Ðền Dạ Trạch

Bài – ảnh Trần Công Nhung

 

Ðền Ða Hòa minh chứng cho tình yêu thiêng liêng của Chử Ðồng Tử và Tiên Dung, đền Dạ Trạch là nơi lưu giữ những giá trị nhân văn cao đẹp nhất của Ðức Thánh và nhị vị phu nhân.

Ðền Dạ Trạch còn gọi là đền Hóa Dạ Trạch thuộc thôn Yên Vĩnh, xã Dạ Trạch, huyện Khoái Châu, Hưng Yên. Ðền được gắn liền với truyền thuyết “Nhất Dạ Trạch”. Tương truyền rằng đền được xây dựng trên nền đất cao của tòa lâu đài và thành quách xưa, sau khi Chử Ðồng Tử và nhị vị phu nhân hóa về trời.

Sách Lĩnh Nam Chích Quái viết: “Nửa đêm trời bỗng nhiên sáng rực, lâu đài thành quách của Chử Ðồng Tử – Tiên Dung bay cả lên trời, để lại đầm nước mênh mông. Quan quân sợ quá về tâu, Vua Hùng Duệ Vương đến tận nơi xem và truyền lập đền thờ, nhân dân bốn mùa cúng tế”.

Thế kỷ thứ V Triệu Quang Phục (1) đã cầu đảo ở đây, thế kỷ XV Nguyễn Trãi và Trần Nguyên Hãn đã đến đây cầu mộng, thế kỷ XVI các nhà thơ hội Tao Ðàn làm thơ vịnh Chử Ðồng Tử, có câu “Anh linh miếu dõi từng hương khói “, chứng tỏ thời bấy giờ đã có miếu và đền thờ Chử Ðồng Tử – Tiên Dung tại nơi này.

Ðền Dạ Trạch khi ấy nằm trên gò đất cao cạnh đầm Dạ Trạch, người dân muốn vào Ðền phải đi thuyền. Những năm Ðền mở hội, phải bắc một cầu tre cho người qua lại. Bước lên gò, các cụ phụ lão còn phải leo 19 bậc mới tới sân Ðền.

Ðền Hóa Dạ Trạch được trùng tu khoảng 100 năm trước. Ao, đầm chung quanh đã lấp kín, trước đền chỉ còn lại cái hồ bán nguyệt nhỏ. Lên Ðền hôm nay chỉ 4 bậc tam cấp.

Kết cấu Ðền từ ngoài vào trong gồm có lầu chuông, hồ bán nguyệt, qua sân là đến điện thờ gồm ba tòa nhà. Toàn bộ nội, ngoại thất, kiến trúc ngôi đền toát lên nét cổ kính, linh thiêng. Cuối thế kỷ 19, Chu Mạnh Trinh chỉ huy trùng tu Ðền.

Ðền Hóa Dạ Trạch nổi tiếng thâm nghiêm và linh thiêng. Trên gò đất phía sau Ðền ngày nay vẫn còn giữ được một ít cây cổ thụ, tạo cho đền Hóa một vẻ đẹp thâm u, huyền bí, thoát tục. Ðền nhìn thẳng hướng chính Ðông, có ba tòa lộng lẫy. Ðẹp nhất tòa thứ ba, tức hậu cung, mái vòm cuốn tam cấp, gợi cảm giác như đứng trong khoang thuyền. Gian chính diện (giữa) thờ ba pho tượng lớn, tượng Chử Ðồng Tử ngồi giữa, mặc hoàng bào. Bên trái là Tiên Dung, bên phải là Nội Trạch Tây Cung. Sau màn che cửa võng, đèn nến lung linh khiến người ta tưởng nhớ tổ tiên, cội nguồn dân tộc, sống hòa hợp với thiên nhiên, đồng lòng chống giặc giữ nước.

Cũng ở gian chính điện, bên phải là bàn thờ Cha và Mẹ Chử Ðồng Tử. Bên trái là bàn thờ Long Ngai, long vị Dạ Trạch Vương Triệu Quang Phục. Triệu Quang Phục trước đây được thờ ở một đền riêng, do đền đổ nát, dân làng đưa về đây thờ chung (phối tự).

Ðền Dạ Trạch là một đền lớn và đẹp, nhiều cột lim to, nhiều hoành phi, câu đối ca ngợi sự tích, tôn vinh thánh Chử và Ðạo của Ngài:

– Uất thông giai khí (khí tụ lại, phát dần lên).

– Âm dương hợp củng (Âm dương cùng hòa hợp)

– Sở quá giả hóa (Tự làm quá đi, vậy hóa thành cái khác)

– Nam thiên tứ vị (bốn vị thần trời Nam, ý câu này nhắc tới Chử Ðồng Tử là một trong 4 vị “Tứ bất tử”).

– Hải thượng tam thần (Ba vị thần ở trên biển. Câu này ca ngợi Chử Ðồng Tử và nhị vị phu nhân hiển thánh bay về trời tại biển này )

Ðền Hóa Dạ Trạch có tượng thần cá “Bế Ngư thần quan”. Tượng bằng gỗ, sơn son thiếp vàng, đầu rồng, thân và đuôi hình cá chép, nhân dân quen gọi là “ông Bế”. Cùng bàn thờ và tượng “ông Bế” là hai con ngựa một đỏ, một trắng. Tương truyền Chử Ðồng Tử – Tiên Dung thường cưỡi ngựa đi các nơi chữa bệnh cho nhân dân. Cả tượng cá, tượng ngựa đều có bánh xe, ngày hội dân làng đưa ra rước, có lọng che hai bên.

Ðối diện với ngai thờ “ông Bế”, là một ngai thờ, bên bát hương có chiếc “gậy thần”, đầu gậy úp cái nón lá. Nón và gậy thần là biểu hiện phép tiên Chử Ðồng Tử chữa bệnh dịch cho nhân dân. Ðền Hóa Dạ Trạch nhìn thẳng ra một cái hồ, trước hồ có lầu chuông. Chuông này được đúc năm Thành Thái thứ 14 (năm 1902) mang tên Dạ Trạch từ chung (chuông đền Dạ Trạch). Ở đây còn dựng hai bia đá, có niên đại năm Gia Long thứ 17 (năm 1819).

Thăm đền Dạ Trạch, du khách sẽ có dịp chiêm ngưỡng những cổ vật quý được lưu giữ trong Ðền: đặc biệt là chiếc nón và cây “gậy thần” – vật Ðức thánh Chử Ðồng Tử đã dùng để cứu nhân độ thế. Một nét riêng của đền Dạ Trạch đó là sự xuất hiện của “Ông Bế”- Bế ngư thuyền quan – Ðây là một biểu tượng tín ngưỡng thời cá nguyên thủy của cư dân khai phá đầm lầy. Ðền còn chiếc chuông “Dạ Trạch từ chung” được đúc từ năm Thành Thái thứ 14 (1902) ghi lại quá trình trùng tu.

Tại đền Hóa Dạ Trạch, việc thờ cúng được tiến hành vào các ngày:

– Ngày mồng 4 tháng giêng, ngày sinh của công chúa Tiên Dung.

– Lễ hội chính mở vào các ngày 10,11,12 tháng 2 âm lịch.

– Ngày 12/8 ngày sinh Chử Ðồng Tử

– Ngày 17/11 ngày cả ba vị bay về trời.

Mỗi ngày lễ ấy có bản văn tế riêng, nhưng nghi thức thì giống nhau. Ðặc sắc nhất là lễ hội tưởng nhớ đức Thánh và nhị vị phu nhân tổ chức từ ngày từ 10 đến 12 tháng 2 âm lịch. Mở màn là nghi lễ rước nước, đi đầu tiên là hai con rồng uy nghi lộng lẫy, uốn lượn theo nhịp trống phách dồn dập, dẫn đầu đoàn rước kiệu là các bà, các cô xiêm y đủ màu sắc. Trên chiếc kiệu đầu tiên đặt chiếc gậy, nón úp trên đầu gậy. Sau đó là bát bửu, chấp kích, kiệu ông, kiệu bà cả, kiệu bà hai, kiệu ông Bế và hai con ngựa (hai ông bà sử dụng khi đi chữa bệnh cho muôn dân). Theo sau là cặp “con đĩ đánh bồng”, gồm các chàng trai giả gái vừa đánh trống vừa múa, cuối cùng là các cháu học sinh. Ðoàn người đi rước nước rẽ qua đầm Dạ Trạch, lên đê, ra bãi, sau đó cả đoàn xuống thuyền để ra giữa dòng sông Hồng lấy nước. Bên kia sông, con rồng của xã Tự Nhiên cũng bắt đầu xuống nước. Sông nước mênh mông, cờ xí rợp trời, rồng bay lượn trên bến sông để chào đón những choé nước trong sạch như mối tình của Ðức Thánh Chử Ðồng Tử thuở xưa.

Sau khi lấy nước xong, đoàn thuyền của xã Dạ Trạch và xã Tự Nhiên quay về bến Ðền, trong tiếng trống giòn giã, tiếng mái chèo cắt nước dồn dập, với sự hân hoan náo nức của người đi dự hội. Tới đền, lễ dâng hương được cử hành trước ban thờ lớn. Ði đầu là cụ ông đẹp lão, đôi nam thanh nữ tú mang hương hoa cùng các cô đội mâm đèn nhang, oản quả và choé nước được lấy từ sông Hồng vào dâng Thánh. Sau đó nhóm các bà tụng kinh niệm Phật, tụng kinh “Quang Minh tu đức”, tiếp là điệu múa sinh tiền do các em gái chừng 12, 13 tuổi biểu diễn. Tiếp sau là kiệu Ðức Thánh Chử Ðồng Tử, kiệu bà cả, bà hai, kiệu nón… đi qua cầu tiến về sân Ðền để tiến hành khai mạc lễ hội. Trong đền các cụ ông làm lễ tế Thánh, chung quanh hồ bán nguyệt, quanh gác chuông là những trò chơi dân gian như chọi gà, bắt vịt, múa rồng, múa gậy, múa sư tử, cờ tướng, đập nồi niêu… Ca trù, ả đào, hát giao duyên, hát đối, Quan họ, múa rồng, múa lân…

Huyện Khoái Châu còn di tích chiến thắng Hàm Tử vang dội một thời của kháng chiến chống quân Nguyên Mông năm 1285 (2), một Bãi Sậy toàn lau lách um tùm, nơi ẩn mình của nghĩa quân trong những thời kỳ đầu chống Pháp (3).

Ðọc sử Việt ta thấy triều đại nào cũng có những anh hùng “huyền thoại – thần thánh” đã để lại những chiến tích lẫy lừng, những công trình xây dựng đất nước vẻ vang. Những người được tôn là “huyền thoại, là “Thánh thần”, chẳng phải do tuyên truyền áp đặt mà do tài ba lỗi lạc vượt hẳn đời thường: Phù Ðổng Thiên Vương – Ngô Quyền – Lý Thường Kiệt – Lê Lợi – Trần Hưng Ðạo – Quang Trung… rõ ràng không chối cãi. Nếu có ai cao ngạo, muốn cận kề, so sánh với các anh hùng đích thực của lịch sử thì chỉ làm trò cho thiên hạ cười chơi chứ khó sống mãi với sử sách.

Chử Ðồng Tử là nhân vật huyền thoại đã được thánh hóa và đền Ða Hòa, đền Hóa Dạ Trạch ngoài ý nghĩa lịch sử còn cho thấy mối tình cao vợi giữa Tiên và Trần. Sự tích của một huyền thoại mà rất gần gũi với đời nên đã tạo được nền tảng đạo đức trong dân chúng, tạo được lòng keo sơn gắn bó toàn dân đồng lòng chống ngoại xâm gìn giữ sơn hà xã tắc. Mỗt bài học giá trị mãi mãi cho mai sau.

 

 Trần Công Nhung

______________________________________

(1). Triệu Quang Phục là con Triệu Túc, người huyện Chu Diên. Ông cùng cha theo Lý Nam Ðế khởi nghĩa từ ngày đầu (541), có công lao đánh đuổi quân Lương về nước, được trao chức tả tướng quân nước Vạn Xuân.

Tháng 5 năm 545, quân Lương do Dương Phiêu và Trần Bá Tiên chỉ huy lại sang đánh Vạn Xuân. Lý Nam Ðế giao chiến bất lợi. Năm 546, sau khi Lý Nam Ðế thua trận phải lui về động Khuất Lạo, đã ủy thác cho ông giữ việc nước, điều quân đi đánh Trần Bá Tiên của nhà Lương.

Năm 547, tháng giêng, ông lui về giữ đầm Dạ Trạch (bãi Màn Trò, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên). Ðầm này rộng, cỏ cây um tùm, bụi rậm che kín, ở giữa có nền đất cao có thể ở được, bốn mặt bùn lầy, người ngựa khó đi, chỉ có thể dùng thuyền độc mộc nhỏ chống sào đi lướt trên cỏ nước mới có thể vào được. Nếu không quen biết đường đi thì lạc không biết là đâu, lỡ rơi xuống nước liền bị rắn độc cắn chết. Quang Phục thuộc rõ đường đi lối lại, đem hơn 2 vạn người vào đóng ở nền đất trong đầm, ông dùng chiến thuật du kích, ban ngày tuyệt không để khói lửa và dấu người, ban đêm dùng thuyền độc mộc đem quân ra đánh doanh trại của quân Bá Tiên cướp hết lương thực vũ khí, giết và bắt sống rất nhiều, lấy được lương thực để làm kế cầm cự lâu dài. Bá Tiên không đánh được. Người trong nước gọi ông là Dạ Trạch Vương. Bãi ấy gọi là “bãi Tự Nhiên”, đầm ấy là “đầm Nhất Dạ”, ngày nay vẫn còn tên gọi cũ.

(2) Cửa Hàm Tử xưa thuộc xã Hàm Tử bên tả ngạn sông Hồng, gần bãi Màn Trù. Tháng 5 năm 1285, sau cuộc rút lui chiến lược về Thiên Trường (tháng 2 năm 1285), và vào Thanh Hoá (tháng 4 năm 1285), vua tôi nhà Trần bắt đầu mở cuộc phản công vào các cứ điểm quan trọng của quân Nguyên tại vùng Khoái Châu, Hưng Yên. Trận quyết chiến tại cửa Hàm Tử diễn ra vào cuối tháng 5 năm 1285,5 vạn quân do Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật (1253 – 1330) chỉ huy, đã nhanh chóng giành thắng lợi. Cùng với các trận Tây Kết, Chương Dương, Vạn Kiếp, chiến thắng Hàm Tử đã góp phần tiêu diệt và quét sạch 50 vạn quân Nguyên ra khỏi bờ cõi, giải phóng hoàn toàn Ðại Việt.

(3) Bãi Sậy là một địa danh nổi tiếng gắn với một trong những cuộc khởi nghĩa của phong trào Cần Vương cuối thế kỷ XIX. Bãi sậy là một vùng đầm nước, um tùm lau sậy, nơi đây chính là căn cứ của nghĩa quân Bãi Sậy do Nguyễn Thiện Thuật lãnh đạo. Cuộc khởi nghĩa diễn ra từ năm 1883 đến năm 1892 thì chấm dứt.

 534 h6 534 h3 534 h5

Tin sách

Sách Quê hương qua ống kính (discount 50%). Liên lạc tác giả:

E.mail: trannhungcong46@gmail.com

Tel. (714)232-5935

hoặc địa chỉ:

1209 SW. Hopi St.

 

More Stories...