấy đó chính là cô gái mình đã gặp hôm rằm tháng giêng. Nàng ngửng lên, chợt trông thấy chàng bèn thôi không cài tiếp đóa hoa nữa, đi vào bên trong. Sinh rất mừng rỡ, chỉ hiềm không quen nên không dám đường đột đi vào. Chàng nhớ lời Ngô sinh nói cô gái là con bà dì nên định gọi, nhưng lại nghĩ xưa nay không hề qua lại thăm viếng, sợ có điều chi thất thố nên lại thôi. Trong cổng không thấy ai để hỏi thăm. Chàng cứ quanh quẩn như vậy, nằm chán trên phiến đá lại ngồi, từ sáng đến lúc mặt trời xế bóng, nhìn ngóng quên cả đói khát. Thỉnh thoảng lại thấy cô gái từ trong nhà ngó ra, có lẽ lấy làm lạ là sao anh chàng này chưa đi.

Chợt, có một bà cụ chống gậy đi ra, hỏi sinh:

– Cậu ở đâu tới? Nghe nóí cậu đến từ giờ thìn tới giờ, ý muốn tìm nhà ai? Không thấy đói à?

Sinh vội vàng đứng dậy, vái bà cụ một vái rất lễ phép rồi nói:

– Thưa cụ, cháu muốn tìm nhà bà dì.

Bà cụ vốn điếc, nghe không rõ, sinh phải nhắc lại lớn tiếng. Bà cụ hỏi:

– Bà dì của cậu tên gì?

Sinh không trả lời được. Cụ cười mà nói:

– Bà dì tên gì cũng không nhớ thì làm sao tìm được nhà? Ta xem cậu cũng có vẻ học trò, chắc chỉ biết đọc sách. Chi bằng theo ta vào trong nhà, ăn đỡ chén cơm gạo xấu, ngủ trên chiếc giường nhỏ, chờ đến sáng mai về nhà hỏi lại rồi đến đây kiếm cũng chưa muộn.

Sinh đang lúc đói, biết vào trong nhà sẽ được gặp người đẹp nên rất mừng rỡ, bèn theo cụ vào. Thấy phía trong cổng lát lối đi bằng đá trắng, hai bên hoa đỏ mọc đầy, rơi rụng trên thềm. Quanh co đi về phía tây, lại có một chiếc cổng nữa, thấy một giàn đậu, hoa rải đầy sân. Sinh vào trong nhà, tường vôi sáng sủa như gương, hoa hải đường từ ngoài cửa sổ mọc sà vào đến trong nhà. Giường nệm, bàn ghế đều rất sạch sẽ. Vừa ngồi xuống, phía ngoài cửa sổ thấp thoáng có bóng người dòm ngó.

Bà cụ gọi:

– Tiểu Vinh, đi làm cơm mời khách.

Ở ngoài có tiếng con hầu dạ to đáp lại. Ngồi đâu đấy xong, sinh nói rõ gốc gác của mình. Bà cụ hỏi:

– Có phải bên ngoại cậu họ Ngô không?

Sinh đáp:

– Dạ phải.

Bà cụ kinh ngạc mà rằng:

– Mẹ cậu là em gái ta. Nhà ta nghèo quá, lại không có con trai, thành thử không đi lại thăm hỏi được. Cháu lớn đến thế này mà bây giờ ta mới biết mặt.

Sinh nói:

– Cháu đến đây là để thăm dì, lúc đi lại quên không hỏi rõ tên.

Bà cụ nói:

– Dì lấy chồng họ Tần, không sinh đẻ lần nào. Có đứa con gái nhỏ là con của một người thiếp. Mẹ nó tái giá, bỏ lại cho ta nuôi. Nó cũng không đến nỗi đần độn, chỉ phải cái tội ít được dạy dỗ nên cứ cười vui suốt ngày, không biết buồn rầu là gì. Lát nữa ta gọi nó vào đây cho anh em biết nhau.

Một lát, đứa hầu gái dọn cơm ra, có con gà to bằng nắm tay. Bà cụ bảo sinh ăn cơm. Xong, con hầu lại vào thu dọn. Bà cụ bảo nó:

– Gọi cô Ninh vào đây.

Con hầu vâng lời, bưng mâm đi ra. Hồi lâu nghe ngoài cửa thoáng có tiếng cười. Bà cụ gọi to:

– Anh Ninh, anh con nhà bà dì mày đây này, vào chào anh đi!

Ngoài cửa lại có tiếng cười khúc khích. Con hầu đẩy cô gái vào, cô cứ bưng miệng cười mãi không nhịn nổi. Bà cụ trừng mắt:

– Có khách ngồi đó mà cứ cười thì còn ra thể thống gì nữa!

Cô gái nhịn cười, vái chào rồi đứng đó. Sinh chào lại. Bà cụ bảo:

– Đây là anh Vương, con trai bà dì, người nhà cả mà không biết nhau cũng tức cười thật.

Sinh hỏi:

– Thưa dì em cháu năm nay bao nhiêu tuổi?

Bà cụ không nghe rõ, sinh phải hỏi lại. Cô gái lại che miệng cười rồi kiếm chỗ ngồi xuống giường ở một góc xa. Bà cụ bảo sinh:

– Ta đã nói nó ít được dạy dỗ, cháu cứ xem đó thì biết. Mười sáu tuổi rồi mà ngốc nghếch như đưa con nít.

Sinh nói:

– Em Ninh kém cháu một tuổi.

Bà cụ nói:

– Cháu mười bảy rồi à? Có phải tuổi Canh ngọ, cầm tinh con ngựa, đúng không?

Sinh gật đầu nói dạ. Bà cụ lại hỏi:

– Vợ cháu bao nhiêu tuổi, tên gì?

Sinh đáp chưa có vợ. Bà cụ bảo:

– Đẹp trai như cháu, sao mười bảy tuổi còn chưa có vợ? Anh Ninh cũng chưa gả cho ai. Thật là xứng đôi vừa lứa, chỉ tiếc là có họ.

Sinh im lặng không nói gì, mắt nhìn chăm chăm vào Anh Ninh không chớp. Con hầu ghé vào tai nói nhỏ với chủ:

– Mắt vẫn trừng trừng như mắt giặc, không thay đổi!

Cô gái lại cười, quay lại bảo con hầu:

– Ra xem hoa bích đào đã nở chưa.

Nói đoạn nàng đứng lên, lấy tay áo che miệng, líu ríu đi ra đến ngoài cửa mới cười rũ rượi.

Bà cụ cũng đứng dậy, bảo con hầu lấy chăn nệm dọn chỗ cho sinh nằm nghỉ rồi bảo sinh:

– Cháu đi đường cũng mệt nhọc, nên ở lại dăm ba bữa, thong thả ta sẽ cho người đưa về. Nếu có ngại buồn, đằng sau nhà có cái vườn, ra đấy tiêu khiển hoặc có thể đọc sách được.

Ngày hôm sau sinh đi ra, quả nhiên thấy có một khu vườn rộng chừng nửa mẫu, cỏ non mơn mởn, hoa nở tản mạn. Có ba gian nhà cỏ, bốn bên có các loài hoa vây kín.

Sinh vạch các cành hoa, đi dạo, nghe trên ngọn cây có tiếng chim muông ríu rít, ngửng lên thì thấy Anh Ninh đang ngồi vắt vẻo trên cành, trông thấy sinh lại che miệng cười khúc khích.

Sinh kêu:

– Xuống đi, đừng cười, té chết bây giờ!

Cô gái nghe lời, vừa leo xuống vừa cười không sao nín được. Sắp xuống tới đất, bỗng cô tuột tay té ngã, bấy giờ mới thôi cười. Sinh đỡ dậy, ngầm bấm vào tay nàng, nàng lại cười rũ ra, đứng không nổi phải dựa vào một gốc cây hồi lâu mới thôi. Sinh đợi cho nàng ngừng cười, bèn lấy cành hoa khô trong tay áo đưa cho nàng coi. Nàng cầm cành hoa, nói:

– Khô rồi, giữ làm gì nữa?

Sinh nói:

– Đây là cành hoa hôm rằm tháng giêng em đánh rơi đó, anh giữ gìn nó.

Nàng hỏi:

– Giữ để làm gì?

Sinh đáp:

– Để tỏ lòng yêu thương em. Từ hôm ấy anh vì nhớ em mà ốm một trận suýt chết. Không ngờ lại được gặp em, mong em rủ lòng thương đến anh.

Nàng nói:

– Chuyện đó nhỏ nhặt có đáng gì đâu, người trong họ hàng có tiếc gì nhau. Hôm nào anh về, hoa trong vườn nhiều lắm, em bảo bõ già bẻ một sọt quảy về cho anh.

Sinh nói:

– Em rõ ngớ ngẩn.

Cô gái nói:

– Sao anh lại bảo em ngớ ngẩn?

Sinh nói:

Có phải là anh thích hoa đâu, anh yêu người cầm hoa đấy chứ!

Nàng nói:

– Người thân thích, yêu nhau là việc dĩ nhiên, cần gì phải nói.

Sinh bảo:

– Anh nói yêu đây không phải là tình yêu trong chỗ họ hàng mà muốn nói là tình yêu vợ chồng.

Cô gái nói:

– Thì có khác gì nhau?

Sinh đáp:

– Vợ chồng, đêm chung chăn gối ấy mà!

Cô gái cúi đầu suy nghĩ một lát rồi nói:

– Em không quen ngủ chung với ai cả.

Nói chưa dứt lời thì con hầu đã tới. Sinh mắc cở lảng đi. Một lát sau, gặp nhau ở chỗ bà mẹ, mẹ hỏi:

– Đi đâu về vậy?

Nàng đáp:

– Ở trong vườn nói chuyện với anh Vương.

Mẹ bảo:

– Cơm chín đã lâu, chuyện gì mà dài thế?

Cô gái nói:

– Anh Vương nói muốn ngủ chung với con.

Sinh hoảng quá, vội trừng mắt nhìn, cô gái mỉm cười thôi không nói nữa. Sinh bèn nói chuyện khác lấp đi, nhân đó khẽ trách cô gái, nàng hỏi:

– Thế chuyện đó không nên nói hay sao?

Sinh nói:

– Đó là chuyện phải giấu mọi người.

Cô gái lại hỏi:

– Giấu người khác chứ giấu cả mẹ hay sao? Vả lại việc ngủ nghê cũng là chuyện thường, việc gì mà phải giấu không nói?

Sinh bực về sự ngây ngô của nàng nhưng không có cách chi giải thích cho nàng hiểu được.

Ăn cơm xong thì có người nhà dắt hai con lừa đến tìm sinh. Nguyên là mẹ sinh đợi lâu không thấy con về, đâm nghi. Cho người đi tìm khấp nơi trong làng, không thấy tăm hơi, bèn đến hỏi Ngô. Ngô nhớ lời mình nói dối hôm trước, bèn bảo đi tìm ở phía tây nam núi. Người nhà phải mất hai hôm mới tới được. Sinh đi ra cổng, chợt gặp, bèn vào thưa với bà cụ và xin đưa cô gái cùng về. Bà cụ mừng rỡ nói:

– Ta vẫn có ý ấy đã lâu, chỉ hiềm thân già không đi xa đuợc. Nay cháu đem em đi để biết nhà dì thì tốt lắm.

Gọi Anh Ninh đến, nàng vừa cười vừa tới. Bà cụ hảo:

– Có gì vui mà cười mãi thế? Nếu không phải cái tội hay cười thì thành con người hoàn hảo được đấy.

Bèn lừ mắt ra chiều giận dữ. Đoạn cụ nói tiếp:

– Anh Vương muốn đưa mày cùng về, vậy đi sửa soạn hành trang đi.

Cụ lại sai con hầu dọn cơm và rượu cho người nhà sinh ăn, rồi mới tiễn ra cửa và nói:

– Nhà dì ruộng vườn sung túc, có thể nuôi mày được. Đến ở đấy không cần về đây nữa. Học lấy một chút lễ nghĩa, biết thờ bố mẹ chồng rồi nhờ dì chọn cho một chỗ xứng đáng.

Hai người ra đi, đã khá xa, đến chỗ hốc núi, quay lại nhìn thì thấy bà cụ vẫn đứng tựa cửa ngó theo.

Về đến nhà, mẹ thấy cô gái xinh đẹp, sửng sốt hỏi. Sinh đáp:

– Đây là em gái con nhà dì.

Bà mẹ nói:

– Hôm trước anh Ngô nói dối con đó, ta đâu có chị em, làm gì có cháu?

Hỏi cô gái, cô thưa rằng:

– Con không phải do mẹ đẻ ra. Cha con họ Tần, lúc mất con còn nằm trong tã nên không biết gì cả.

Mẹ sinh nói: .

– Ta có người chị lấy chồng họ Tần thì đúng, nhưng đã mát lâu rồi đâu còn đến nay?

Nhân gạn hỏi dấu vết trên mặt, hết thảy đều đúng, lại đâm ngờ mà nói:

– Phải rồi, nhưng bà chị ta mất đã lâu lắm rồi.

Trong lúc đang nghi hoặc thì Ngô đến. Cô gái tránh mặt đi vào nhà trong. Ngô hỏi duyên cớ, suy nghĩ hồi lâu, chợt hỏi sinh:

– Cô ấy tên Anh Ninh phải không?

Sinh đáp là phải, Ngô nói:

– Việc thực lạ lùng!

Hỏi tại sao Ngô biết tên Anh Ninh, Ngô trả lời:

– Sau khi bà cô mất, dượng Tần ở góa, không tục huyền, bị hồ ly mê hoặc, ốm o rồi chết. Hồ ly có với dượng một đứa con gái, đặt tên là Anh Ninh, quấn tã đặt trên giường cả nhà đều biết. Dượng Tân mất, hồ ly thỉnh thoảng vẫn đến chăm sóc con. Sau người nhà xin bùa Trương thiền sư dán lên vách hồ ly mới bỏ đi. Chẳng lẽ là cô gái này ư?

Mọi người nghi nghi hoặc hoặc, chỉ nghe trong nhà trong có tiếng cười dòn dã, toàn là tiếng Anh Ninh. Bà mẹ nói:

– Con bé này còn ngây thơ quá!

Ngô xin gặp mặt, bà mẹ vào trong nhà bảo ra, cô gái vẫn cười rũ không im được. Bà mẹ giục nàng mới cố nhịn cười, lại quay mặt vào tường một lúc cho khỏi cười rồi mới ra. Chỉ vái chào một cái đoạn quay người đi vào và phá lên cười ngặt nghẽo. Đàn bà con gái trong nhà đều lấy làm vui mà cười theo. Ngô xin đi dò hỏi việc lạ ấy để tìm cách làm mối cho sinh.

Tìm đến chỗ làng đó, không thấy có nhà cửa gì cả, chỉ thấy hoa rừng rơi rụng khắp nơi. Ngô nhớ chỗ mộ bà cô hình như phảng phất không xa, nhưng các nấm đất đều đã bằng phẳng, không thể nào phân biệt được, đành than thở mà về.

Mẹ sinh ngờ là ma, kể lại lời Ngô cho cô gái nghe, Anh Ninh cũng không lộ vẻ gì là buồn bực, chỉ cười không ngớt, cả nhà không hiểu ra sao. Mẹ sinh cho ngủ cùng một buồng với con gái nhỏ. Sáng sớm nàng đã vào thăm mẹ, làm việc nữ công khéo léo vô cùng, chỉ phải cái tội hay cười cấm thế nào cũng không được. Nhưng cười như điên mà trông vẫn xinh đẹp, ai thấy cũng vui. Đàn bà con gái hàng xóm tranh nhau tiếp đón.

Bà mẹ chọn ngày lành tháng tốt sửa soạn lễ cưới, nhưng vẫn còn e là ma, rình lúc nàng đứng chỗ nắng mà nhìn, thấy nàng vẫn có bóng như người bình thường, chẳng có gì lạ.

Đến ngày cưới, bảo mặc áo đẹp, làm lễ hợp cẩn, nàng cười ngật nghẹo không lễ lạy được, đành phải bỏ lễ đó đi. Sinh sợ là nàng ngây ngô sẽ tiết lộ chuyện phòng the, nhưng nàng giữ kín không nói hở ra một lời nào cả. Mỗi lúc mẹ giận buồn, nàng đến cười an ủi là mẹ lại nguôi. Đầy tớ có lỗi, sợ bị roi vọt, cầu xin nàng đưa đến chỗ mẹ xin lỗi, được tha ngay.

Nàng thích hoa gần như thành ghiền, tìm khắp trong làng xóm, lén cầm chiếc thoa vàng lấy tiền mua các giống hoa đẹp về trồng. Được vài tháng, sân, thềm, chỗ nào cũng có hoa. Ở sân sau có một cây mộc hương giáp nhà hàng xóm phía tây. Nàng thường leo lên đó để hái hoa cài lên mái tóc. Mẹ lúc nào bắt gặp là mắng nhưng nàng vẫn không chừa.

Một hôm, đứa con trai nhà hàng xóm trông thấy, say mê ngắm nhìn. Nàng đã chẳng tránh mặt mà còn cười. Hắn cho rằng nàng đã ưng ý, lòng càng ham muốn. Cô gái trỏ chỗ chân tường, cười và leo xuống. Hắn cho rằng đó là chỗ nàng hò hẹn, mừng lắm. Đến tối hắn ra đó, quả nhiên thấy cô gái ở đấy, bèn giao hợp, bỗng thấy hạ bộ đau buốt như có kim đâm thấu tới ruột gan, kêu “ối” một tiếng mà ngã lăn ra. Nhìn kỹ thì không phải là cô gái mà là một thân cây khô nằm sát chân tường, chỗ hắn hành dâm là một hốc cây.

Cha hắn nghe tiếng kêu vội chạy ra, hắn rên rỉ, không nói. Vợ hắn đến, hắn mới thú thật. Thắp đèn soi chỗ hốc cây, thấy bên trong hốc có con bọ cạp to bằng con cua nhỏ. Người cha bèn bẻ cây đập chết con vật đoạn cõng con về, đến nửa đêm thì hắn chết.

Cha hắn xót con, làm đơn kiện, nói Anh Ninh là yêu quái. Quan ấp tể vốn quý trọng sinh là người đức hạnh, cho rằng ông hàng xóm vu cáo bậy bạ, toan phạt trượng, sinh phải xin giùm mới được tha về. Bà mẹ mắng và bảo nàng:

– Ngu dại như thế, ta đã sớm biết vui quá hóa lo. May mà quan ấp tể là người sáng suốt nên không liên lụy. Nếu gặp quan hồ đồ, bắt mày đến công đường tra hỏi thì con ta còn mặt mũi nào nhìn thấy làng xóm và họ hàng nữa!

Anh Ninh nghiêm nét mặt, thề không cười nữa. Mẹ bảo:

– Người ta ai mà không cười, nhưng cười cũng phải có lúc chứ.

Từ đó không bao giờ nàng cười nhưng cũng không có vẻ gì là ủ rũ.

Một hôm, ngồi trước mặt sinh, nước mắt nàng dàn dụa. Sinh lấy làm lạ, hỏi, nàng nghẹn ngào nói:

– Ngày trước vì nghĩ mới theo anh về đây chưa được bao lâu, nói ra sợ anh kinh hãi. Bây giờ xem ra mẹ và anh đều có lòng yêu, nói ra chắc chẳng hại gì. Em vốn do mẹ hồ ly sinh ra, lúc mẹ đi, gửi em cho mẹ ma, nương nhờ suốt mười mấy năm mới có ngày nay. Em lại không có anh em chị em gì cả, chỉ trông cậy vào anh. Mẹ già hiu quạnh ở dưới chân núi, không ai thương đến mà hợp táng với cha cho, đành phải ngậm hờn nơi chín suối. Nếu anh chẳng ngại phiền phức, phí tổn, khiến cho người nằm dưới đất được tiêu tan mối hận ấy thì thân em dẫu là con nuôi cũng không mang tiếng nhẫn tâm bỏ mặc mẹ già ở nơi hoang vắng.

Sinh bằng lòng, nhưng lại e mồ mả lẫn lộn trong đám cỏ hoang. Nàng bảo đừng lo, nàng biết chỗ. Hôm sau, vợ chồng chở áo quan đi. Anh Ninh tìm trong bãi hoang rậm rạp, chỉ rõ phần mộ. Qủa nhiên tìm thấy thi hài bà cụ còn đủ xương cốt. Cô gái ôm quan tài khóc lóc thảm thiết, đem về tìm mộ ông Tần hợp táng. Đêm ấy, sinh nằm mộng thấy bà cụ về cảm tạ. Khi tỉnh giấc, chàng kể cho vợ nghe, nàng nói:

– Em cũng mơ thấy, nhưng mẹ dặn đừng làm cho anh kinh sợ.

Sinh ân hận là sao không mời mẹ ở lại, nàng nói:

– Mẹ đã ra ma rồi, ở đây nhiều người sống, dương khí mạnh, làm sao ở lâu được.

Sinh hỏi đến Tiểu Vinh, nàng đáp:

– Nó cũng là hồ ly, tinh khôn lắm. Mẹ hồ sinh ra em, để nó lại trông nom em, nó thường xin sữa hàng xóm cho em bú, lớn lên thì kiếm bánh trái cho em ăn nên em mới sống được, em biết ơn nó lắm. Đêm hôm qua hỏi mẹ thì mẹ nói nó đi lấy chồng rồi.

Từ đó, hàng năm cứ đến tiết Hàn thực vợ chồng lại đến mộ họ Tần quét dọn, cúng lễ chẳng năm nào quên. Ít lâu sau, Anh Ninh sinh một con trai rất xinh, ai cũng muốn bế, chú bé chẳng sợ ai cả và cũng hay cười giống tính mẹ.

 

 

 

 

 

More Stories...