Ðào Duy Từ và Lũy Thầy

Bài – ảnh: Trần Công Nhung

 

“Ðào Duy Từ và Lũy Thầy”, tựa bài ngắn ngủi này bao hàm ba ý nghĩa: Ðào Duy Từ (tên người) Lũy (thành lũy) Thầy (danh xưng nghề nghiệp). Trong suốt dòng lịch sử Việt Nam có bao nhiêu là anh hùng liệt nữ đã viết nên những trang sử vẻ vang hào hùng. Từ thời Trưng Triệu, Ngô Quyền, Trần Hưng Ðạo, Nguyễn Huệ Quang Trung… có vị được tôn lên Thánh như Ðức Thánh Trần.

Riêng Ðào Duy Từ là một nhân vật khá đặc biệt: văn thơ thâm hậu, binh pháp thông tuệ, đạo đức hơn người. Chỉ trong vòng 8 năm vào với chúa Nguyễn đã giúp nhà Nguyễn trị vì ngót 200 năm. Vũng nên tìm hiểu cuộc đời ông trước khi nói đến Lũy Thầy, là ấn chứng sự nghiệp lớn lao của ông.

Ðào Duy Từ (1573 – 1634) hiệu Lộc Khê, quê ở xã Hoa Trai, huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia, Thanh Hoa, Ðại Việt. Cha ông tên Ðào Tá Hán, trước làm lính cấm vệ trong triều, thời Lê – Trịnh. Một hôm, nhân lúc cao hứng, Tá Hán đã sáng tác bài thơ ca ngợi chúa Trịnh như sau:

 

Trang quốc sử ai bằng Trịnh Kiểm

Tỏ thần uy đánh chiếm hai châu

Thẳng đường rong ruổi vó câu

Phù Lê, diệt Mạc trước sau một lời…

 

Tá Hán liền bị quy là phạm thượng, trong thơ dám nói cả tên húy của chúa là Trịnh Kiểm. Ông bị tội phạt đòn 20 roi và bị đuổi về nhà làm dân thường.

Nhờ có tài đàn hát nên Tá Hán bèn đi theo một gánh hát để kiếm sống và ít lâu sau đã trở thành kép hát tài giỏi, nổi tiếng khắp vùng.

Có lần, gánh hát đến diễn ở làng Ngọc Lâm trong huyện, Ðào Tá Hán trọ trong nhà vị tiên chỉ của làng là Vũ Ðàm. Ông tiên chỉ họ Vũ có cô cháu gái là Vũ Thị Kim Chi đem lòng yêu Tá Hán. Lúc đầu Tá Hán sợ phận mình nghèo khổ, khó kết thành vợ chồng, nhưng khi nghe người nhà vị tiên chỉ thuyết phục rằng cô Chi có sẵn vốn liếng làm ăn, không phải lo nghèo chẳng nuôi nổi vợ, nên Tá Hán nghe theo.

Họ làm lễ thành hôn rồi mua đất, dựng nhà ở Hoa Trai, sau hơn một năm thì sinh ra Ðào Duy Từ. Khi Duy Từ lên năm, chẳng may bố bị bệnh mất. Người mẹ ở góa, một mình ngược xuôi tần tảo nuôi con ăn học. Duy Từ tỏ ra rất sáng dạ, lại ham mê đèn sách, báo trước khả năng có thể thành đạt trên đường cử nghiệp. Năm 14 tuổi ông vào học trường của Hương cống Nguyễn Ðức Khoa, nhưng Duy Từ không được thi Hương vì luật lệ của nhà Lê bấy giờ cấm con kép hát đi thi, vì “xướng ca vô loài”. Do vậy, mẹ Duy Từ phải nhờ viên xã trưởng là Lưu Minh Phương khai đổi họ cho ông từ Ðào Duy Từ thành Vũ Duy Từ theo họ mẹ. Viên xã trưởng ra điều kiện ép mẹ Duy Từ phải làm vợ mình mới giúp, mẹ Duy Từ “hoãn binh” bằng cách bảo khi nào Duy Từ thi đậu mới tiến hành cưới xin.

Ðào Duy Từ thông minh, học rộng biết nhiều, đã đỗ á nguyên khoa thi Hương năm 1593 đời vua Lê Thế Tông (l567-1584) khi ông mới 2l tuổi.

Viên xã trưởng Lưu Minh Phương đòi cưới bà Kim Chi nhưng bà viện lý do con mới thi đậu mà mẹ đã tái giá thì xấu hổ quá, bà từ chối, rồi bảo Lưu Minh Phương hãy cho con gái lớn về lấy Duy Từ thay thế.

Lưu Minh Phương biết đã bị lừa, nộp đơn thưa bà Kim Chi lên huyện, việc đổi họ của Duy Từ bị lộ, quan huyện thụ đơn rồi báo quan Hiến Sát.

Lúc bấy giờ, Duy Từ đang thi Hội trên Thăng Long. Trong khi quan thái phó Nguyễn Hữu Liêu đang phân vân chấm quyển của Duy Từ, do một số bài bàn về cải cách chính trị có hơi trái ý chúa Trịnh Tùng, thì bộ Lễ truyền lệnh xóa tên Vũ Duy Từ, đánh tuột luôn Á Nguyên, lột mũ áo. Nghe tin này, bà Kim Chi cắt cổ tự vẫn. Duy Từ vừa hỏng thi vừa mất mẹ nên đau buồn lâm bệnh nặng, nằm lại tại nhà trọ.

Thủy tổ của Ðào Duy Từ là Tiến sĩ (năm 1275) Thượng thư Bộ binh Khai quốc công thần Ðào Dương Bật, người sát cánh cùng vua Trần Nhân Tông kháng chiến chống quân Nguyên – Mông lần thứ hai và ba. Theo gia phả thì Ðào Duy Từ thuộc chi thứ 5 từ Tổ Ðào Dương Bật, còn chúa Nguyễn Phúc Nguyên thuộc chi thứ 3.

Trong thời gian Ðào Duy Từ gặp cảnh ngộ éo le này, thì chúa Nguyễn Hoàng (1558-1613) cát cứ ở Ðàng Trong, đang làm chuyến du hành ra Bắc với mục đích chúc mừng chúa Trịnh diệt được họ Mạc, luôn thể dò la tình hình của xứ Ðàng Ngoài và thăm viếng phần mộ của cha ông (Nguyễn Kim) xây cất ở Gia Miêu (Hà Trung, Thanh Hóa).

Nguyễn Hoàng có đến thăm Thái phó Nguyễn Hữu Liêu nên tình cờ nghe được chuyện ông này kể về tài năng và số phận hẩm hiu của người học trò nghèo Ðào Duy Từ và lấy bài vở của Duy Từ trình cho Nguyễn Hoàng xem. Ðọc bài của Duy Từ, Nguyễn Hoàng biết đây là nhân tài, Chúa Nguyễn đang nuôi ý đồ xây dựng cơ nghiệp riêng ở Ðàng Trong nên muốn ”chiêu hiền đãi sĩ” lôi kéo người tài xứ Bắc về mình. Vì thế, khi biết chuyện Duy Từ, chúa đem lòng ái mộ, cảm mến, ngầm giúp Từ tiền bạc để sinh sống, chạy chữa thuốc men.

Khi Duy Từ bình phục, đích thân Nguyễn Hoàng đến thăm, thấy trên tường có treo bức tranh anh em Lưu Bị đến Long Trung cầu Gia Cát, Nguyễn Hoàng và Ðào Duy Từ bèn làm một bài thơ liên ngâm.

Nguyễn Hoàng đọc:

“Vó ngựa sườn non đá chập chùng”

“Cầu hiền lặn lội biết bao công

Duy Từ tiếp:

“Ðem câu phò Hán ra dò ý”

“Lấy nghĩa tôn Lưu để ướm lòng”

Nguyễn Hoàng tiếp:

“Lãnh thổ đoán chia ba xứ sở”

“Biên thùy vạch sẵn một dòng sông”

Duy Từ đóng:

“Ví chăng không có lời Nguyên Trực”

“Thì biết đâu mà đón Ngọa Long.”

Nguyễn Hoàng và Duy Từ rất hiểu ý nhau. Nhưng Nguyễn Hoàng không dám đón Duy Từ ngay vì sợ lộ cơ mưu, ông nói với Duy Từ:

“ Lão phu về trước, xin đắp sẵn đàn bái tướng chờ đợi tiên sinh. Năm nay lão phu hơn 70 tuổi, nếu có thất lộc cũng xin di ngôn cho con cháu phải đón tiên sinh về dạy bảo” . Duy Từ bái tạ nhận lời rồi hai người chia tay. Sau đó mấy năm, Duy Từ vào Nam.

Ðào Duy Từ mai danh ẩn tích gần 30 năm, sau vào Nam theo chúa Nguyễn Phúc Nguyên (1625), khi đó Ðào Duy Từ đã 53 tuổi.

Vào đến huyện Vũ Xương (huyện Triệu Phong, Quảng Trị) Ðào Duy Từ (dấu tông tích) tìm cách nấn ná hơn một tháng để thăm dò tình hình. Thời bấy giờ chế độ dùng người ở Ðàng trong dựa vào tiến cử là chính. Ðào Duy Từ cần một người có địa vị bảo lãnh và giới thiệu. Nghe tiếng đồn về quan Khám Lý phủ Hoài Nhơn Trần Ðức Hòa là người mưu trí, hào hiệp, lại tình “nghĩa đệ” với Chúa nên ông đã rời Vũ Xương đến Hoài nhơn. Là một người chưa có danh tiếng, Ðào Duy Từ không dễ gì gặp được quan Khám Lý, ông đã phải đi đường vòng bằng “khổ nhục kế”: ông xin làm người ở chăn trâu cho phú hộ Lê Phú thôn Tùng Châu, vốn là người có quan hệ thân thiết với Trần Ðức Hòa.

Một hôm, nhân phú ông đặt tiệc hội họp các danh sĩ uống rượu, ngâm thơ đàm luận mua vui. Chập tối, sau khi tiệc tùng xong, mọi người còn trà thuốc, bàn luận văn chương, thì vừa lúc Ðào Duy Từ chăn trâu về. Thấy đám đông khách khứa trò chuyện rôm rả, Duy Từ bèn lại gần, đứng ghếch chân lên bậc thềm nhìn, tay vẫn cầm chiếc roi trâu, vai đeo nón lá, lưng quấn khố vải… Chủ nhà ngồi phía trong nhìn thấy cho là vô lễ, giận dữ quát:

– Kẻ chăn trâu kia! Hạng tiểu nhân biết gì mà dám đứng nhìn các quan khách đây là những bậc danh Nho ?

Duy Từ nghe mắng song không tỏ ra sợ hãi, cười ha hả, rồi nói một cách thản nhiên:

– Nho cũng có hạng ”nho quân tử”, hạng ”nho tiểu nhân”. Chăn trâu cũng có kẻ ”chăn trâu anh hùng”, kẻ ”chăn trâu tôi tớ”, cao thấp không giống nhau, hiền ngu không là một! Còn kẻ tiểu nhân tôi chỉ đứng nhìn, có xâm phạm gì đến cái phú quý, sang trọng của các vị, mà chủ nhân lại mắng đuổi?

Mấy người khách nghe Duy Từ là đứa chăn trâu, mà nói lý như vậy, liền vặn hỏi:

– Vậy nhà người bảo ai là “nho quân tử”, ai là “nho tiểu nhân” hả?

Ðào Duy Từ chẳng cần nghĩ ngợi, nói luôn một mạch:

– “Nho quân tử” thì trên thông thiên văn, dưới thấu địa lý, giữa hiểu việc đời, trong nhà giữ được đạo cha con, tình nghĩa vợ chồng, anh em, bè bạn, ngoài xã hội thì biết lo việc nước, vỗ yên dân, giúp đời, phò nguy cứu hiểm, để lại sự nghiệp muôn đời. Còn ”nho tiểu nhân” thì chỉ là bọn học vẹt, cầu danh cầu lộc, khoe ít chữ nghĩa, coi thường hào kiệt, may được giữ một chức quan nhất thời, thì chỉ tìm trăm phương ngàn kế để mưu đồ lợi riêng làm sâu mọt đục nước hại dân, thật đáng sợ !

Khách nghe Duy Từ nói thế, đều giật mình kinh ngạc, không ngờ một đứa chăn trâu mà lý lẽ cứng cõi làm vậy, bèn tò mò hỏi thêm:

– Còn ”kẻ chăn trâu anh hùng”, kẻ ”chăn trâu tôi tớ” thì nghĩa làm sao, nhà ngươi thử nói nghe luôn thể ?

Duy Từ mỉm cười, ung dung trả lời:

– ”Chăn trâu anh hùng” thì như Ninh Thích phục hưng nước Tề, Ðiền Ðan thu lại thành trì cho nước Yên, Hứa Do cho trâu uống nước ở khe mà biết được hưng vong trị loạn, Bạch Lý Hề chăn dê mà hiểu thấu thời vận thịnh suy. Ðó là những kẻ ”chăn trâu anh hùng”. Còn những bọn chỉ biết cam phận tôi tớ, chơi bời lêu lổng, khi vui thì reo hò hô hoán, khi giận thì chửi rủa, đánh đấm, chẳng kể gì thân sơ, làm cha ông phải xấu lây, xóm làng chịu điều oan. Ðấy là hạng ”chăn trâu tiểu nhân” cả!

Mọi người nghe Duy Từ đối đáp trôi chảy, sách vở tinh thông, nghĩa lý sâu sắc, càng thêm kinh ngạc, nhìn nhau, rồi đứng cả dậy, bước ra mời Duy Từ cùng vào ngồi. Nhưng Duy Từ vẫn tỏ ra khiêm tốn chối từ. Cả bọn bèn dắt tay Duy Từ lên nhà, ép ngồi vào chiếu trên.

Gã phú hộ Lê Phú rất đỗi ngạc nhiên, thấy kẻ đầy tớ chăn trâu nhà mình mà nói toàn chữ nghĩa nên còn ngờ, bèn giục mấy nhà Nho vặn hỏi thêm, thử sức Duy Từ về kiến thức, sách vở cổ kim xem hư thực ra sao.

Các vị Nho học nhất vùng hỏi đến đâu, Ðào Duy Từ đều đối đáp trôi chảy đến đó và tỏ ra không có sách nào chưa đọc đến, không có chữ nào không thấu hiểu, khiến cho cả bọn phải thất kinh, bái phục sát đất !

Chủ nhà cũng không kém phần sửng sốt, mới vỗ vai Duy Từ, đổi giận làm lành, mà rằng:

– Tài giỏi như thế, sao bấy lâu cứ giấu mặt không cho lão già này biết, để đến nỗi phải chăn trâu và chịu đối xử bạc bẽo theo bọn tôi tớ ? Quả lão phu có mắt cũng như mù. Có tội lắm ! Có tội lắm!

Từ đó chủ nhà may sắm quần áo mới xem Duy Từ là khách quý, không đi chăn trâu, không làm việc nặng mà như một gia sư khi cần giảng hoặc dạy những điều cần thiết cho trong nhà. Ông được phú ông đối đãi hết sức trọng vọng.

Một thời gian sau, phú ông đem chuyện nói với Khám Lý Trần Ðức Hòa. Ðức Hòa cho gọi Ðào Duy Từ đến hỏi han, thấy ông là người học rộng biết nhiều, đem lòng yêu quý bèn mời về dạy học rồi gả con gái là Trần Thị Chính cho Từ làm vợ.

Trần Công Nhung

 h3

More Stories...