Thời Báo Vietnamese Newspaper

Đại hiệp Kim Dung nay đà gác kiếm!

Vào chiều 30/10, nhà văn võ hiệp kỳ tài Kim Dung ra đi trong vòng tay gia đình, ở tuổi 94.
Sống gần trăm năm đời người, chẳng phải ngắn, vậy mà những ai trót nặng tình với những tác phẩm kiếm hiệp của ông vẫn tiếc nuối.
“Minh chủ võ lâm”
Trước Kim Dung đã có nhiều người viết truyện kiếm hiệp, sau ông cũng có bao người chinh phục thể văn chương độc đáo này, nhưng chính Kim Dung mới là người làm cho truyện võ hiệp kỳ tình đến với nhiều giới. Chỉ có truyện của ông mới khiến từ giới trí thức đến giới bình dân say mê đến vậy.
Ở miền Nam trước năm 1975, mỗi chương truyện Kim Dung viết đăng trên tờ Minh Báo đều được các dịch giả Sài Gòn chú mục vào đọc và dịch ngay tức khắc, người người đọc Kim Dung, nhà nhà đọc Kim Dung, có những người lấy tên nhân vật của ông đặt tên cho con, nhiều điều từ tác phẩm của ông đã đi vào đời sống người miền Nam tự nhiên như câu đồng dao của lũ trẻ: Nhất dương chỉ – nhị thiên đường – tam tông miếu – tứ đổ tường – ngũ vị hương – lục tào xá… hay Nhạc Bất Quần đã trở thành danh từ chung chỉ một hạng người “ngụy quân tử”.
Ở Việt Nam, dịch Kim Dung nổi tiếng nhất chính là Hàn Giang Nhạn, còn bình Kim Dung xuất sắc phải kể đến nhạc sĩ Vũ Đức Sao Biển, hay nhà phê bình Đỗ Long Vân đã viết tác phẩm nổi tiếng Vô Kỵ giữa chúng ta hay là Hiện tượng Kim Dung…
Kim Dung cùng với Nghê Khuông, Hoàng Triêm và Thái Lan (Chua Lam) được gọi là 4 người tài hoa nhất Hong Kong; cùng với Cổ Long và Lương Vũ Sinh được gọi là “Tam hiệp khách tiểu thuyết võ hiệp Trung Quốc”.
Nhưng truyện kiếm hiệp của Kim Dung có sống lâu bền trong lòng độc giả với một thứ văn chương mềm mại, giàu chất thơ. Sự uyển chuyển hào hoa của văn chương Kim Dung thường được so sánh với vẻ lạnh lùng sắc gọn của văn Cổ Long, như những đối nghịch đầy biến ảo của tiểu thuyết võ hiệp.
Thế giới giang hồ dưới ngòi bút Kim Dung cũng biến hóa khôn lường, thiện ác chính tà không rành rành một đường, mà nhiều khi cứ xoắn quện với nhau.
Các tác phẩm Kim Dung không chỉ nói chuyện cõi giang hồ mà còn phản ánh những biến cố của lịch sử và thời đại. Trong các tiểu thuyết của mình, ông biến lịch sử thành những phông nền để từ đó nói lên bi kịch sâu xa hơn: sự lưỡng nan của kiếp người, của thân phận quốc gia, dân tộc.
Bằng học vấn uyên thâm, ông đã đan cài trong tác phẩm của mình đầy những biểu tượng, những liên văn bản, những ẩn dụ được kết tinh trong tinh thần Nho – Phật – Đạo.
Với bộ Lộc đỉnh ký, Kim Dung đã gửi lời chào tạm biệt đến các độc giả, nhưng các anh hùng của ông tiếp tục tung hoành từ trang sách đến phim ảnh, nhiều dự án chuyển thể tác phẩm của ông ra đời, thậm chí một số tiểu thuyết của ông còn được chuyển thể nhiều lần, chứng tỏ tình yêu với nhân vật Kim Dung, với tư tưởng Kim Dung chưa bao giờ vơi cạn.
Sau ngày Kim Dung “quy ẩn”, một thế hệ nhà văn viết tiểu thuyết võ hiệp mới ra đời, được mệnh danh Thần Châu Tân Ngũ Hiệp: Thương Nguyệt, Tiểu Đoạn, Tiêu Đỉnh, Bộ Phi Yên, Phượng Ca. Thế hệ mới tuy tài năng nhưng tinh thần võ hiệp khiến ta say mê xưa kia đã không còn.
Kim Dung khép lại Tiếu ngạo giang hồ bằng câu: Dứt lời nàng nở một nụ cười tươi thắm. Nụ cười của Nhậm Doanh Doanh đã khép lại bao chuyện tiếu ngạo của cõi giang hồ, còn Kim Dung bằng nụ cười ý nhị của mình vẫn còn như phảng phất trong cõi nhân gian.
Mấy ai hay Kim Dung viết tiểu thuyết, chỉ do tình cờ?
Những năm 1950, Lương Vũ Sinh viết tiểu thuyết Long hổ đấu kinh hoa, trở thành tác phẩm khai sáng kỷ nguyên tiểu thuyết võ hiệp tân phái.
Chủ bút La Phù của tờ New Evening Post đánh giá cao năng lực sáng tác của Kim Dung, nên khuyến khích ông thử sức với thể loại võ hiệp, Kim Dung liền dựa theo truyền thuyết dân gian Càn Long thân thế ở quê nhà ông – Hải Ninh, Chiết Giang mà viết, tác phẩm Thư kiếm ân cừu lục ra đời từ đây.
Thật ra, Kim Dung vốn muốn trở thành một nhà ngoại giao, nhưng bị nhà ngoại giao Kiều Quán Hoa từ chối khéo, mộng ước tan vỡ.
Từ khi bước ra ngoài xã hội làm việc, ông luôn có mối liên hệ với ngành báo chí, thế là ông bắt đầu làm phóng viên, đến trở thành chủ bút, rồi đến người sáng lập truyền thông, duyên phận của ông với ngành báo chí rất sâu đậm.
Tiểu thuyết võ hiệp của Kim Dung bảo đảm số lượng tiêu thụ của tờ Minh Báo, nếu chỉ viết chính luận thì không thể phát triển được, vì thế ông đã tập trung sáng tác tiểu thuyết trong suốt thời gian 17 năm, đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sự phát triển cũng như sự tồn tại của tờ báo.
Kim Dung viết tiểu thuyết, không chỉ đơn giản tạo ra một thế giới võ hiệp, mà còn hòa vào đó hoài bão chính trị và quan sát thực tế của riêng ông, nên tiểu thuyết có bố cục rất rộng, nội hàm rất sâu, có thể đọc và diễn giải từ các góc độ chính trị, kinh tế, xã hội, nhân văn…
Sau khi dần rút khỏi thương giới và chính giới, Kim Dung bắt đầu tiến vào con đường học vấn, đảm nhiệm chức vụ, diễn thuyết hoặc nghiên cứu chuyên sâu, ông đã để lại dấu chân ở nhiều trường đại học danh tiếng như University of Cambridge – Anh quốc, đại học Trung văn Hong Kong, đại học Bắc Kinh, đại học Chiết Giang…
Cho dù là khi sáng tác tiểu thuyết, hay khi theo đuổi học vấn ở tuổi xế chiều, Kim Dung đều không chỉ đơn thuần là người nghiên cứu, thành tựu học vấn của ông không hình thành tác phẩm chuyên ngành vĩ đại, mà đều vận dụng vào trong tiểu thuyết. Cũng chính vì có những kiến thức này, tiểu thuyết của Kim Dung mới có sức hấp dẫn khác lạ.
Đường tình trắc trở
Tiểu thuyết gia huyền thoại Kim Dung luôn rực sáng trên văn đàn, song hôn nhân của ông không hề suôn sẻ.
Cuộc đời của tiểu thuyết gia Kim Dung trải qua 3 đời vợ. Người vợ đầu của ông là tiểu thư khuê cát, rất xinh đẹp có tên Đỗ Trị Phân. Mối tình của họ chớm nở tại Hàng Châu năm 1947 trước khi Kim Dung nhận lời sang làm phóng viên dịch tin quốc tế cho tờ Đông Nam nhật báo ở Hong Kong. Đám cưới đã được tổ chức trang trọng vào tháng 10.1948 tại Thượng Hải.
Kim Dung rất yêu người vợ đầu này và thường sử dụng bút danh là Lâm Hoan cho các bài viết phê bình điện ảnh, các kịch bản. Tuy ông chưa bao giờ kể về về ý nghĩa của bút danh Lâm Hoan, nhưng em vợ ông từng giải thích rằng Kim Dung đã lấy hai chữ “Mộc” (木) trong phần họ của ông là Tra (查) và vợ là Đỗ (杜), ghép lại thành chữ Lâm (林), còn chữ Hoan (欢) ngụ ý tình cảm hai người lúc đó rất thắm thiết, hạnh phúc.
Đáng tiếc là trong mấy năm đầu sinh sống tại Hồng Kông, do Kim Dung quá bận rộn công việc, không thường xuyên ở bên cạnh chăm sóc bầu bạn nên người vợ xinh đẹp đã không chịu nổi cảnh lạnh lẽo.
Năm 1950, gia đình ông bị quy thành phần địa chủ, cha ông bị đấu tố trong công cuộc cải cách ruộng đất ở Trung Quốc, từ đó ông mất liên lạc với gia đình. Cũng trong giai đoạn này, do không chịu nổi cuộc sống lạnh lẽo ở Hong Kong do chồng thường xuyên vắng nhà bận rộn công việc, Đỗ Trị Phân vợ ông đã quyết định bỏ về nhà mẹ ở đại lục và cương quyết đòi ly dị năm 1951.
Đây là nỗi đau lớn của Kim Dung mà tới tận năm 74 tuổi khi được hỏi lại về quãng đời này, ông vẫn rơi nước mắt mà thốt lên rằng: “Bà ấy đã phản bội tôi!”.
Bốn người con của Kim Dung (hai trai, hai gái) đều do người vợ thứ hai là nhà báo Chu Mai sinh thành, tiếc rằng không ai sáng tác văn theo nghiệp bố.
Chu Mai cũng rất xinh đẹp tài giỏi, là nữ ký giả duy nhất của tờ Minh báo thời đó. Bà rất thông minh, xinh đẹp, tự lập, tính tình cương cường, cũng là người cùng đồng cam cộng khổ với chồng trong suốt thời gian đầu vất vả thành lập tờ báo. Chu Mai khiến nhiều người phải nể phục khi bà vừa chăm sóc gia đình với 4 đứa con nhỏ, vừa đảm đương nhiều công việc quan trọng trong tòa soạn.
Sau khi Minh báo phát triển rực rỡ cùng nhiều ấn phẩm cũng là lúc cuộc hôn nhân thứ hai của Kim Dung rạn nứt. Ông đã phải lòng người phụ nữ khác và cương quyết đòi ly dị sau 23 năm chung sống. Đau đớn, Chu Mai đưa ra hai yêu cầu tưởng chừng chồng không thể đáp ứng: 1. Bồi thường một khoản tiền rất lớn. 2. Yêu cầu người vợ sau phải thắt ống dẫn trứng để không sinh con tiếp. Thật không ngờ cả hai điều kiện này đều được Kim Dung đồng ý. Chu Mai sau khi ly dị đã sống ẩn dật, không chịu gặp gỡ ai và đã mất trong cô đơn khi mới 63 tuổi. Sau này được hỏi về bà, Kim Dung không khỏi ngậm ngùi thừa nhận: “Tôi có lỗi với bà ấy! Tôi là một người chồng thất bại. Bà ấy qua đời, tôi rất đau lòng”.
Tra Truyền Hiệp con trai đầu của ông đã treo cổ tự sát hồi tháng 10/1976 khi đang học năm thứ nhất Đại học Columbia vì cãi nhau với bạn gái, kết thúc cuộc đời khi chưa đầy 20 tuổi. Tuy nhiên có ý kiến cho rằng nguyên nhân kích động dẫn tới cái chết thương tâm này bởi cha mẹ anh đang cự cãi đòi ly dị.
Tra Truyền Thi, cô con gái thứ ba của Kim Dung lại bị điếc năm lên 5 tuổi do sốt cao, bị tiêm thuốc quá liều. Đây cũng chính là thời điểm Kim Dung đưa gia đình chạy trốn sang Singapore bởi Cách mạng văn hóa bùng nổ và ông bị xếp vào vị trí thứ hai của nhóm cần thanh trừng. Tra Truyền Thi sau này cũng trở thành ký giả, Phó tổng biên tập tờ Minh báo buổi tối.
Vốn đam mê ẩm thực, Tra Truyền Thích, con trai thứ hai của Kim Dung, từng mở nhà hang và làm cố vấn ẩm thực cho các nhà hàng cao cấp. Trong khi đó cô con út của ông lại đi theo nghề họa sĩ.
Cuộc hôn nhân chênh lệch 29 tuổi
Nhiều bạn bè của Kim Dung không thể hiểu nổi tại sao ông lại ly dị với người vợ tài hoa cùng đồng cam cộng khổ với mình, để lấy một cô gái trẻ nghèo khó, kém ông tới 29 tuổi, đặc biệt lại không có vị trí xã hội và tài năng gì nổi bật.
Bất chấp dư luận, ông và người vợ thứ ba là Lâm Lạc Di, một cô phục vụ vẫn cùng nhau xuất hiện ở mọi nơi. Lâm Lạc Di (khi ấy mới 16 tuổi) gặp Kim Dung vào đúng thời điểm ông đau buồn về cái chết của con trai cả, nên thường đi uống rượu giải sầu một mình. Lâm Lạc Di sau khi nhận ra thần tượng của mình đã hết lòng động viên, giúp ông bình tâm và vượt qua nỗi đau mất con. Cô đã nguyện dốc hết thời gian và sức lực của cả cuộc đời mình để chăm sóc ông.
Cảm phục trước sự hy sinh của cô gái trẻ, Kim Dung đã chu cấp tiền bạc cho Lâm Lạc Di sang Anh du học một thời gian.
Sau này khi được hỏi về cuộc hôn nhân này, tiểu thuyết gia đã chia sẻ: “Quan trọng nhất là hai bên tôn trọng lẫn nhau. Thường ngày cô ấy luôn nhường nhịn tôi. Khi cô ấy bực tức, tôi cũng cố nhịn không cãi trả. Nói về quan hệ vợ chồng với cô ấy thì tôi cũng không được coi là thành công, cũng không tính là thất bại. Nói chung cuộc sống vợ chồng rất bình thường”.
Người hâm mộ Kim Dung lại rất ngưỡng mộ Lâm Lạc Di, thậm chí còn gọi cô là “Tiểu Long Nữ” của “minh chủ” Kim Dung và mừng cho ông có người chăm sóc chu đáo tới tận cuối đời.

Có người từng hỏi Kim Dung: “Đời người nên trải qua như thế nào?”. Ông trả lời: “Đại náo một trận, lặng lẽ rời đi”.
Cuộc đời của một người, tại sao không thể giống như một bộ tiểu thuyết võ hiệp, nửa đời trước thỏa sức làm liều, nửa đời sau học hỏi bằng cả con tim. Để lại một gia tài văn chương đồ sộ và sự tiếc nuối của biết bao thế hệ người hâm mộ, Kim Dung thực sự đã “Đại náo một trận” nhưng chẳng hề “lặng lẽ rời đi”.
PH (tổng hợp)

Comments are closed.

error: Content is protected !!