Thời Báo Vietnamese Newspaper

Ðập sông Ðà

Bài – ảnh: Trần Công Nhung

Khi lên Bản Lác Mai Châu, tôi dự tính sẽ ngủ qua đêm trong Bản theo lời mời của cô hàng thổ cẩm: “Chú nên ở lại một đêm để thưởng thức văn nghệ dân tộc Thái”, nhưng lúc nghe tin thời tiết: “Chiều nay trời rét hại” tôi phải rút về Hòa Bình. Ở lại là để tìm hiểu thêm sinh hoạt trong Bản Lác, mấy khi gặp được người hiểu chuyện và ăn nói có duyên như cô Thao, còn văn nghệ “Múa xòe, múa xập”, thì đã xem ở Ðiện Biên rồi. Tôi ngang qua giã từ cô hàng thổ cẩm Song Thao rồi đi bộ ra đường lớn đón xe.
Ðúng như lời tài xế nói hồi sáng, hai giờ chiều xe từ Cô Lương ra, khách không mấy người. Tôi bảo bác tài khi về Hòa Bình cho xuống ngay khách sạn nào cũng được. Hơn tiếng đồng hồ, xe vào thành phố rồi từ từ đỗ, tiếng tài xế: “Khách sạn Phương Lâm đây bác”.
Khách sạn Phương Lâm bên ngoài trông bề thế lắm, tôi hỏi một phòng có máy điều hòa, “lễ tân” cho biết chỉ có “điều hòa một chiều”, lạnh chứ không ấm. Trời rét như cắt mà còn “điều hòa lạnh” thì để làm gì. Tôi hẹn nếu không tìm được “hai chiều”, sẽ trở lại. Cô lễ tân cười, tỏ vẻ thông cảm nhưng cũng nói thêm: “Không đâu có đâu chú ơi”.
Cù Chính Lan là phố lớn của Hoà Bình mà vắng hoe, không xe máy, ít xe đạp, tôi thả bộ một đoạntìm xe ôm ra đập Sông Ðà.
Sông Ðà là một nhánh của sông Hồng, phát xuất từ Vân Nam bên Trung Quốc, chảy vào Việt Nam ngã Lai Châu, qua Sơn La xuống Hòa Bình rồi nhập với sông Hồng ở Trung Hà. Ðặc biệt khi vào Hòa Bình, sông Ðà uốn khúc mở rộng thành hồ nước mênh mông và dài hơn nửa bề ngang của tỉnh Hòa Bình. Nơi đây nhà nước XHCN Việt Nam đã xây dựng Thủy Ðiện Hòa Bình.
– Ðây ra đập bao xa?
– Dạ 5 cây.
– 3 cây thôi. Bây giờ anh đưa tôi đi xem đập rồi chạy một vòng thành phố để tìm một khách sạn.
– Khách sạn Phương Lâm đây bác.
– Tôi đã hỏi nhưng không có “điều hòa 2 chiều”chỉ lạnh thôi.
Anh xe đưa tôi ngược lên phía trên rồi rẽ ra sông Ðà, chạy men con đường bờ sông tráng nhựa chênh vênh trên sườn núi cao, nhìn xuống dòng sông phía dưới đập, hai bên bờ, nhà nổi nối nhau tương tự như làng nổi La Ngà. Dừng lại ngắm cảnh trời nước bao la, núi non chập chùng vắng lặng, tôi thấy thích thú như có một thứ hương vị vừa mới mẻ vừa quen thân, thâm thấm vào người. Tôi chụp toàn cảnh của một miền quê hương, không cần người mẫu. Một mình với cảnh mới thấy cái đẹp hiên ngang hùng vĩ ngàn trùng…và con người bé nhỏ thật!
Tôi chỉ lên hướng đập nước cao tít đàng xa:
– Mình được phép lên bờ đập trên kia không?
– Dạ được chứ, em sẽ đưa bác đi. Rồi sang bên kia, có ngôi nhà tưởng niệm những người đã chết trong thời gian thi công đập thủy điện.
– Thế à, làm sao mà chết?
– Do tai nạn, hình như có hai chuyên gia Liên Sô, nhân công thì nhiều.
Phía trên đập, nước dâng lai láng đến lưng chừng núi. Lối đi trên đập rộng hơn chắc chắn hơn. Ngày xưa chưa ngăn đập, tôi đã nghe danh chợ Bờ, đền Bờ. Ngày ấy có những chuyến du lịch dọc thượng nguồn sông Ðà từ Hòa Bình trở lên, hai bên bờ vách đá sừng sững, nhiều hang động không kém Phong Nha. Gặp lúc Hoa Ban nở cảnh càng nên thơ, nhưng cũng mạo hiểm khi ngược dòng vào mùa nước lũ.
Ngày nay sông biến thành hồ, cảnh bao la mà êm đềm, đền Bờ nằm sâu dưới đáy nước.
– Ðền Bờ bây giờ còn không anh?
– Dạ, người ta xây hai đền mới ở hai bên bờ.
– Ðền thờ ai anh biết không?
– Dạ em nghe nói thờ hai người đàn bà Thái.
– Nghe nói có tour du lịch sông Ðà, sao không thấy gì ?
– Du lịch có bến tàu trên kia, cách 3 cây số, mai em đưa bác đi, bây giờ muộn rồi.
– Anh thấy du khách có đông không, và ngược lên thì có gì hay?
– Mùa này rét nên ít khách, mùa kia người ta đi đông. Cảnh hai bên bờ đẹp hơn cả hồ Ba Bể, nhiều đoàn họ đi xa lên đến Muờng Khoa, Mường Bú, Mường La, ở đấy toàn dân tộc Thái…xem rừng hoa Ban, xem văn nghệ múa Xòe.
Nghe cũng thích nhưng phải đi vào thời tiết nắng ấm, tôi hỏi thêm: “Mình có được vào xem các tổ máy không”? – “Khi nào gặp đoàn đông người, mình có thể theo”.
Nhà máy đặt ngầm trong lòng núi phía tả ngạn sông Ðà: “Nhà Máy Thủy Ðiện Hoà Bình”, hàng chữ đỏ to, chạy dài trên mặt tiền cửa vào hầm. Thủy điện Hòa Bình do Liên Sô thiết kế, khởi công từ 1979 đến 1994 mới hoàn thành. Có 8 tổ máy, công suất mỗi máy 240.000 kw. Ðây là công trình lớn hàng đầu của Việt Nam, dự trù cung cấp điện cho cả nước, toàn dân mua công trái cho “đường giây 500 kv”. Gần 20 năm trước, gia đình tôi đã bóp bụng để làm nghĩa vụ này, rốt cuộc chẳng thấy “hoa trái” đâu. Ðiều mỉa mai, cho đến bây giờ, trong nước thỉnh thoảng vẫn thiếu điện. Cứ đến mùa hè, cạn nước là thiếu điện. Người dân thường bảo Việt Nam giật 2 cúp quốc tế: “Cúp nước, cúp điện”.
Thấy có ba người khách đứng xem, chụp ảnh, một bà đang giảng giải cho hai ông, tôi giả vờ đến gần, tìm hiểu thêm, chứ anh xe ôm chỉ biết lơ mơ.
– Xin lỗi, anh chị là người địa phương?
Người đàn bà mau miệng trả lời:
– Em ở đây còn hai anh ở trong Nam ra chơi, có gì không bác?
– Tôi muốn hỏi thăm về đền Bờ, chị chắc biết rõ?
Người đàn bà vui vẻ cho biết:
– Ðền thờ hai phụ nữ, bà người Mường tên Ðinh Thị Vân ở xã Hào Tráng, bà người Dao ở xóm Mó Nè xã Vầy Nưa. Hai bà đã có công giúp vua Lê Lợi chống quân Minh. Tương truyền, hai bà đã giúp vua và binh lính về lương thực, thuyền bè để vượt qua 300 ghềnh thác hiểm trở ròng rã nhiều ngày. Lúc hai bà qua đời, nhà vua ban chiếu chỉ cho dân chúng lập đền thờ, dân địa phương tôn hai bà là “Chúa Thác Bờ”, trong đền có 38 tượng lớn nhỏ, hai pho tượng đồng. Sau khi có đập, đền xây làm hai, bờ Nam thờ bà người Mường, trên đỉnh đồi thuộc xã Thung Nai, huyện Kỳ Sơn. Bờ Bắc, đền thờ bà người Dao, trên đỉnh đồi Hang Thầu thuộc xã Vầy Nưa, huyện Ðà Bắc.
Người đàn bà quay hỏi lại tôi:
– Bác đã vào bảo tàng Hòa Bình chưa?
– Tôi mới đến chiều nay, chưa kịp đi.
– Bác vào đấy xem một bia đá khổng lồ có khắc bài thơ chữ Hán của vua Lê Lợi. Bài thơ cổ này được công bố vào năm 1432.
Không ngờ người đàn bà hiểu rành rọt thế, tôi cảm ơn rồi quay lại anh xe. Tôi trêu anh xe một câu:
– Chị kia hay ra phết, giá mà chạy xe ôm thì đắt lắm, chị ta cho biết nhiều điều về sông Ðà rất hay.
– Bác nói như thật, đàn bà làm nghề gì chả đắt, bia ôm xe ôm…mà chị ấy có cho bác biết nghề câu người trên sông Ðà không?
– Anh bảo sao? Câu người? Sao lại câu người là thế nào?
Bây giờ anh xe ôm ra điều thắng thế chậm rải:
-Sông Ðà từ đây về Việt Trì hàng năm đến mùa lũ có rất nhiều người chết trôi, do đó những làng chài Vạn Mộc, Tùng Sơn, Sơn Ðà… đều có người hành nghề câu xác, người ta không lặn tìm mà câu.
– Câu làm sao tôi chưa hiểu?
– Ðồ nghề câu người gồm một lưới như lưới đánh cá, phía đuôi đính hàng trăm lưỡi câu bằng thép, to bằng nan hoa xe máy hoặc bằng đầu đũa. Lưỡi câu cong, sắc lắm. Người ta thả lưới móc xuống nước. Sức nặng của móc câu kéo lưới xuống sát đáy sông. Những móc này dính xác, móc chặt lấy quần áo, da thịt người chết. Thấy nặng là họ kéo lên. Thường có 9-10 thuyền rà quét trên sông. Câu xác phải theo mô hình dàn ngang hoặc đánh vòng tròn thì xác mới không bị sót. Họ cho biết, khó nhất là đoạn sông vùng ngã ba Việt Trì vì nơi đây phù sa đổ về, sau vài tiếng đồng hồ là xác bị phù sa phủ lấp. Trước khi khởi sự, thợ câu thường làm một mâm cỗ để cúng thần sông. Bởi họ tin rằng sông có ma (Hà Bá), làm lễ để xin ma bắt hồn còn thả xác cho.
– Sông Ðà lại có lắm chuyện kỳ bí nhỉ.
Ðã hơn 4 giờ, trời lạnh thêm, tôi giục anh xe lên đường. Qua nhà tưởng niệm dừng mấy phút tôi nhìn về thành phố. Trong bầu trời mù mù cuối ngày, thành phố Hòa Bình im lìm bên dãy núi cao dọc theosông Ðà. Không thấy nhà tầng, từng đám ngói đỏ lúp thúp an phận trong yên tĩnh, trái hẳn với công trình nguy nga của đập thủy điện.
Chụp ít ảnh xong tôi bảo anh xe:
– Bây giờ mình về lại thành phố, tìm một khách sạn có “điều hòa hai chiều”, nếu không có, anh cho tôi trở lại Phương Lâm.
Qua nhiều khách sạn lớn nhỏ, nơi nào cũng chỉ có “điều hòa một chiều”, cuối cùng tôi đành vào Phương Lâm, khách sạn ngay đường dễ đón xe. Trời chiều càng rét bạo, thế này mà nằm lại Bản Lác thì có mà chết cóng. Ðành chịu trạân đêm nay. Ðã hơn 5 giờ mà vào quán nào cũng không có gì ăn, “cơm chưa nấu”, nghe thật lạ, mà vắng thế này thì nấu làm gì. Ðối diện khách sạn có “Cửa hàng ăn uống”, tôi tưởng như bắt gặp một món đồ cổ, hỏi ra, đúng là của nhà nước. Chỉ có nhà nước mới “cửa hàng ăn uống” chứ tư nhân thì restaurant hoặc quán, “Lá đa quán”, “Hồ sen quán”, “Phong độ quán”…Nhưng gì thì cũng phải có cái ăn tạm, cuối cùng phải nhai bánh mì. Ðúng là thành phố “hòa bình”, sao mà yên tĩnh, lâu lâu mới có chiếc xe đò chạy qua. Ðêm về trời buốt giá, đường sá càng vắng thêm. Tôi trùm chăn cho đến sáng, đón chuyến xe đầu về ngay Hà Nội.
Ngoài hình ảnh sông Ðà và Bản Lác, Hòa Bình quá mộc mạc đơn sơ. Khách Sạn Phương Lâm, trông sáng sủa thế mà bên trong thì lại nghèo. Chẳng trách du kháchkhông mấy ai dừng chân. Tôi lại nhớ câu nói của anh công nhân trong một khách sạn ở Hà Nội: “Ban giám đốc chỉ muốn thu, không muốn chi chú ạ”.

Trần Công Nhung

.

TIN SÁCH
Sách Quê hương qua ống kính bộ 16 tập (discount 50% 10 tập đầu). Mua sách xin liên lạc tác giả:
Tran Cong Nhung
2657 Ashlan Ave. Apt 118
Clovis, CA 93611
Email: trannhungcong46@gmail.com
Tel: (816) 988- 5040

Comments are closed.