Thời Báo Vietnamese Newspaper

Cuộc chiến với loài muỗi

Hoa kỳ vừa xác nhận đã có hơn 30 trường hợp mắc bệnh sưng óc Eastern equine encephalitis, thường được gọi tắt là EEE, trong năm nay. Mười một người trong số đó đã qua đời. Đây là một con số đáng lo ngại vì trung bình mỗi năm số người mắc chứng bệnh này chỉ ở mức 6, 7 người và tỷ lệ tử vong của bệnh nhân là 30%.
EEE là một chứng bệnh do siêu vi gây ra. Siêu vi này nhiễm vào loài chim trước hết, rồi khi muỗi chích các con chim bị bệnh, chúng mang theo siêu vi để truyền cho những con ngựa – do dó trong tên của bệnh có chữ esquine – ngựa, và người.
Bệnh EEE hồi đầu chỉ thấy ở vùng duyên hải phía đông của Hoa kỳ (nên trong tên bệnh cũng có chữ E- Eastern), nhưng nay đã xuất hiện ở vùng Gulf Coast và Ngũ đại hồ.
Thêm một chứng bệnh chết người liên quan đến loài muỗi.

Sát thủ hàng đầu
Jaws là loạt phim kinh dị về cá mập cho đến nay vẫn còn tiếp tục có những phần 3, phần 4 và nhiều phim nhái khác. Trong phim có hình ảnh những con cá mập khổng lồ có hàm răng nhọn sắc cắn đứt ngang thân thể nạn nhân, máu me loang mặt nước đã làm cho người ta hãi sợ và cho rằng loài cá dữ nầy là sát thủ số 1 trong giới sinh vật.
Nhưng bạn có biết rằng trong bảng xếp hạng những sinh vật giết nhiều người nhất từ năm 2000 đến nay, cá mập chỉ xếp hạng 15. Mỗi năm, trung bình chỉ có 10 người chết vì cá mập. Cùng được xếp ngang hàng với cá mập là chó sói.
Sát thủ gây thiệt hại nhiều sinh linh nhất, đứng đầu bảng, là… con muỗi. Sinh vật nhỏ bé này sắp hàng đầu, trên tất cả những sinh vật to khỏe khác.
Dựa theo nhiều ước tính, người ta thấy rằng từ năm 2000 đến nay, hàng năm loài côn trùng nhỏ bé này giết chết khoảng hai triệu người. Đã nói về cái bảng xếp hạng sát nhân thì nói luôn cho tiện. Đứng thứ hai sau loài muỗi, nhưng ở khoảng cách khá xa là… con người. Hàng năm, người sát hại chừng 450 ngàn người. Loài rắn được xếp hạng 3, gây ra chừng 40 ngàn cái chết cho nhân loại. Sau đó là chó và muỗi/ ruồi cát (sandfly/ Phlebotomus) – mỗi loài giết 25 ngàn người, ruồi tsetse và bọ xít hút máu (kissing bug) mỗi loài giết 10 ngàn. Cá sấu đứng thứ 10 với 1 ngàn nạn nhân, hà mã 500, voi và sư tử mỗi loài 100 nạn nhân.
Trong truyện cổ tích Việt Nam “Sự tích con muỗi”, muỗi là kiếp sau của một người phụ nữ bạc tình. Chuyện kể rằng người này chết non, được ông chồng cứu sống bằng cách nhỏ ba giọt máu vào miệng. Khi sống lại, chị bị một người khách thương quyến rũ. Mê tiền của, chị bỏ anh chồng. Người chồng theo đuổi, van nài mãi chị không trở lại. Buồn bực, anh đòi chị trả lại ba giọt máu. Khi người vợ bạc bẽo đó cắt tay nhỏ máu trả lại chồng, chị ngã ra chết và biến thành con muỗi. Từ đó, con muỗi vo ve đi tìm cho đủ ba giọt máu để trở lại làm người.
Câu chuyện thật buồn, và nếu được kể vào thời đại này chắc chắn sẽ bị lên án là kỳ thị giới tính, vì trình bày kẻ bạc tình là một phụ nữ.
Nhưng chuyện cũng có phần khoa học. Những con muỗi đi chích người (và cả súc vật) để hút máu là muỗi cái. Muỗi đực không chích và cũng chẳng cần đến máu để làm gì cả.
Khi các nàng muỗi đi đòi máu
Khoảng thời gian lúc xẩm tối là giờ mà các nàng muỗi thích nhất để hành sự. Bạn có thể nghe tiếng vo ve của nàng, nhưng sẽ không thể nhận ra khi nàng nhẹ nhàng đáp xuống khoảng da thịt ở mắt cá chân của mình vì nàng thường chích ở những vị trí thấp gần mặt đất. Rồi nàng lặng lẽ, dò dẫm trong khoảng khoảng 10 giây. Khi tìm cho được một mạch máu ngon lành nhất, nàng chổng mông lên trời phóng sáu mũi kim vào mục tiêu. Đầu tiên là hai mũi loại để cắt xẻ– hoạt động giống như dao cắt có răng cưa chạy điện, cưa vào da, trong lúc hai mũi khác mở rộng vết cắt để đưa mũi vòi hút – một cái ống sơ- ranh, vào mạch máu. Rồi nàng bắt đầu hút từ 3 đến 5 miligram máu của bạn, đồng thời tiết ra một chất nước để làm cô đặc 20% protein của máu. Cùng trong lúc đó, một mũi kim thứ 6 bơm vào chỗ đã châm một chất chống đông để giữ cho máu của bạn khỏi đông lại. Việc này rút ngắn thời gian hút máu, giảm thiểu khả năng bạn ý thức được việc mình bị chích để vung tay đập. Chất chống đông này tạo ra một phản ứng ngứa ngáy và để lại trên da của bạn một vết nổi đỏ làm quà cám ơn.
Đúng như câu chuyện cổ tích, các nàng muỗi cần máu của bạn để sống, nhưng khác ở chỗ không phải để cho nàng sống mà để duy trì nòi giống. Nàng cần máu để nuôi lớn số trứng của nàng.
Có những thành kiến sai lầm về mục tiêu chọn lựa của các nàng muỗi, thí dụ như muỗi khoái phụ nữ hơn nam giới, các nàng có màu tóc và da sáng hơn màu sậm, da mỏng hơn da dầy… Sai hết. Muỗi chẳng chê ai trong số những người đó cả.
Tuy nhiên, muỗi cũng có sở thích và đối tượng yêu thích. Thí dụ như muỗi khoái người có loại máu O, thế là người mang máu O khổ, họ bị muỗi chích nhiều gấp đôi hơn những người có máu A hoặc B, hoặc AB. Nhóm biên soạn và thực hiện của Disney/Pixar đã làm việc rất nghiêm cẩn khi làm cuốn phim hoạt họa A Bug’s Life khi cho một nàng muỗi dặn người bán rượu cho mình một ly Bloody Mary, O cộng.
Những người có mức độ tự nhiên cao hơn của một số hóa chất trong da, đặc biệt là axit lactic, cũng có vẻ “ngon miệng” hơn đối với muỗi. Các nàng có thể dựa trên những yếu tố này để xác định loại máu của họ. Những hóa chất đó cũng xác định mức độ vi khuẩn trên da của một người và mùi thân thể riêng của người đó. Nói xin lỗi, nếu thân thể bạn có mùi làm người khác (và cả chính mình) khó chịu, bạn lại gặp may. Bởi vì hơi hôi hôi chua chua một chút có nghĩa là lượng vi khuẩn trên da nhiều hơn, và bạn bớt quyến rũ với muỗi. Tuy nhiên, hôi chân lại là chuyện khác. Mùi này, do vi khuẩn phát ra, là mùi hấp dẫn với các nàng muỗi.
Ở đây, câu nói đùa của người Việt “tại da thịt thơm quá” lại hóa ra đúng. Các nàng muỗi cũng bị những thứ thơm thơm như chất khử mùi (deodorants), nước hoa, xà bông và các loại mùi thơm khác mà người ta xức lên thân thể.
Muỗi cái cũng rất thích những người uống bia. Việc mặc quần áo màu sáng mà trước nay người ta vẫn khuyên nhau như một cách tránh bị muỗi đốt cũng là trật lất, bởi muỗi săn mồi bằng cả thị giác lẫn khứu giác – và khứu giác nhắm vào lượng carbon dioxide (CO2) được con mồi thở ra. Vì vậy, khi bạn vung tay đập muỗi, hung hăng và phì phò thì bạn chỉ khiến cho mình trở nên hấp dẫn thêm với muỗi. Các cô muỗi có thể ngửi thấy carbon dioxide từ khoảng cách xa đến 60 mét (200 feet). Khi tập thể dục, người ta thải ra nhiều carbon dioxide hơn thông qua số lần và lượng hơi thở, đồng thời cũng đổ mồ hôi, tiết ra những hóa chất, chính yếu là axit lactic, khiến muỗi chảy nước miếng! Thêm nữa, khi tập thể dục, nhiệt độ cơ thể của người ta tăng lên – một dấu hiệu dễ nhận biết. Trung bình, các phụ nữ mang thai phải chịu gấp đôi số lần cắn, vì họ thở ra lượng carbon dioxide nhiều hơn đến 20% và có nhiệt độ cơ thể của họ tăng nhẹ. Thế nên các thai phụ trở thành mồi ngon của muỗi và dễ mắc virus Zika và sốt rét.
Muỗi đực không chích người mà chỉ chích …muỗi cái. Chúng ăn mật hoa, nhựa cây. Khi sẵn sàng giao phối, muỗi đực tập họp lại thành từng đàn. Muỗi cái sẽ bay vào trong đàn đó để một bạn tình phù hợp. Một liều tinh trùng là tất cả những gì muỗi cái cần để tạo ra nhiều lứa con. Nàng lưu trữ lượng tinh trùng đó lại để từ từ phân phối cho nhiều đợt trứng.
Sau khi giao phối, nàng đi tìm con mồi để kiếm thêm phần còn lại cần thiết cho việc truyền sinh của nó: Máu người. Một bữa ăn của nàng muỗi cái – lượng máu hút vào, nặng gấp ba lần trọng lượng cơ thể của chính cô. Cô nhanh chóng tìm thấy bề mặt thẳng đứng gần nhất và, với sự trợ giúp của trọng lực, tiếp tục tách nước khỏi máu của nạn nhân.
Cô nàng dùng lượng máu cô đặc đó để nuôi trứng trong vài ngày sau. Khi tìm được một chỗ thích hợp, như bề mặt của một vũng nước nhỏ, nàng sẽ đẻ vào đó khoảng 200 quả trứng nổi trên. Nàng luôn đẻ trứng trong nước, nhưng không cần một lượng nước nhiều: một tí nước dưới đáy một cái bình cũ, đọng trong một cái vỏ xe hoặc trong một món đồ chơi nhựa nén ở góc sân là đủ.
Liên tục trong vòng đời ngắn ngủi chỉ dài từ một đến ba tuần, nàng muỗi của chúng ta sẽ chích và đẻ trứng. Tuy có thể bay xa vài ba cây số, cô hiếm khi đi xa nơi sinh trưởng của mình hơn 400 mét. Nếu trời nóng, nhiệt độ cao, chỉ hai ba ngày trứng muỗi sẽ nở thành những con bọ gậy – được gọi bằng một tên khác thích hợp hơn với hành vi của chúng là “loăng quăng” trong nước. Bọn loăng quăng nhanh chóng biến thành những con sâu hình dấu phẩy, vẫn sống dươi nước nhưng thở bằng những cái vòi nhô lên khỏi mặt nước. Một vài ngày sau đó, vỏ sâu nứt ra những con muỗi trưởng thành khỏe mạnh. Một thế hệ muỗi mới đã sẵn sàng để kiếm ăn.

Một cuộc chiến gay go với một địch thủ khó thắng
Trong cuộc chiến đấu giữa người và muỗi, tương quan lực lượng chênh lệch rất lớn.
Phe nhân loại hiện nay có khoảng trên 7,7 tỷ người, trong khi đó quân số muỗi được ước tính là 110 triệu triệu (110 và 14 con số 0 đi sau) con! Chúng là một tập hợp của 3.500 loài, chia thành hai phân họ – Anophelinae có 3 chi và Cullicinae có 40 chi, và có mặt trên hành tinh này từ 190 triệu năm, rất lâu trước khi loài người xuất hiện.
Về mặt vũ khí, các nữ chiến binh của quần thể côn trùng đáng sợ này được trang bị ít nhất 15 vũ khí sinh học có khả năng giết người, hoặc làm suy nhược con người, hàng loạt.
Về ngân sách quốc phòng, phe ta hiện đang phải chi hàng năm chừng 11 tỷ đô la vào các phương tiện tự vệ che chắn (như mùng màn, lưới) cá nhân, thuốc xịt và các phương tiện khác để ngăn chặn các cuộc tấn công không ngừng của địch quân. Con số này đang tăng nhanh. Dầu vậy, địch quân vẫn tăng cường các chiến dịch tấn công liều lĩnh và tội ác chống lại loài người của chúng. Mặc dù các cuộc phản công của chúng ta đang làm giảm số thương vong mà quân địch gây ra – đặc biệt là con số người chết vì sốt rét đang giảm nhanh chóng – muỗi vẫn là loài nguy hiểm nhất của loài người trên hành tinh này.
Thực sự, các nàng muỗi không giết người, nhưng nếu không có các nàng, những mầm bệnh của các chứng bệnh độc hại và biến đổi nhanh gây ra ra sự chết chóc và tàn phá khủng khiếp, đã không thể lan truyền hoặc truyền sang người, và cũng không thể tiếp tục truyền nhiễm theo chu kỳ. Trên thực tế, nếu không có muỗi, sẽ không có những thứ bệnh đó.
Có một phát biểu thường được nhầm lẫn cho là của Charles Darwin: “Không phải là loài mạnh nhất trong số các loài sống còn, cũng không phải là loài thông minh nhất sống còn. Chính là loài có khả năng thích nghi nhất với sự thay đổi.”
Muỗi và các bệnh mà chúng mang theo – đặc biệt là các ký sinh trùng sốt rét – là thí dụ điển hình của luận điểm vừa kể. Muỗi là bậc thầy của sự thích nghi tiến hóa. Muỗi có thể tiến hóa và thích nghi với môi trường thay đổi của chúng chỉ trong một vài thế hệ. Trong Thế chiến II, khi thành phố London bị Đức oanh tạc năm 1940-41, những đàn muỗi Culex đã bị giam giữ trong các đường hầm tránh bom của hệ thống xe điện ngầm thủ đô nước Anh. Bầy muỗi bị mắc kẹt đó đã thích nghi nhanh chóng bằng cách ăn ăn chuột, chuột cống và người thay vì chim, để trở thành một loài khác biệt với tổ tiên của chúng trên mặt đất. Chỉ chưa đầy 100 năm, chúng đã tiến hóa đốt giai đoạn đáng lẽ phải cần đến hàng ngàn năm.
Loài muỗi còn là loại một sinh vật vô tích sự. Trong khi các côn trùng khác giúp thụ phấn cho cây cỏ, sục khí cho đất, hoặc phân hủy chất thải, muỗi chỉ làm có một việc là làm lan tràn loài của mình và có thể thêm. Chúng cũng chẳng là nguồn thức ăn cho một sinh vật khác trong chuỗi thực phẩm của muôn loài.
Có thể cho rằng chúng được sinh ra làm thiên địch (predator) của loài người, đóng vai trò biện pháp đối phó với sự gia tăng dân số bừa bãi không được kiểm soát của con người. Trong suốt lịch sử loài người, sốt rét (malaria) và sốt vàng da (yellow fever) là một cặp song sinh giết người và làm thay đổi lịch sử, đóng vai địch thủ trong cuộc chiến tranh dai dẳng giữa người và muỗi.

Bệnh sốt rét: những gì sẽ diễn ra sau một cú chích
Ở người: Sau khi bị muỗi Anopheles đốt, lũ ký sinh trùng Plasmodium sốt rét gian ác sẽ đi vào và nằm bên trong gan của người bị đốt từ một đến hai tuần để biến đổi và sinh sản. Trong thời gian đó, ký chủ hoàn toàn không thấy có triệu chứng gì. Nhưng sau đó, một đội quân độc hại của dạng biến đổi mới này sẽ nổ tung ra khỏi gan và xâm nhập vào máu của nạn nhân. Các ký sinh trùng bám vào các tế bào hồng cầu, chọc thủng các tuyến phòng thủ bên ngoài rồi ăn huyết sắc tố bên trong. Bên trong tế bào, chúng lại trải qua một lần biến đổi và chu kỳ sinh sản khác. Các tế bào máu đã bị nhiễm ký sinh trùng sau đó vỡ ra để tung ra 2 dạng ký sinh trùng mới. Một dạng (đã được nhân lên) sẽ tấn công các tế bào hồng cầu còn khỏe, và một dạng “vô tính”, sẽ trôi nổi trong máu của nạn nhân – nay đã trở thành bệnh nhân, chờ một con muỗi khác chích người này để vận chuyển chúng đến một nạn nhân khác.
Loại ký sinh trùng đã biến hình đổi dạng này rất khó để loại bỏ hoặc khống chế được bằng thuốc hoặc vắc-xin. Tới thời điểm đó, bệnh đã rất nặng, với những cơn ớn lạnh có giờ kéo theo cơn sốt cao, có thể lên đến 41độ C. Đây là lúc ký sinh trùng số rét đã hoàn toàn làm chủ cơ thể của người bệnh. Người bệnh khi đó chỉ còn có thể nằm bẹp, đau đớn bất lực trên giường, mình mẩy ướt đẫm mồ hôi, co giật từng cơn và nôn mửa từng cơn. Nhìn xuống bụng, người bệnh có thể trông thấy lá lách và gan của họ đang to lên rõ rệt. Ở bên ngoài, da của người bệnh có màu vàng ệch. Cơn sốt sẽ hạ xuống để rồi lại tái phát theo những khoảng thời gian chính xác với mỗi đợt bùng phát mới và sự xâm nhập của ký sinh trùng từ các tế bào máu của bệnh nhân. Sốt sau đó giảm dần trong khi ký sinh trùng ăn và sinh sản bên trong các tế bào máu mới.
Ở con muỗi: Trong khi đó, những ký sinh trùng dạng vô tính được hút vào trong dạ dày của muỗi sau khi chúng hút mạu của bạn – người bệnh, sẽ đột biến một lần nữa, thành cả hai giống đực và cái. Chúng nhanh chóng giao phối, tạo ra những con hình dạng giống như sợi chỉ. Lũ này thoát ra khỏi ruột và đi vào tuyến nước bọt của muỗi. Trong tuyến nước bọt, ký sinh trùng sốt rét đã khéo léo điều khiển con muỗi, buộc nó phải chích thường xuyên hơn bằng cách ngăn chặn việc sản xuất chất chống đông máu của muỗi và do đó giảm thiểu lượng máu một lần con muỗi hút được. Điều này buộc con muỗi phải chích thường xuyên hơn để có được lượng máu cần thiết. Bằng cách đó, ký sinh trùng sốt rét chắc chắn tối đa hóa được tỷ lệ và tần suất lan truyền, sự sinh sản và sự sống còn của nó.

Một hy vọng mới để diệt muỗi
Tất cả các loài muỗi đều cần nước để sinh sản, vì vậy những nỗ lực diệt trừ và kiểm soát số lượng muỗi thường liên quan đến việc loại bỏ hoặc giải quyết các nguồn nước đọng. Một biện pháp phổ biến khác là phun thuốc diệt côn trùng để diệt muỗi trưởng thành. Tuy nhiên, những nỗ lực toàn cầu để ngăn chặn sự lây lan của muỗi đang có rất ít hiệu quả và nhiều nhà khoa học cho rằng hiện tượng nóng lên của Trái đất có thể sẽ làm tăng số lượng và phạm vi của muỗi.
Crispr, một khám phá mới trong lãnh vực sinh học và di truyền học, cũng đang được coi là có triển vọng trong nỗ lực diệt muỗi.
Kỹ thuật này, chỉnh sửa gene di truyền, do một nhóm khoa học gia do Tiến sĩ Jennifer Doudna, một nhà hóa sinh học ở Đại học California, Berkeley lãnh đạo khám phá.
Đại khái, Crispr là quy trình cắt ra một phần trình tự DNA của một bộ gene và thay vào đó bằng một gene khác mà người ta muốn có. Kết quả là bộ gene đó sẽ được thay đổi vĩnh viễn, một cách nhanh chóng, rẻ tiền và chính xác.
Trước đây, từ thập niên 1960, trong cộng đồng khoa học đã có lý thuyết diệt muỗi bằng cách dùng biện pháp sinh học làm cho chúng không còn khả năng sinh sản.
Crispr bây giờ có thể đưa những nguyên tắc này vào thực tế. Dùng Crispr để biến đổi gene của muỗi đực rồi thả chúng vào vùng muỗi để giao phối với muỗi cái. Chúng sẽ sinh ra các con muỗi chết ngay khi ra đời, vô sinh hoặc chỉ toàn con đực. Muỗi sẽ tuyệt chủng trong một hoặc hai thế hệ.
Sáng hội Bill and Melinda Gates (gọi tắt là Gates Foundation) đã đổ từ năm 2016 đến nay 75 triệu đô la vào cuộc nghiên cứu Crispr và muỗi.
Sáng hội này ngay từ khi mới thành lập đã tài trợ cho nghiên cứu về kiểm soát muỗi, bằng các phương pháp sinh học và di truyền học phi truyền thống và các biện pháp can thiệp hóa học mới nhằm làm suy giảm hoặc làm mất khả năng truyền bệnh của muỗi.
Tuy nhiên, Gates Foundation đã khẳng định mục tiêu chiến lược của họ là tiêu diệt sốt rét và các bệnh do muỗi truyền khác; không phải là để đẩy con muỗi – vô hại khi bay một mình, không đem theo một vi sinh vật quá giang – đến bờ vực tuyệt chủng.
Phương pháp di truyền học – như Crispr, sẽ chế tạo ra loại muỗi được biến đổi gene không có khả năng chứa ký sinh trùng (một đặc điểm di truyền truyền qua máu của chúng) có thể chấm dứt tai họa bất tận của bệnh sốt rét.
Tiến sĩ Anthony James, một nhà di truyền học phân tử ở Đại học California, Irvine, đã dùng phương pháp Crispr để khiến cho một loài muỗi Anophele không còn khả năng lây truyền bệnh sốt rét bằng cách loại bỏ ký sinh trùng khi trong khi chúng đi qua tuyến nước bọt của muỗi. Dr. James giải thích, “Chúng tôi đã thêm vào một gói gen nhỏ, cho phép muỗi hoạt động như bình thường, trừ một thay đổi nhỏ – chúng không còn có thể chứa chấp ký sinh trùng sốt rét nữa.”
Giống muỗi Aedes khó giải quyết hơn, vì nó truyền nhiều bệnh, gồm sốt vàng da, Zika, West Nile, chikungunya, Mayaro, sốt xuất huyết và các bệnh não khác. Với loài Aedes, Dr. James cho rằng không còn cách nào khác là thiết kế một loại gene làm cho chúng không còn khả năng sinh sản. Ông lý luận rằng “tạo ra một con muỗi kháng Zika trong khi nó vẫn có thể truyền bệnh sốt xuất huyết và các bệnh khác là chuyện vô lý.”
Nhưng cũng đã có những cảnh báo về việc phải thận trọng với những gì chúng ta mong muốn. Nếu chúng ta diệt trừ các loài muỗi truyền bệnh, liệu sẽ có các loài muỗi hay côn trùng khác sẽ trám vào chỗ của chúng hay không? Việc loại trừ loài muỗi sẽ có những tác động nào trong sự cân bằng sinh học của thiên nhiên? Điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta tiêu diệt các loài đóng vai trò thiết yếu nhưng không được nhận ra trong hệ sinh thái của chúng ta?

Đỗ Quân (theo The Guardian, Wikipedia, WHO và CDC)

Comments are closed.