Thời Báo Vietnamese Newspaper

Công lý-Bất công-Bồi thường!

Chu Nguyễn

Canada là một quốc gia pháp trị và guồng máy pháp luật tỏ ra hữu hiệu và bén nhạy. Tuy nhiên trong lịch trình kéo dài hơn một thế kỷ từ ngày lập quốc (01-07-1867), không khỏi có dư luận chỉ trích cán công công lý có lúc đã nghiêng lệch vì lý do này hay lý do khác, khiến nhiều nạn nhân hàm oan và không ít kẻ thoát vòng tội lỗi. Phải kể từ khi giá treo cổ được bãi bỏ, án tử hình không còn được thi hành ở Canada (1976) và kể từ Hiến chương (Charter) xuất hiện vào 1982 (gọi tắt của The Canadian Charter of Rights and Freedoms hay La Charte canadienne des droits et libertés) cán cân công lý dần dần thăng bằng và nếu có dư luận khiếu nại một phán xử là bất công thì lập tức có sự xét lại, bồi thường cho nạn nhân hàm oan. Đây là những điểm tiến bộ và nhân bản trong luật lệ của Canada hiện hành..
Sau đây là một số vụ điển hình trong lịch sử pháp luật Canada trong những năm gần đây, bị tòa dưới xét xử bất công rồi được xét lại ở tòa án cấp cao hơn, và được bồi thường.

Vụ án Guy Paul Morin. Chàng trai Queensville, phía bắc Toronto, vào tháng 10 năm 1984 bị kết tội hiếp dâm và sát hại cô bé hàng xóm 9 tuổi có tên là Christine Jessop. Bị cáo nhiều lần vào tù ra khám chờ chống án và cuối cùng được miễn tố nhờ vào 1995, xét nghiệm DNA từ vật chứng để lại trên thi thể kẻ xấu số không phù hợp với DNA của bị cáo. Guy được miễn tố và được chính quyền Ontario bồi thường 1, 25 triệu Gia kim

David Milgaard và bản án oan khuất.

Vụ án David Milgaard. Milgaard cũng lãnh bản án oan khuất sau đó mới được đèn trời soi thấu. Milgaard là dân Winnipeg, sinh năm 1952. Vào tháng giêng 1969, Milgard, lúc đó 16 tuổi, cùng hai người bạn rủ nhau đi du lịch quanh vùng. Tới Saskatoon thì chàng trai dính vào một án mạng. Người chết là nữ y tá Gail Miller, 20 tuổi nằm chết trên bờ tuyết và có dấu hiệu bị ai đó hãm hiếp và hành hung. Cảnh sát mở cuộc truy tầm thủ phạm. Rủi cho Milgaard, bạn bè của cậu vì áp lực của cảnh sát và một nhân chứng ham tiền thưởng đổ riệt tội lỗi lên đầu Milgaard. Mặc dù Milgaard đang ở B.C đã bị dẫn độ từ B.C. về Saskatchewan vào năm 1970 để ra tòa. Kế tiếp, Milgaard lãnh bản án tù dài hạn trong một nhà tù khắc nghiệt.

Milgaard tiếp tục kêu oan, nhờ bà mẹ can đảm và cũng nhờ hội bênh vực kẻ hàm oan (AIDWYC) gây áp lực lên cán cân công lý, nên vụ án được xét lại. Mãi tới 23 năm sau nhờ xét nghiệm DNA từ tinh dịch của kẻ hiếp dâm dính trên quần áo nạn nhân (do một phòng thí nghiệm ở Anh thực hiện) không phải của Milgaard, mới được xét là vô tội và tới năm 1999 được bồi thường 10 triệu Gia kim khi hung thủ chính thức, một dân Saskatoon, là Larry Fischer bị bắt và bị kết án tù dài hạn.
Gần đây Ivan Mervin Henry ở British Coumbia bị kết án về mười tội tấn công tình dục từ 1980 tới 1982 và từ 1983 nếm trải 27 năm hết vào tù, lại ra khám, cho tới 2016 mới được miễn tố và được bồi thường 8 triệu Gia kim.
Tuy nhiên chưa có vụ oan ức nào bằng vụ Truscott vì suýt nữa cậu bé 14 tuổi bước lên giá treo cổ về một tội không làm.
Vụ án Steven Truscott

Steven Truscott, một thiếu niên năng động, thích thể thao hay họp bạn chơi đùa tại Clinton, một thị trấn nhỏ ở gần London, Ontario, bên cạnh căn cứ Không quân Hoàng gia Canada. Vào chiều ngày 09 tháng 06 năm 1959 Truscott đang đạp xe đạp loanh quanh gần trường thì một bạn gái là Lynne Harper, 12 tuổi nhờ chở giùm ra xa lộ. Lynne là con gái của một sĩ quan tại căn cứ Clinton. Steven chở Lynne qua chiếc cầu nhỏ bác ngang sông và có người trông thấy và sau đó cũng có người thấy cậu ta lại đạp xe trở về một mình. Lynne mất tích từ đấy. Hỏi Steven thì cậu ta đáp chỉ chở cô bạn gái ra Xa lộ 8 vì cô ta muốn ra xa lộ để đón xe đến nhà người quen. Cậu còn cho biết, Lynne lên một chiếc xe, có lẽ là chiếc ’59 Chev. Cảnh sát và cả cộng đồng đi tìm cô gái nhưng không thấy. Mãi hai ngày sau, ngày 11-06, người ta mới phát giác ra thi thể của Lynne trong tình trạng thối rữa trong một khu cây cối um tùm có tên là Farmer Lawson’s Bush. Nạn nhân có dấu vết bị hãm hiếp và thắt cổ cho đến chết. Thế là Steven Truscott trở thành nghi can số một và bị bắt và truy tố ra tòa ngay sau đó. Mặc dù cậu bé vị thành niên khi ra tòa đã kêu oan nhưng dư luận và cảnh sát cứ cột vào cổ cậu là hung thủ giết người.
Công tố viên trong vụ xử cho rằng Truscott đã lừa Lynne vào trong bụi cây, sau khi hãm hiếp nạn nhân đã giết Lynne vào khoảng từ 7:15 tới 7:45 đêm thứ ba 09 tháng 06.

Truscott lãnh bản án tử hình vào ngày 30 tháng 09, 1959 nhưng vì còn quá nhỏ so với bản án quá nặng, nên sau đó bản án được đổi thành chung thân. Truscott ngồi tù và được hưởng chế độ khoan hồng tại ngoại có điều kiện vào năm 1969.
Truscott cả chục năm sau đó, nhờ được Hội Bênh Vực Những Người Bị Án Oan (Association in Defence of the Wrongly Convicted hay AIDWYC) lên tiếng nên mới có một phiên tòa công minh hơn dành cho mình. Vì trước kia, có những chứng cớ có lợi cho việc chứng tỏ Truscott có thể vô tội đã bị cảnh sát điều tra không biết vì lý do gì đã gìm đi. Ngoài ra, phiên xử cũ không xác định rõ thời gian tử vong của Lynne, vì nếu xác định Lynne bị giết, không phải là ngày 09 mà là 10, thì lúc đó Truscott đang ở trường học sao có thể gây tội ác?

Cuối cùng được chính quyền liên bang ưng thuận ủy thác cho Tòa Thượng Thẩm Ontario xét lại nội vụ. Tòa đã truyền khai quật tử thi của Lynne để tìm chứng cớ nhưng thời gian quá lâu, nắm xương tàn của cô gái nhỏ chẳng còn gì đủ để có quyết định mới. Tuy nhiên, một số dữ liệu liên quan đến vụ án vẫn còn nên dàn bênh vực cho Truscott vẫn hy vọng có đủ khả năng thuyết phục tòa hủy bỏ bản án cũ.
Lần này chứng cớ để minh oan cho nạn nhân lại là giòi bọ làm tổ trên xác chết và kẻ ra tòa làm chứng quan trọng nhất là các chuyên viên côn trùng học. Tại sao? vì chỉ cần căn cứ vào tình trạng giòi bọ do các loại nhặng (blowfly) đẻ ra, sinh sôi nảy nở trên xác chết các chuyên viên côn trùng có thể xác định nạn nhân chết từ lúc nào và kết luận của họ có khả năng minh oan cho Truscott hay lên án Truscott.

Bước sang tuần thứ hai của vụ xử lại, Phe bênh vực cho Truscott muốn chứng minh rằng có chứng cớ chứng tỏ Lynne bị giết vào ngày thứ tư 10 tháng 06 và nếu như thế thì Steven vô tội vì cả ngày hôm đó Truscott có mặt ở nhà trường.
Người thứ nhất khai có lợi cho Truscott là Bs. Michael Pollanen, lúc đó là trưởng ngành bệnh lý pháp y của Ontario. Ông nay khai trước tòa rằng Lynne có thể bị giết vào chiều ngày 10-06 chứ không phải ngày thứ ba 09-06 như giả thuyết của công tố viện trong phiên kết án tử hình Truscott năm 1959.

Nhân chứng khác của phe bênh vực là Elgin Brown, một nhà sinh vật học chuyên về pháp y. Elgin Brown, năm đó 84, từng làm việc trong phòng xét nghiệm hình sự cho biện lý cuộc Ontario vào thời gian xảy ra án mạng, đã đưa ra bằng chứng và lý luận.
Brown cho biết vào lúc 12:15 chiều 12 tháng 06, 59, cảnh sát viên Harry Sayeau của phân khu cảnh sát tỉnh bang đóng ở Goderich tới phòng thí nghiệm ở Toronto với một số “vật” lấy từ tử thi kẻ bị giết và nhờ phân tích.

Brown khai rằng ông đã nhận hai bình đựng giòi và ấu trùng và ông nghĩ tới cách nuôi chúng cho lớn để xem chúng thuộc loại nào. Ông đã cho chúng thực phẩm và theo dõi chúng và sau đó lấy mẫu và giữ lại làm tài liệu. Khi ấy Brown đã đo các con giòi và thấy chúng có cỡ vào khoảng từ một phần mười sáu tới một phần tư “inch” hay theo đơn vị ngày nay thì con lớn nhất vào khoảng 6 mm. Ông cũng cho biết đã tham khảo ý kiến về vấn đề này với nhiều giáo sư và học giả trong nghề tại đại học canh nông Ontario ở Guelph cùng các nhà khoa học khác, kể cả một tác giả có danh về khoa côn trùng học.

Dựa vào quan sát, kiến thức, Brown kết luận những con giòi này còn ở giai đoạn phát triển đầu và có lẽ do trứng nở ra vào khoảng thời gian 2:30 chiều ngày 10 tháng 06, 1959. Những ghi chú của ông trong phòng thí nghiệm khi ấy cho rằng trứng của côn trùng đã đẻ vào buổi sáng hôm đó (tức 10-06) vì nhặng không đẻ trứng ban đêm. Một cách gián tiếp Brown đã xác định thời gian Lynne bị giết vào ngày thứ tư (10-06) chứ không vào ngày thức ba (09-06) và Steven Truscott vô tội vì có bằng chứng không có mặt tại hiện trường.
Công tố viện có hỏi tại sao lúc đó Brown không khai với cảnh sát những điều ông tìm thấy, thì Brown cho biết vì cảnh sát không hỏi ý kiến ông, Cho tới mãi năm, 2005, họ mới đặt nghi vấn về vấn đề này.

Brown cho biết thêm, đám ấu trùng, tìm thấy trong cơ thể của Lynne khi xác còn nằm ở Lawson’s Bush và được nuôi trong phòng thí nghiệm và khi chúng lớn lên, ông đã rõ chân tướng của chúng: chúng thuộc loại nhặng xanh lam (bluebottle blowflies). Còn giòi lấy ra từ cơ thể của Lynne khi giải phẫu tử thi lại thuộc loại nhặng khác chúng là nhặng nâu (flesh flies) khoang ngực. Nhặng nâu có mắt đỏ, sọc ở ngực và tua có lông. Brown kết luận bầy nhặng đã bu lấy xác chết vào ngày 10 khi nạn nhân vừa tắt thở.

Nhân chứng của công tố viện lại có ý kiến khác. Ông này là Tiến sĩ Neal Haskell. Haskell là một nhà côn trùng học pháp y của đại học Purdue ở Indiana, đã nổi tiiếng trong hàng trăm vụ ra làm chứng với tư cách chuyên viên côn trùng, cho tòa biết vào ngày 26-06-2006, rằng nhặng cái (blowflies) bắt đầu đẻ trứng vào xác của Lynne trước khi mặt trời lặn ngày ngày 09 tháng 06, 1959 vào lúc từ 9: 00 tới 9:30 tối. Haskell lập luận cái chết của nạn nhân có thể xảy ra từ một số phút cho tới vài tiếng đồng hồ trước khi bầy nhặng cái bu lại rất nhanh và tìm nơi đẻ trứng và Haskell bác giả thuyết của Brown là nhặng đẻ trứng sáng thứ tư. Haskell cho biết sau khi quan sát những tấm hình chụp còn giữ lại khi khám nghiệm tử thi nạn nhân, dù chỉ là loại trắng đen, và bằng các phương pháp pháp y tối tân nhất, kết hợp với điều kiện thời tiết khi xảy ra vụ án, ông tìm ra có dấu vết đặc biệt của loại nhăng xanh lá cây “greenbottle blowflies” bậu trên tử thi kẻ thiệt mạng và cho rằng các con giòi làm tổ nơi tử thi đã ở trong trạng phát triển thứ hai chứ không phải ở thời kỳ đầu như Brown tin tưởng. Haskell kết luận nhặng đã đẻ trứng vào cơ thể của Lynne vào ngày 09 hơn là vào ngày 10. Hơn nữa, Haskell cho rằng, nếu những con giòi trên cơ thể của nạn nhân thực sự thuộc loại nhặng xanh lam “bluebottle blowflies” thì nạn nhân chết sớm hơn nữa trong ngày 09 vì chúng cần phải thời gian lâu hơn so với greenbottle flies mới bâu lại.
Chính những ý kiến mâu thuẫn về việc xác định thời điểm tử vong của nạn nhân đã giúp thêm lý do Truscott được minh oan
Năm 2008, Truscott được chính quyền Ontario bồi thường 6.,5 triệu gia kim và dưỡng già ở Guelph.Tuy nhiên, việc bồi thường thiệt hại cho kẻ lãnh án một cách không công bình có khi vì động cơ chính trị nên bị dư luận bàn tán.

Đó là vụ Omar Khadr được chính quyền Canada bồi thường 10, 5 triệu vì bị tù ờ nhà tù Mỹ Guantanamo Bay trong 10 năm.
Được biêt Omar Khadr, sinh 1986, là dân Toronto nhưng theo cha, một phụ tá của Osama bin Laden, về Afghanistan từ nhỏ. Trong một cuộc truy kích của Biệt kích Mỹ vào một sào huyệt của khủng bố ở Afghanistan, Omar Khadr, lúc đó 15 tuổi, bị bắt và giải về Mỹ với tội ném lựu đạn khiến một binh sĩ Mỹ tử thương nên lãnh án tù. Từ 16 tuổi, sau mười năm nằm khám, Omar được trả về Canada và đã nộp đơn đòi chính quyền Canada phải bồi thường thiệt hại với hai lý do: không bênh vực quyền lợi của một công dân bị án oan ở nước ngoài và không bảo vệ quyền của một thiếu niên Canada theo đúng tinh thần của Hiến chương.

Nhưng dư luận không hoàn toàn đồng ý khi chính quyền đương nhiệm trả một món tiền quá lớn cho một “nạn nhân” có lý lịch bất minh vì bị ngờ là có dính líu tới tổ chức khủng bố Al- Qaeda.

Chu Nguyễn

Comments are closed.

error: Content is protected !!