Đi không ai biết về không ai hay…

Tôi đến bãi câu đã năm giờ sáng, còn phải mở cái đèn câu trên đầu mới thấy đường móc mồi câu. Hình như mùa hè đã già và mùa thu đang tượng, chứ tháng 5 tháng 6 sáu thì năm giờ sáng đã tỏ mặt người. Nhưng anh bạn Mễ câu đêm lại chào tôi buổi sáng mà cũng là chào tạm biệt và chúc may mắn, chúc ngày lành. Tôi nói vui với anh ta, “mấy con cá ở hồ này sướng thật. Anh là người cuối cùng cho chúng ăn đêm tới mặt trời chuẩn bị mọc thì tôi là người đầu tiên đã đến để cho chúng ăn sáng. Tôi ước được làm con cá vì lúc nào cũng có người mời ăn, mà toàn cho ăn ngon không nữa chứ!”

Anh ta cười khùng khục nhưng không thấy miệng vì râu chưa cạo, và tạm biệt tôi lần nữa với câu đùa lại, “nhưng khi bị móc lưỡi câu và lúc bị mổ bụng thì anh có muốn làm cá không?”

Bóng anh khuất dần vào vạt rừng mỏng nhưng rậm lá để ra bãi đậu xe. Tôi nhìn theo ánh đèn câu cũng là đèn soi đường đi của anh, bỗng chạnh lòng vì sao ở nước Mỹ này có quá nhiều người đi không ai biết về không ai hay; như tôi đêm qua khó ngủ nên cứ vật vờ chờ trời sáng để đi câu cá, để quên hết đi những gì đã nhớ tới, quên hết đi những gì đã nghĩ tới trong đêm mịt mù. Sáng ra chưa tỏ màu cỏ xanh tôi đã lên đường, đi không ai hay; rồi hôm nay câu tới mấy giờ về, chính tôi còn không biết thì ai biết? Trong cuộc sống vội bây giờ mà nước nước Mỹ hình như là vội nhất hành tinh, thì vẫn còn nhiều người đi hay về vẫn cần xài một bóng đèn câu trên đầu như con đom đóm nhỏ giữa đêm đen vì đại lộ danh vọng, đường tương lai huy hoàng không thuộc về họ.

Anh bạn Mễ của tôi rất hiền nhưng sở hữu bề ngoài như một tên hồ tặc. Lần đầu quen biết anh rất ấn tượng nên tôi còn nhớ. Hôm đó, người bạn câu của tôi bận việc đột xuất nên về trước. Tôi định câu tới mặt trời lặn thì về vì ngoài hồ mênh mông có mỗi mình tôi. Tính theo giờ thì câu có bạn sẽ câu tới 12 giờ đêm, nhưng câu một mình thì mặt trời lặn tầm 9 giờ tối là về, vì ở ngoài hồ một mình đêm khuya là không nên. Nhưng hôm đó, mặt trời vừa lặn thì cá cứ cắn câu miết làm tôi quên giờ. Tới hết hồn khi nghe tiếng chân người tiến về phía mình trong bóng đêm, tay hắn lại lăm lăm cây súng trường, đi cùng với con chó to như con gấu nữa mới hết hồn tôi. Nhìn anh ta cao lớn, tóc tai, râu ria như người rừng. Nhưng anh ta cất lời chào hỏi, ngữ âm của anh ta làm tôi yên tâm ngay với âm điệu giọng nói và sự nhã nhặn bẩm sinh của một người hiền…

“Chào anh. Anh khoẻ chứ?”

“Cảm ơn anh. Tôi khoẻ. Còn anh?”

“Tôi khoẻ. Tôi thường câu đêm ở cái doi đất đằng kia. Tôi có thấy anh cũng thường đi câu với mấy người bạn của anh. Nhưng tôi không hiểu sao mấy anh đi câu gì mà tới giờ cá ăn là nửa đêm thì thường là mấy anh ra về?”

“Ồ. Chúng tôi đi câu là tập thể dục. Ra hồ để được hít thở không khí trong lành, chứ đang mùa dịch, không đi đâu được mà ở nhà thì như ở tù.”

“Trong mấy người bạn của anh, có một người câu cá rất chuyên nghiệp. Tôi đã gặp và quen biết ông ta nhiều năm ở bãi câu này. Tôi biết được ông ta là người miền biển bên Việt nam nên ông rất thạo việc sông nước, nhưng ông không nói được tiếng Anh nhiều như anh…”

“Cảm ơn anh đã thông cảm cho ông bạn tôi. Còn anh, chắc cũng đã câu ở bãi câu này lâu lắm rồi phải không? Tôi có nghe bạn tôi nói về anh. Ông ấy có kể cho tôi nghe một đêm đông, cách nay chừng 5 năm; anh với ông ấy đều là dân ghiền câu nên ra hồ mùa đông. Hai người bị lạnh tưởng đông đá, nhưng anh tốt bụng và cừ khôi lắm! Anh cho ông bạn tôi vô xe anh ngồi vì có máy sưởi. Còn anh thì gỡ câu liên miên vì cá mùa đông đói mà không ai đi câu… Cuối cùng anh kéo hết cần câu của anh với ông bạn tôi lên bờ. Không câu nữa. Anh đi đốt đống lửa để sưởi ấm và nướng cá cho ông bạn tôi ăn. Chuyện về anh thật hấp dẫn tôi, nên Thiên Chúa đã cho chúng ta tuy biết nhau rồi nhưng đã được trò chuyện với nhau hôm nay…”

“…”

Chúng tôi thành bạn từ tối hôm đó. Anh nói tôi cứ câu đi, tới mấy giờ muốn về thì về, đừng sợ một mình ngoài hồ ban đêm vì đã có anh bảo vệ cho tôi. Tôi nhìn anh đã thấy sợ với vẻ hoang dã của một tay hồ tặc, nhìn con chó của anh cũng dễ sợ không kém vì nó to lớn, cái đầu của nó to lớn như cái đầu con sư tử, lông cổ xù ra và cái lưỡi thè lè như khẳng định nó có thể nuốt chửng tôi bất cứ lúc nào nó muốn; dễ sợ nhất là khẩu súng trường trên tay anh. Nhưng điều tôi yên tâm nhất là giọng nói của anh, sự khoan thai của một người đầy bản lĩnh nhưng hiền lành.

Từ khi đã là bạn nhau. Có những nửa đêm về sáng mà tôi vẫn không ngủ được thì tôi gọi anh để biết chắc là anh đang ngoài hồ. Tôi làm hai phần ăn sáng, hai ly cà phê, rồi lái xe ra hồ trò chuyện với anh tới sáng, tôi đi làm luôn.

Anh tên là Jose. Cái tên rất thường của người Mễ, và hầu như người Mễ nào tôi quen biết mà tên Jose cũng hiền lành, tốt bụng như thánh Jose mà chúng đi thành phố nào cũng hay gặp đường San Jose. Nhưng có một đêm ngoài hồ với anh tôi mới biết rõ hơn về anh và việc câu cá của anh. Thì ra anh ở nhà là cái nông trại nhỏ gần hồ này nên anh đặt bẫy lồng để bắt chuột sống, dùng chuột sống làm mồi để bắt rắn sống cũng bằng bẫy lồng lớn hơn. Cuối cùng là dùng rắn sống để câu cá bự. Tôi hỏi anh,

“Tại sao anh lại dùng thịt rắn làm mồi câu cá?”

Anh nói: “Cá nhỏ thấy rắn thì chạy, nhưng cá lớn thích ăn thịt rắn nhất vì thịt rắn sống rất tanh, và với người câu cá thì thịt rắn là mồi câu số 1 vì giữ được mùi tanh trong nước rất lâu…”

Đúng là đi một ngày đàng học một sàng khôn. Anh ta bắt rắn trong lồng như lấy đồ trong túi áo ra, chẳng sợ rắn cắn hay sao ấy! Sau đó cắt khúc dài bằng ngón tay, móc vào những cái lưỡi câu to như câu cá biển. Bốn cây cần câu của anh như cây cột đèn, tôi nghĩ chỉ có sức anh mới quăng nổi cần câu dài và nặng đến không ngờ. Anh cắm bốn cây cần vào thùng xe truck F150 Ford của anh (vì câu đêm thì cảnh sát cũng không làm khó vì cấm lái xe vô bãi câu). Từ đó, giao cho con chó vĩ đại của anh canh bốn cần câu, chừng cá cắn câu thì nó sủa vang. Chúng tôi đi đốt đống lửa cho bớt thấy hoang vu trong lòng đêm và cả lòng người.

Một chuyến câu đêm với người bạn Mễ khó quên không vì bia lạ, mồi câu lạ, cách câu lạ… mà sự khó quên vì người bạn xa lạ, khác màu da tiếng nói, nhưng cách sống của anh ta đã để lại trong tôi một hình ảnh lạ về cuộc đời. Trong màn đêm mênh mông bên bờ ảo vọng vì tiếng sóng huyễn hoặc, vầng trăng khuya không biết về đâu cho hết đêm dài nên cứ treo trên đầu hai gã cô đơn một nỗi chênh vênh vô bờ, gió goá phụ tam bành giận giữ rồi lặng tờ về sáng như một ả lăng nhăng khi nhan sắc phai tàn…

Tôi còn lại lòng tin của Jose vào Đức Chúa như một thèm khát của tôi về niềm tin khi nghe anh tâm sự với tôi lúc nửa đêm “Tôi là Mễ lậu thời xưa, thời tôi qua Mỹ dễ hơn bây giờ cả ngàn lần. Tôi tính qua Mỹ chơi với bạn bè một chuyến cho biết rồi về, nhưng không ngờ có việc làm nhiều tiền quá nên tôi ham quá mà ở lại, tôi thành Mễ lậu. Tôi cũng không biết là mình ham tiền hay mê người, là con gái của ông chủ nông trại mà tôi làm việc với các bạn tôi. Con gái của ông chủ nông trại là người Mỹ trắng, cô ấy thương tôi cũng bằng với tôi thương cô ấy. Cô ấy biết là gia đình cô ấy không đồng ý cho cô thành hôn với tôi vì tôi là Mễ lậu. Nên cô quyến định có bầu, sinh con với tôi, buộc gia đình cô ấy chấp nhận. Tôi thì đoán trước, nói trước với người yêu của tôi là khả năng chúng ta bị đuổi khỏi nông trại cao hơn được gia đình chấp nhận, nhưng cô ấy chấp nhận trả giá. Thế là chúng tôi bị đuổi ra khỏi nông trại. Tôi đi làm thuê bất cứ việc gì có người mướn trừ trộm cắp và giết người. Gia đình tôi bên Mễ mang ơn Thiên Chúa cho không nghèo, cha mẹ tôi chu cấp cho vợ tôi đi học để làm y tá như cô ấy mong muốn trở thành. Ngày vợ tôi tốt nghiệp y tá thì con gái tôi cũng ra đời. Tạ ơn trên cho chúng tôi đủ sống tới con gái tôi đã 5 tuổi và đứa con trai tôi được 2 tuổi thì vợ tôi qua đời vì bệnh ung thư. Tạ ơn Chúa ban cho con gái tôi nay đã 25 tuổi. Nó có một gia đình hạnh phúc với hai đứa cháu ngoại của tôi. Tạ ơn trên giữ gìn con trai tôi sau 4 năm trong quân đội Hoa kỳ. Nó thoát chết nhiều lần với một đức tin duy nhất là Thiên chúa đã giữ gìn nó để làm người phụng sự. Nay nó quyết định giải ngũ và đi học để làm linh mục. Mẹ tôi bên Mễ đã rất già nên vui sướng tới độ chịu không nổi, mẹ tôi theo Chúa… Anh có thấy ai chết rồi mà miệng vẫn còn cười? Cha tôi không qua Mỹ mà giao hết chuyện làm ăn của ông bên Mễ cho thằng cháu rể là chồng của con gái tôi, nó là người Mỹ trắng tử tế nhất, y như cha mẹ nó. Tạ ơn Chúa ban phước, không còn khoảng cách trong hai gia đình nội ngoại; không còn khoảng cách trong tâm tư hai đứa con tôi càng khả kính Thiên chúa…”

Jose đi lấy thịt nai khô trong xe ra nướng cho tôi ăn, anh ấy kể tiếp, “Từ ngày vợ tôi qua đời. Tôi ngủ ngoài hồ này bất cứ khi nào có thể vì trước đó gia đình tôi cũng hay cắm trại đêm ngoài hồ này. Sinh nhật một tuổi của con trai tôi ngay nơi chúng ta đang đứng. Mọi người tham dự sinh nhật ra về, còn gia đình tôi ngủ lều đêm đó tại đây. Rất vui. Giờ thì vợ tôi đã theo Chúa, con cái cũng ở xa, thỉnh thoảng chúng mới về thăm tôi khi chúng có thời gian…”

Jose khuất vào vạt rừng ra bãi đậu xe. Tôi còn nhớ hôm câu đêm với anh tới 5 giờ sáng. Câu được ba con cá catfish bự ơi là bự với một con crappie chừng 4 pounds. Tôi lấy con crappie về ăn vì cá đó không tanh, Jose chở 3 con catfish lớn tới nhà thờ của người Mễ cho các cụ già đi lễ sớm 5 giờ sáng, các cụ xẻ thịt chia nhau trong niền hân hoan Tạ ơn Thiên Chúa ban cho lương thực hằng ngày. Và chia tay hôm nay cũng không khác lắm, đêm qua anh câu được ba con catfish nhỏ hơn lần câu chung trước đó, nhưng cũng thuộc loại cá lớn. Anh cũng chở ra nhà thờ… bỗng tôi thấy chạnh lòng khi nghĩ tới đêm qua anh đi câu không ai hay, sáng nay anh về nhà cũng không ai biết.

Còn hai người nữa cũng đi không ai hay về không ai biết ở bãi câu này. Tôi sẽ cố gắng viết về họ trước mùa đông khép lại mùa câu năm nay.

Phan

More Stories...