Đồi cát Nam Cương

Ðến chiều, sắp xếp chuyện đi đồi Nam Cương, tôi hỏi anh Bê:

 – Gần đồi cát có nhà dân chứ anh?

 – Có mà thưa thớt.

 – Như vậy mình nên tìm người mẫu trước, sáng ra đỡ lúng túng.

 – Anh tính kiếm người mẫu như thế nào?

 Câu hỏi làm tôi suy nghĩ, trước giờ chụp ảnh đồi cát, thường là gánh gồng, trẻ chạy, nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh còn mang cả đoàn Judo ra Mũi Né. Có người cho những thiếu nữ mặc áo dài màu quang gánh…Thứ gì cũng được, nhưng ảnh có tạo được cảm xúc thực nơi ngươì xem hay không mới là chuyện đáng nói. Có những tác phẩm đoạt giải ở các cuộc thi quốc tế, nhưng, với người Việt lại rất buồn cười. Những tà áo màu tươi thắm, thay vì thướt tha bên bờ hồ hay tung tăng trên đồng cỏ, lại gồng gánh băng qua đồi cát. Một lối dàn dựng kiểu studio, dù biết ăn giải, tôi cũng không có can đảm thực hiện loại ảnh như vậy. Hình ảnh phải mang sắc thái thực của quê hương. Tôi đề nghị anh Bê giúp kiếm một hai người đàn bà gióng gánh, một em bé, một con bò. Lo xong công việc cho ngày mai thì trời vừa tối. Tôi hỏi Phan Rang có quán cơm nào ngon, anh Bê đưa chúng tôi đến quán Thu Ðông nằm ngay trung tâm thành phố. Quán đóng cửa mà không có một dòng thông báo lý do, đành vào một hàng ăn gần đấy. Anh Bê tỏ vẻ tiếc, không có dịp giới thiệu những món ăn đặc biệt nơi quê anh. Tôi đùa: “Quán Thu Ðông, mà nay đã Xuân Hè nên nghỉ bán là phải!”. Quán ở góc đường, bình dân chật hẹp nhưng thức ăn khá ngon. Ðặc biệt thịt gà chặt ra một dĩa, ăn còn miếng nào trừ tiền miếng nấy. Ðây là điều ít nơi nào có. Song mỗi miếng giá bao nhiêu thì không biết.

Sáng hôm sau chúng tôi dậy sớm, điểm tâm nhẹ rồi ra đồi cát. Qua cầu Ðạo Long, rẽ trái chạy chừng ba dặm đã thấy đồi. Cư dân thưa thớt hai bên đường, càng gần đồi càng hoang vắng. Ðồi cát không cao, tuy vậy leo lên cũng khá mệt.

Ðồi Nam Cương không lớn so với Mũi Né. Ðồi chạy một vòng chừng vài cây số. Ðường nét hiền hòa đơn giản, sạch sẽ, trông rất mát mắt. Chúng tôi ngắm nghía một lúc, đợi mặt trời. Người mẫu đã đến, hai quang gánh, hai con bò, mấy đứa trẻ, một con chó… Ðường nét đã chọn sẵn, nhưng diễn viên hơi nhiều. Hai người gánh, một em dắt bò…, có thể hiểu, qua đồi đi chợ phiên… Lúc này là lúc “đạo diễn” phải động não, phải la hét để hướng dẫn người mẫu đi theo bố cục dự tính. Cảnh trí trước mắt cứ biến đổi từng lúc theo ánh sáng mặt trời, do đó sự chọn lựa một hình ảnh cho hay thật khó. Người mẫu phải đi lại nhiều lần. Ðiểm này, con người chậm hơn Computer về sự chọn lựa phân tích. Con người chỉ hơn về cảm xúc và thưởng thức. Có lúc thấy đẹp, quên bấm máy để ngắm nhìn. Bầu trời thật nhẹ, mây xám tan dần, đường nét của đồi cát nổi bật, hay dở ở đây là bấm máy sao cho đúng lúc. Có khi sắp sửa chụp thì con chó đang đi theo bò, bổng chạy loạn lên, không cách nào điều khiển được. Kinh nghiệm cho hay, không nên dùng chó làm mẫu, nhất là chụp đồi cát, chó sẽ cao hứng chạy lung tung, gây trở ngại. Ngặt một điều, thôn quê nuôi chó kiểu thả rong, nên mỗi khi chủ ra khỏi nhà là chó chạy theo, không thể cấm, và chẳng ai dạy bảo chó như ở Mỹ. Nhưng, rõ ràng chó Việt Nam khôn hơn, dù có chạy đâu thì cũng nhớ về nhà, có tình có nghĩa.. Nghĩ cho cùng, chó Mỹ được nuôi chu đáo nhưng lại không tự do và cũng chẳng biết gì lạc thú ở đời. Suốt ngày gầm gừ sau cánh cổng, hễ sổng ra là dong tuốt, y như người tù trốn trại, mà nào được thoát vòng tù tội, khách đi đường thấy chó không chủ, một cú điện thoại là có xe bắt chó đến ngay. Dù là loài vật, vẫn thích tự do, chim ngoài trời hót vẫn hay hơn chim trong lồng. Ngày trước có nhà thơ đã viết:

Thôi thôi ta đã biết rồi,

Lồng vàng cũng là nơi ngục hình,

Chi bằng trời rộng thênh thênh,

Ta bay ta hót một mình thảnh thơi

Bây giờ chuyển người mẫu qua hướng Nam, lui tới nhiều lần. Biết rằng đi trên cát nặng gấp mấy lần trên đất, nhưng khi tay còn ưa bấm máy, buộc lòng diễn viên phải tiếp tục. Lúc người mẫu tập trung ngồi nghỉ, cảnh lại hay, thể hiện được nhịp sống đời thường, đơn sơ mộc mạc. Ðây là lúc có những tác phẩm bất chợt “làm chơi mà ăn thiệt”.

 “Màn một” vừa dứt thì tiếp “màn hai”, một đàn bò mấy chục con từ xóm trong đang ra. Anh Bê cho hay, bò sẽ băng qua phía bên kia đồi. Ai nấy lại sửa soạn ứng chiến. Ðúng là cảnh của quê hương, đồi cát xứ người có lạc đà, đồi cát xứ mình có bò, cả một bầy bò qua đồi cát, khó mà thuê mướn. Bò ngoài đồng cỏ là chuyện thường, bò trên đồi cát mới lạ. Tôi nhắc anh em : “Ráng chụp, bò chỉ đi một lần, không thể đi lần thứ hai.” Bò theo hàng dài qua đồi, mấy đứa chăn thì chạy lăng quăng, phải la hét kêu chúng đi đằng sau, chứ lẫn vào giữa bò thì hỏng hết. Ðàn bò chậm chạp di chuyển, nổi hẳn lên nền cát vàng. Tôi không nghe tiếng mỏ, tiếng tù và như ngày trước. Lúc còn nhỏ, ở làng, sáng sớm tôi thích nghe tiếng tù và của bác chăn bò: “Te hù tù, te hù tù”. Người ta thường gọi bác là bác De, sáng sớm bác ra chỗ cây đa giữa làng, thổi lên mấy hồi tù và, gọi dân làng lùa trâu bò ra gởi. Chiều cũng tiếng tù và của bác, nhắc ai nấy ra đón trâu bò về. Ðến mùa, đong thóc cho người chăn, một hình thức phân công đượm tình làng nghĩa xóm. Hồi đó nhà tôi có mấy con trâu, có bữa không đón, trâu cũng về chuồng. Thế mới có câu:

Feature News
1 of 7,056

 Lạc đàng bắt đuôi chó,

 Lạc ngõ bắt đuôi trâu

Ý nói hai con vật này không bao giờ quên nơi ăn chốn ở của mình. Con người thường mắng nhau “đồ súc vật”, thực ra nhiều khi, con vật lại rất có tình.

Tiễn đàn bò qua đồi cát, đi đứt gần cuốn phim. Sau buổi quần thảo trên đồi cát, ngoại trừ dấu chân đàn bò băng qua, đồi cát vẫn nguyên vẹn đường nét. Mùa này ít gió nên cát ít vân, cát mịn và thật tươi mát. Có cơ hội đến đồi cát vào những mùa thời tiết khác nhau, thế nào cũng được những hình ảnh lạ.

 Trên đường về, ghé qua nhà chị người mẫu nghỉ chân, tôi có dịp hỏi thăm đời sống của chị:

 – Vùng này đất cát vầy, chị trồng tỉa thứ gì?

 – Dạ quanh năm em làm thuê làm muớn chứ mùa màng thì chỉ trồng ít rau đậu ăn dặm thôi.

 – Các cháu học lớp mấy rồi chị?

 – Dạ con lớn bỏ học, hai đứa nhỏ học lớp ba lớp bốn…bây giờ không như xưa, tiền học nặng lắm, rồi còn phải học thêm…

 Nhìn ngôi nhà tranh vách đất ọp ẹp cũng biết cảnh nhà không khá. Nhác thấy vườn bên cạnh có chậu kiểng lớn, giống cây khác thường. Tôi lần qua hỏi thăm, người chủ cho hay đây là loại Mai dây đào trên núi, trồng đã lâu. Cây to hơn bắp chân có dáng rất đẹp, hoa trắng nhỏ, lá giống lá Du, tuy nhiên cây làm chưa đạt. Gia công thêm sẽ có một chậu Bonsai cỡ lớn tuyệt vời. Hỏi bao nhiêu, chủ nhà bảo 300 ngàn (chưa tới 15 đô), rẻ không ngờ, tôi định mua cho người con, nhưng chuyên chở là chuyện không thực hiện được. Ði mà lòng cứ tiếc. Không riêng gì cây cối đồ vật, ngay cả con người lắm khi giá cả cũng ở mức tương tự.

 Về phố, chúng tôi được đưa đi ăn phở Tùng, trong một ngõ cụt. Không ngờ phở ngon thế. Anh em ai cũng gọi tái gầu, tôi tái gân nước trong. Lúc phở ra, tô nào cũng gầu, quán đông khách, chờ làm lại hơi lâu. Lúc ăn, thấy hương vị phở ngon đặc biệt nên chẳng có gì phiền. Ra cửa trả tiền, tôi khen: “Phở ngon lắm, mà lần sau nhớ đừng làm lộn”. Chị bán phở vừa cười vừa chạy theo, nắm tay tôi kéo lại: “Em xin lỗi vì đông quá không nhớ hết”. Phở Tùng hơn hẳn nhiều nơi. Phan Rang nổi tiếng về nho, tỏi, bắp, nhưng phở cũng rất có hạng. Tới nhiều địa phương, tuy không có những kỳ quan kỳ tích, chỉ một vài món ăn độc đáo cũng làm cho khách lưu luyến lúc ra về.

 Buổi chiều đi thăm làng gốm nằm phía trong thành phố Phan R

ang. Ðây là một làng gốm làm hoàn toàn bằng phương tiện thủ công. Phần đông làm ché chậu, lu, nồi. Gốm nung, không có hàng men như của Biên Hòa. Cứ mỗi dịp xuân về họ chỡ hàng ra bán hai bên đường lộ ngay Nga Ba Thành (Diên Khánh). Tuy có nghề để sinh nhai, nhưng đời sống cũng nghèo khổ hoang vắng lắm.

 Phan Rang nhỏ bé, khô cằn nhưng giàu nghệ thuật. Ai chơi ảnh, đến Phan Rang cũng mang về đôi ba tác phẩm, rất đáng công, dù phải đường xa, nắng gió…

 Trần Công Nhung

Related Stories...