Cồn Hến

Bài – ảnh: Trần Công Nhung

 

Nhiều người có nhận xét: tiếng Việt đơn âm rõ ràng, không khó phát âm, không nuốt âm, không hãm âm. Khi cần thì cứ đặt chữ mới, hoặc mượn chữ người mà dùng(1). Mộc mạc, dân dã, là tên đồ vật, tên nơi chốn: lịp=nón lá, trôốc=đầu, trôốc cúi= đầu gối (vùng Quảng Bình); bổ=ngã, té, thơng thơng= nhè nhẹ, cảy=rất, xấu cảy= rất xấu (vùng Thừa Thiên); phần đất nổi lên giữa biển, lớn là đảo, nhỏ là hòn (đảo Bé, hòn Ðụn), nhưng trong sông thì gọi cồn: Cồn Dê (Nha Trang), cồn Phụng (Tiền Giang), cồn Dã Viên, cồn Hến, cồn Tè (Huế).

Nếu kẽ một trục thẳng đứng từ cầu Bạch Hổ về Thuận An thì cồn Dã Viên nằm đầu trên – cồn Hến ở điểm trung tâm – cồn Tè cuối cùng.

Trong ba cồn, cồn Hến là phần đất được hình thành từ nhiều trăm năm trước do dòng chảy của Hương giang bồi dần. Trước khi đi thăm Cồn Hến, thử xem qua tài liệu xưa nay nói về Cồn Hến ra sao.

Cồn Hến có hình dài theo hướng Ðông Tây, gần như chính giữa dòng sông. Khởi nguồn chỉ là bãi đất bồi, qua thời gian, Cồn Hến trở thành cồn, một vùng đất cao, cây cối phát sinh, chim muông kéo về trú ngụ, cá tôm sinh sản. Cũng bởi cồn do bồi lấp mà thành nên về sau có tên là làng Bồi Thành, diện tích 26,4ha (2).

Lúc vua Gia Long xây dựng kinh thành (1803) theo thuật phong thuỷ, Cồn Hến là yếu tố Thanh Long (Rồng xanh) – nằm bên trái, trước Kinh thành cùng với cồn Dã Viên là yếu tố Bạch Hổ (cọp trắng), nằm bên phải, tạo thành thế Hữu Bạch Hổ Tả Thanh Long với ý nghĩa đôi Linh vật chầu hai bên tả hữu Hoàng thành.

8 xã trong phạm vi nội thành phải di dời. Nhà vua cấp tiền cho dân mua đất hoặc trưng đất lập xã mới. Cồn Hến được chọn là nơi tái định cư dân xã Phú Xuân. Lần đầu tiên trong lịch sử, dân họ Trần, Lê và Nguyễn được chuyển đến sống chung ở Cồn Hến.

Sau khi có người sinh sống ở Cồn Hến, mọi thứ nơi đây trở nên sôi động hơn. Cư dân đêm đi soi cá ngày cào hến, xúc tôm cua. Ðó là cách họ sinh sống trên Cồn Hến lúc bấy giờ. Hiện nay, Cồn Hến có khoảng 700 gia đình, 5000 dân thuộc phường Vỹ Dạ, thành phố Huế. Người dân nơi đây nói rằng ngày xưa, hến là đặc sản tiến vua vào mỗi dịp lễ, Tết. Ðời vua Thiệu Trị, hến được người dân đem bán quanh nội thành và trở thành món ăn nhiều người ưa thích. Một hôm, đầu bếp đã làm dâng vua một món ăn khác lạ. Vua Thiệu Trị nếm thử, khen ngon, hỏi về lai lịch món này, nhà bếp tâu rằng, do dân Cồn Hến làm ra.

Ngạc nhiên về món ăn đặc biệt, vua lệnh cho lính đưa ông ra du ngoạn Cồn Hến. Từ đó, Vua cũng có những ưu tiên đặc biệt cho người dân sinh sống ở đây, đồng thời khuyến khích người dân bắt hến để dùng trong các bữa ăn như là đặc sản của đất kinh thành. Từ đó, hến là món ăn thường xuyên trong bữa ăn hàng ngày của các bậc vua chúa và quần thần nội cung.

Biết việc cào, bắt hến vô cùng cực nhọc, nhà vua đã có chỉ dụ miễn thuế cho nghề cào hến. Ðây cũng là một trong những nghề hiếm hoi không phải nạp thuế cho triều đình thời bấy giờ.

Cồn Hến trong dân gian còn có giai thoại: chuyện tình của đôi nam nữ thuộc dòng dõi vua chúa đã khai sinh ra xứ (cồn) tình yêu.

Xưa kia Cồn Hến không một bóng người, chỉ có cây cối um tùm, muông thú sinh sản. Bỗng một ngày kia, bà chúa Hoàng (người ở xã Diên Ðại, huyện Phú Vang) du ngoạn trên sông Hương, phát hiện giữa sông một cồn cát tuyệt đẹp, phong cảnh nên thơ, bà liền ghé vào vãn cảnh. Mê cảnh hữu tình bà thường đến cồn dạo chơi. Về sau bà kết hôn với một người họ Nguyễn, thời chúa Nguyễn Phúc Khoát (1725-1738) xây dựng phủ chúa ở Phú Xuân. Nhưng do bị ám ảnh bởi vẻ đẹp thơ mộng của xứ thần tiên giữa sông nước, nên hai vợ chồng quyết định đến dựng chòi trên cồn cát này sinh sống. Không có sách sử nào ghi cuộc sống của hai vợ chồng này cuối đời ra sao, nhưng dân gian truyền rằng, ban đầu họ sống với chim muông, lấy thức ăn từ sông. Họ trồng rau, quả để dùng hàng ngày. Họ sinh con và sống hạnh phúc với nhau đến đầu bạc răng long. Ðó là người đầu tiên khai khẩn Cồn Hến.

Theo sử thì có một nhân vật khác khai canh Cồn Hến. Vào thời chúa Nguyễn Phúc Khoát (1725-1738), có ông Huỳnh Tương (xã Diên Ðại, Phú Vang) được coi là người đầu tiên đến dựng chòi ở làm nghề cào hến. Qua thời Gia Long (1802-1820), phường Giang Hến, thuộc xã Phú Xuân ra đời trên “xứ cồn cạn”. Tên Cồn Hến bắt đầu từ đó.

Thăm Cồn Hến không khó, từ trung tâm thành phố Huế theo đường Lê Lợi về Vỹ Dạ qua đập đá là đường Nguyễn Sinh Cung (Thuận An cũ), đến đầu chợ Vỹ Dạ rẽ trái qua cầu Phú Lưu là vô Cồn Hến. Cầu này có trước 75, cầu hẹp chừng 3m, vài cầu, thành cầu bằng sắt, mặt cầu lót ván, nay đã đổ xi măng. Từ cầu chạy thẳng đường xuống là bến đò ngang, đò qua bờ bên kia, khu phố cổ Chi Lăng. Ngày nay, bên kia bờ là một làng thuyền Rồng đậu san sát để phục vụ khách ăn nhậu. Con đường mới mở dọc bờ sông, đường Trịnh Công Sơn, từ cầu Gia Hội về bến đò Cồn, như là một công viên (hoa lá cành), nhưng người dân trưng dụng dọn bàn ghế bán giải khát. Khách sang thì đặt món rồi xuống thuyền Rồng.

Cồn Hến chỉ có con đường lớn độc nhất mang tên nhà thơ tiền chiến Ưng Bình (3), những đường còn lại đều là Kiệt.

Mặc dù có diện tích không lớn, nhưng Cồn Hến có nhiều cơ sở tín ngưỡng – tâm linh: đình làng, miếu thờ Mẫu, Âm Linh Tự, chùa Thầy, chùa Cô và nhà thờ Tân Thủy.

Ðường Ưng Bình là đường chính chia đôi Cồn Hến theo chiều ngang. Những con đường nhỏ khác: dọc, ngang nối với trục đường chính qua các xóm gọi là kiệt (ngõ) mang số thứ tự: kiệt 1, kiệt 2 …

Ðầu đường Ưng Bình có kiệt 12, rẽ vào chùa Pháp Hải. Ðối với một địa phương 700 dân, chùa Pháp Hải là khá lớn. Chùa mái hai tầng, lợp ngói liệt. Chánh điện ba gian cửa gỗ bàn khoa. Chùa đang xây thêm tòa nhà 2 tầng bên cánh phải, theo mô hình dựng trước thềm chùa, có lẽ đây là trường học hoặc nơi vãng lai, tạm trú cho Tăng Ni hoặc bá tánh nơi xa về thăm chùa. Chùa Pháp Hải còn có tên “chùa Thầy” gọi theo kiểu dân gian, chùa dành cho chư Tăng.

Trước cổng có hồ rộng bằng mặt tiền của chùa nhưng khô nước. Bên kia hồ có vườn tượng Bồ Tát Quán Thế Âm đang chỉnh trang. Tượng Bồ Tát cao trên 3m dựng trên tòa sen và đế xây lục giác cao trên 2m. Chân đế có câu chữ Hán:

“Khổ hải thường tác độ nhân chu”

(Bể khổ thường tạo ra chiếc thuyền để cứu giúp người)

Chùa trước kia gọi là Diệu Minh, do ngài Trí Uyên, tự là Ðạo Nguyên lập ra năm 1932. Thầy Trí Uyên là đệ tử chùa Trà Am. Năm 1964 thầy Ðức Tâm cùng với Phật tử Bồi Thành đã tôn tạo và đổi tên thành chùa Pháp Hải. Thầy Ðức Tâm cùng với đệ tử của ngài Trí Thủ, thuộc dòng thiền Liễu Quán đời thứ 10. Thầy là một trong những vị sáng lập Gia Ðình Phật tử Hoá Phổ, và là thư ký của nguyệt san Liên Hoa. Năm 1954 thầy là trụ trì chùa Diệu Ðế. Thầy được Bổn sư trao kệ đắc pháp năm 1973. Thầy viên tịch năm 1988.

Ðường Ưng Bình xuống bến đò có ba miếu lớn nhỏ liên tiếp, không rõ thờ ai. Tôi hỏi bà già bán hàng bên đường, bà đưa tay chỉ: “cấy nớ Ðình Làng, cấy ni Miếu thờ Mẫu, cấy tê Âm Linh Tự”. Ðơn giản thế thôi, bà còn lo cho mấy cậu học trò trường Phú Lưu đang bu quanh.

Ðình làng có 2 cổng, cổng ngoài bỏ ngõ, trong sân trồng nhiều cây soan (sầu đông), cổng trong xây trụ cao có xà ngang đắp mái giả, có lưỡng long tranh châu. Hai trụ cổng có 2 câu đối chữ Hán. Trong cổng là bình phong nhỏ hoa văn sơ sài. Sân trong của đình để trống, bên góc trái có cây sanh lâu năm rủ bóng. Ðình một gian hai chái, cửa bàn khoa khóa kín, vắng người. Trái với cổng, nội ngoại thất của đình, trang trí rất đơn sơ. Bên trong đình, khám thờ đều xây bệ, gian giữa, phía trước bệ cao, có bát nhang, chân đèn, bình hoa, chén nước, tương đối đầy đủ trang nghiêm. Sát vách trong, cũng 3 bệ thờ, bệ gian giữa cao hơn bệ ở hai chái, nhưng đồ tế tự thì khiêm nhường hơn. Vẻ lạnh lẽo của quang cảnh chung, cho thấy đã lâu lắm đình không có lễ lạc gì và cũng không ai thăm chừng hương khói, khác với chùa.

Cạnh đình là miếu thờ Mẫu, cảnh còn hoang vắng hơn. Ngoài ngôi miếu chính còn 3 am nhỏ trước sân, không hương khói, dấu bụi thời gian phủ gần nửa chân tường. Chẳng bù với lối thờ Mẫu xứ Bắc, nơi đâu cũng sáng sủa trang trọng.

Kế bên là Âm Linh Tự, cũng nằm trong khuôn viên riêng có tường xây, đơn giản và nhỏ hơn. Miếu xây có mái tuy nhiên bệ thờ sơ sài và bốn bên vách trống.

Xuống bến đò, không thấy ai đợi đò qua sông, chỉ có hai cô nữ sinh áo trắng đứng ngắm cảnh, tôi nhờ làm mẫu bấm tấm hình. Hỏi ra, bến nay chỉ để giặt rửa, “năm thì mười họa” mới có người thuê đò sang ngang, hoặc ghe thuyền Quảng Trị vô bán hến. Dọc bờ sông, nhà nào cũng che một túp lều làm nhà kho chứa đồ linh tinh, tệ hại nhất là rác rến bừa bãi đổ từ trên bờ xuống sông, rất mất vệ sinh. Nghĩ thật phí, trước mặt nhà nào cũng có lũy tre, có bến sông, tại sao không dựng một nhà sàn cạnh bến để hưởng gió mát, ngắm trăng thanh, nhất là những ngày hè oi bức! Ðến cuối đường, có hai cô giặt đồ dưới bến, xa xa hai người đang xúc hến, cảnh thanh nhàn và đẹp dân dã. Một người đàn ông vác cần câu đi tới, thấy tôi mang máy ảnh là “ca” ngay bài “sao mà khổ”. “Khổ quá chú ơi, không có chi làm, câu bậy vài con cá nấu canh, chớ có sướng chi mô”.

Trần Công Nhung

 

(1) Suốt nhiều thời kỳ lệ thuộc Tàu chúng ta có nhiều chữ Hán nôm, Hán Việt. Qua thời Pháp thuộc, có thêm lít, kí lô, soong, ô tô…nhưng qua đến thời cs thì vấn đề chữ nghĩa trở thành nhũng loạn, tùy tiện, áp đặt…rất nhiều cây bút trong và ngoài nước đã báo động tình trạng này, tuy nhiên vấn đề vẫn ngày càng trầm trọng. Ngay các nhà “lãnh đạo” còn phát biểu một cách “tự sướng”: Ðề thi đại học năm nay phải được phân hóa (giáo dục) “…anh em lãnh đạo có hơi tâm tư ”(Viễn thông)

(2) Có tài liệu ghi 30ha.

(3) Ưng Bình (1877-1961) là một danh sĩ cuối thời Nguyễn, cũng là một nhà thơ tiền chiến. Ưng Bình tên đầy đủ là Nguyễn Phúc Ưng Bình, là hoàng thân nhà Nguyễn, sinh tại Vỹ Dạ

 

h7 h3 h6

More Stories...