Thời Báo Vietnamese Newspaper

Con Đường Xưa

BS Huỳnh Công Toàn

1.
Trời đã rất khuya, có lẽ gần mười hai giờ, ánh trăng màu trắng đục như sữa rải xuống những đồi chè miên man.
Vắng lặng!
Đêm có những âm thanh riêng, đó là tiếng côn trùng, tiếng ù ù liên tục, tiếng sột soạt của một con thú nhỏ đi ăn đêm, tiếng tắc kè, thỉnh thoảng là tiếng một chiếc lá rơi, rất khẽ.
Một đêm trăng thật đẹp, con đường tôi đi qua đẹp lung linh dưới ánh trăng non mười bốn. Tôi đã từng đi qua con đường này nhiều lần nhưng chưa bao giờ tôi thấy con đường đẹp tuyệt vời như đêm nay. Con đường chạy xuyên qua những đồi chè xanh ngút ngàn, hai bên đường là hàng thông cổ thụ, những cây thông to lớn vươn cao trên bầu trời sáng ánh trăng.

Đó cũng là đêm tôi bước sang tuổi mười sáu. Mười sáu tuổi, tôi không còn là trẻ con, nhưng cũng chưa phải là người lớn. Mới năm ngoái thôi tôi vẫn còn thích những trò chơi trẻ con như tắm mưa, bắn bi, thả diều… nhưng những tháng gần đây dần dần những trò chơi ấy trở nên chán ngắt. Hình như trong tâm hồn tôi đã có những đổi thay, tôi ít “vô tư” hơn trước, tôi bắt đầu có những suy nghĩ người lớn, những ước mơ tương lai, bắt đầu có những cảm nhận về cái đẹp: một đêm trăng đẹp, một bài thơ hay, một chuyện tình tuổi học trò hoặc nụ cười của người bạn gái mới lớn.
Năm lớp chín vừa qua tôi đã có nhiều cố gắng và đạt thứ hạng cũng khá trong lớp, được nghỉ ba tháng hè nên ngày dài trước mắt là những ngày rong chơi thanh thản.

Một đêm trăng đẹp tuyệt vời như thế dại gì không rong chơi, nghĩ thế nên tôi không vội đến chùa, thuốc thì mai chú Quán mới cần, tôi phải vui chơi trên con đường này suốt đêm không ngủ. Nghĩ là làm, tôi dang hai tay, chạy loăng quăng trên con đường vắng và sắp sửa hét vang.

Tiếng nước chảy ngăn tôi lại, tôi ngừng bước, ngạc nhiên. Tôi đã đi khắp những đồi chè này suốt nhiều năm qua nên biết từng ngõ ngách. Giữa đồi chè, chỉ đi vào chừng trăm mét sẽ gặp một cái giếng cổ, nằm kín đáo giữa những cây chè xanh tốt, giếng được đào từ khi đồi chè được trồng, có lẽ để lấy nước tưới, nước giếng rất trong, mát vào ban ngày và ấm vào ban đêm. Tôi vẫn thường ra chiếc giếng cổ này, dội từng gàu nước mát rượi sau những buổi rượt đuổi hò hét khan cả cổ với những đứa bạn trong làng.

Tôi tò mò đi sâu vào vườn chè hướng về chiếc giếng cổ, tiếng nước chảy mỗi lúc nghe một rõ, và tôi chợt đứng sững lại. Trong ánh trăng loang loáng nước là bóng của một người con gái, một cô gái thật đẹp đang tắm dưới trăng.
Một cô gái? Hay đó chỉ là ảo ảnh, đó chỉ là ánh trăng kết tinh lại mà thành? Rồi tôi lại nghĩ đó là một nàng tiên, lung linh và huyền ảo trong những câu chuyện cổ tích, một nàng tiên rong chơi chốn hồng trần, ghé lại vườn chè, tắm dưới trăng, một chốc sau lại gắn lên mình đôi cánh và nhẹ nhàng bay về trời.

Nép vào một gốc chè lớn, nền đất nơi này cao hơn nhiều so với cái giếng cổ, tôi ngồi bệt xuống, duỗi dài hai chân, quay lưng và nhắm mắt lại. Tôi không dám cử động, không dám thở mạnh vì tôi nghĩ có thể chỉ một tiếng động nhỏ thôi những hình ảnh đó sẽ tan biến vào ánh trăng huyền ảo

Tiếng nước chảy chợt ngừng, một lúc sau tôi xoay người lại, nàng tiên sắp cài lên lưng đôi cánh, sửa soạn bay về trời? Không! Nàng tiên quay mặt về phía tôi, mở to đôi mắt đen lay láy, ngước nhìn trăng, trong đôi mắt đó tôi thấy rõ bóng của hai ánh trăng khác, nhỏ nhưng sáng hơn.
Rất thong thả nàng tiên quay lưng đi ra phía con đường, tôi nhìn theo, nàng tiên đi về hướng ngược với hướng tôi vừa đến, dáng khoan thai nhẹ nhàng giữa những hàng thông. Vừa đi nàng tiên vừa xổ mái tóc nãy giờ quấn gọn trên đầu, một lần nữa tôi lại sững sờ khi nhìn thấy mái tóc huyền phủ kín quá mông.

Tôi cứ ngồi yên như thế cho đến khi chắc chắn là không bị phát hiện, tim hết đập thình thịch rồi mới quay lưng chạy như bay về phía cuối con đường, nơi có ngôi chùa nhỏ nằm giữa những đồi chè.

Tiếng chuông chùa thong thả điểm từng thanh âm trong trẻo, đây là những tiếng chuông cuối cùng trong ngày, sáng mai đúng năm rưỡi sáng, một hồi chuông khác đón chào buổi sớm mai.

Chú Thuyên đón tôi vào chùa, đưa tôi đến nhà trai ở mé trái Phật đường, Sư Thầy vẫn chưa ngủ, tôi chào thầy rồi nói:
– Dạ! Mẹ con bảo con mang thuốc đến cho chú Quán, để sớm mai chú dùng.
– Lúc nãy mẹ con có gọi điện cho thầy. Chú Quán vừa dứt cơn sốt, tội nghiệp, ba hôm nay đêm nào cũng sốt. Thầy cũng bảo mẹ con xin cho con ở lại chùa rồi.

Mẹ tôi là y sỹ làm việc ở trạm y tế xã, cha mẹ tôi quy y ở ngôi chùa này, với chúng tôi thì ngôi chùa cổ này là ngôi nhà tâm linh và quý thầy ở đây cũng xem chúng tôi như những người thân.
Chú Quán đã dứt cơn sốt, chỉ còn mệt, những cơn sốt rét đã làm sức khỏe chú giảm sút nhiều, tôi nâng chú dậy, cho chú uống thêm mấy viên thuốc bổ, lòng rưng rưng thương chú không biết để đâu cho hết.
Chuyện vừa qua làm tôi thấy tội lỗi, cảm giác phạm tội mỗi lúc mỗi lớn, lẽ ra tôi đừng tò mò, đừng rong chơi dưới trăng, lẽ ra tôi nên chạy một mạch đến chùa, nếu vậy thì những điều đó đã không xãy ra.

Tôi phải thành tâm sám hối tội lỗi của mình, nghĩ thế nên tôi se sẻ đi lên chánh điện, ở đó đèn sáng suốt đêm, những ngọn đèn điện nhỏ quanh những ngai thờ tạo không khí yên tĩnh bình an. Tôi đến quỳ trước ngai thờ thành tâm sám hối. Một lúc sau, khi bình tâm trở lại, tôi nhẹ nhàng đứng lên.

Sư Thầy đứng sau lưng tôi, có lẽ thầy đứng nhìn tôi như vậy đã lâu:
-Hình như con đang muốn sám hối một điều gì?
-Bạch thầy! Con vô tình nhìn thấy những điều không nên thấy, đó có phải là tội lỗi không?
-Nếu vô tình thì không có tội con ạ!
Ngừng một chút thầy nói tiếp
-Nhưng vô tình mà cứ để mãi trong lòng rồi nảy sinh tà tâm thì đó là tội lỗi đó con.
Tôi thở phào nhẹ nhỏm vì lòng tôi không một chút vẩn đục, thậm chí tôi xem đó là những điều thần tiên, huyền hoặc mà tôi sẽ cất dấu mãi suốt đời.

Có lẽ ít nhiều hiểu được tôi, thầy nói:
-Nhìn con thầy biết, con không có lỗi. Tâm thiện nó biểu hiện lên khuôn mặt con ạ! Thôi con xuống ngủ đi, thầy đã chuẩn bị cho con chiếc giường cạnh giường chú Quán rồi.
Tôi vào phòng, chú Quán vẫn chưa ngủ, nghe tiếng rên tôi đoán chú còn mệt lắm, tôi pha cho chú ly sữa, cố ép chú uống hết. Khi chú uống xong, rót cho chú tách trà rồi tôi mang ly xuống bếp rửa.
Khi tôi trở lên thì chú Quán đã ngủ say, tiếng thở đều giúp tôi yên tâm, tôi lặng lẽ về giường của mình, đắp tấm chăn mỏng và qua đêm không mộng mị.

Tiếng chuông chùa chậm rãi, tiếng chổi quét ở sân trước đánh thức tôi. Nhìn sang bên, giường chú Quán trống trơn, tiếng chuông vẫn đổ đều, vậy thì tiếng chổi tre trước trai đường là do chú Quán rồi. Đặt gói thuốc chú Quán phải uống buổi sáng trên bàn, tôi vội vàng chạy ra, dành lấy chiếc chổi trên tay chú.
-Chú để em quét, chú vào uống thuốc đi, thuốc em để trên sẵn trên bàn, uống hết cả gói chú nhé.
Chừng như cũng khá mệt, chú Quán trao chổi cho tôi rồi trở lại phòng.
Tôi nhẹ nhàng chậm rãi đưa những nhát quét, lá khô, hoa tím bằng lăng và cả những cánh hoa phượng vỹ rơi rụng từ bên kia đường bay sang làm khoảng sân có màu sắc thật vui mắt.

2.
“Năm lớp mười là năm học khó khăn, đó là năm bản lề giữa trung học đệ nhất cấp và trung học đệ nhị cấp”, mẹ tôi bảo vậy nên tôi rất lo, chỉ còn ba năm nữa là thi đại học rồi, vì thế tôi chỉ nghỉ ngơi mười ngày rồi ôm sách vở vào chùa học.
Mỗi dịp hè tôi thường mang sách vở vào chùa, học ở chùa rất thoải mái, vừa học vừa chơi, vừa thơ thẩn trong vườn chùa, ngắm nhìn những chú chim chích nhảy nhót hót vang, những cánh hoa rung rinh trong nắng. Mỗi sáng tôi mang túi xách trên vai, chào mọi người, chiều tôi lại về nhà đi bộ qua con đường dưới những hàng thông cổ thụ. Trưa tôi cùng qua đường* với chú Quán và chú Thuyên. Sư Thầy qua đường ở nhà trên. Thỉnh thoảng tôi ngừng học làm những việc nhỏ trong chùa như chẻ củi, nấu nước, quét sân.

Và rồi tôi gặp chị!

Đó là một buổi sáng trong veo, mây đen trên bầu trời bị cơn mưa lớn trong đêm quét sạch. Những hàng thông như xanh tốt hơn dù nước mưa vẫn còn đọng trên kẽ lá và rơi tí tách xuống vệ đường. Tôi và chú Quán khơi lại mấy chỗ nước đọng trước cổng chùa và …tôi nhìn thấy chị. Dáng đi ấy, mái tóc ấy không thể lẫn với người khác được. Trong chiếc quần tây đen, chiếc áo sơ mi trắng, chiếc túi vải màu lam, chị đi thắng đến trước mặt chú Quán và bảo:
– Bạch thầy! Con có thể xin vào vườn sau chùa ôn bài được không ạ!

Chú Quán trả lời:
-Mô Phật! Xin chị gọi tôi là chú thôi, Thầy tôi đang ở trong chùa. Nhưng chị đừng lo, chùa là của khách thập phương, chị có thể ở lại suốt ngày để học, vườn sau chùa rộng và mát lắm. Mỗi dịp hè cũng thường có các em học sinh đến đây nghỉ ngơi và ôn bài.
Rồi chú chỉ vào tôi:
-Em Hiếu cũng vào chùa ôn bài nè, thế là hai chị em có thể cùng học rồi.
Nét vui mừng hiện rõ trên khuôn mặt, chị vội cảm ơn chú Quán rồi quay lại, đặt tay trên vai tôi hỏi:
-Em tên Hiếu hả! Em học lớp mấy rồi?

-Dạ! Em học lớp chín, năm này lên lớp mười. Em học trước chương trình lớp mười vì nghe nói lớp mười rất khó.
-Cũng không khó đâu em, nhất là với người chăm học như em.
Rồi chị giới thiệu về mình:
-Chị tên Thảo, chị học sư phạm năm cuối. Tháng chín này chị thi tốt nghiệp rồi mà bài vở còn nhiều.
-Vậy hai chị em mình cùng học nghe, có chị em vui lắm.
-Chị cũng vậy! Bắt đầu sáng mai học nhé.
-Dạ! Giờ mời chị vào chùa thắp nhang và đi xem một vòng quanh chùa. Chị vào thăm Sư Thầy luôn nhé! Sư Thầy thương em lắm.

Thế là tôi được cùng học với chị, ít nhất là hơn hai tháng hè còn lại. Cô tiên của tôi trên đồi chè đêm nào không phải là ánh trăng, không phải là ảo ảnh. Chị là tiên, vì trót đánh rơi chén ngọc nên bị đày xuống phàm trần và đến đây kết bạn với em, có phải thế không? Chị Thảo.
Nhà chị Thảo ở khá xa, nhưng chị có người dì ở xóm nhà đầu con đường. Mỗi sáng chị đạp xe đến đó rồi thong thả đi qua con đường này.

Vườn sau chùa rất rộng và hơi xa chánh điện, những cây cổ thụ chen lẫn với những cây thông, cây tùng cao vút, một cậy phượng ở đầu vườn, kế đó là hai câu bằng lăng nở hoa tím, cuối vườn là hai cây hoàng yến nở hoa vàng suốt mùa hạ. Những con đường nhỏ bằng xi măng chia khu vườn thành những ô lớn trồng cỏ xanh non, những chậu cây xương rồng bát tiên, hồng, hồng tỷ muội… đặt rải rác khắp vườn. Khu vườn này được Sư Thầy quan tâm, được các chú trong chùa và cả tôi nữa chăm sóc thường xuyên. Chúng tôi chọn mấy chiếc ghế đá đặt dưới những gốc cây làm chỗ học, mỗi người một nơi nhưng không xa lắm.

3
Tôi học không chịu áp lực gì, tôi chỉ đọc trước chương trình lớp mười. Còn chị thì khác, hình như chị ít quan tâm đến điều gì ngoài những trang sách. Chị chăm chú đọc, một chốc sau lại mở to đôi mắt, ngước nhìn lên, nhẩm lại trang sách vừa đọc. Nhờ những lần chị ngước nhìn lên như thế mà tôi nhìn thấy được trong đôi mắt ấy không chỉ là bóng trăng mà còn là bầu trời, đồi chè xanh, màu bằng lăng tím, màu vàng của hoàng yến và cả màu hồng phượng vỹ.
Thỉnh thoảng chị ngừng học, nhìn tôi mĩn cười, tôi đặt sách xuống, đến gần, đứng cạnh ghế đá nhưng không bao giờ tôi cùng ngồi trên ghế đá với chị, hai chị em người đứng người ngồi nói chuyện trong những giờ nghỉ.

Cho đến giờ tôi vẫn nhớ giọng nói ngọt ngào của chị, chị hỏi tôi về gia đình, về bạn bè, về trường, về lớp, về những ước mơ tương lai. Chị cũng kể tôi nghe về gia đình chị, về những lo lắng cho kỳ thi tốt nghiệp sắp đến.
Chị ăn trưa mang theo ở ngoài vườn, tôi vào chùa qua đường với các chú. Mỗi bữa ăn tôi đều mang ra cho chị tô canh, phụ thêm cho thức ăn chay kham khổ của chị. Trong chùa tôi cũng có chiếc võng, tôi mắc vào hai gốc cây lớn để chị nghỉ trưa. Tôi đã có chiếc giường trong phòng chú Quán.

Những ngày đó tôi thường đến chùa rất sớm, tôi muốn nhìn thấy dáng chị đi trên con đường quen thuộc. Mỗi ngày tôi đón chị với nụ cười rạng rỡ, chị cũng mĩn cười chào tôi, nụ cười của chị ngày ấy suốt đời tôi không quên được.
Cuối mỗi ngày, lúc trời vừa tắt nắng, chị thường xếp sách vở lại nhìn tôi mĩn cười:

-Về thôi em! Học mỗi ngày một ít nó mới chắc, tối nằm nhớ lại những nội dung đã học, sáng mai nhẩm lại lần nữa là chắc chắn thuộc bài.
Nhưng một lần tôi không đồng ý:
-Sao về sớm vậy chị, mới có năm giờ mà.
Chị Thảo cười:
-Chị về nhà dì, lấy xe đạp, đạp về nhà chị phải mất hai mươi phút. Rồi lo cơm nước, về sớm mới kịp cho cả nhà ăn tối trước bảy giờ.
Tôi cũng cười theo:
-Chị thật đảm đang, vừa học thi, vừa lo việc nhà. Sau này ai có phước đức lắm mới lấy được chị.
Chị Thảo tròn mắt cười ngạc nhiên:
-Chao ơi! Ai nói đây? Hiếu mười sáu hay bà già sáu mươi?
Tôi cười:
-Mẹ em nói đó chị, mẹ em thường nói thế khi gặp người con gái đảm đang như chị.
-Cảm ơn em, khi nào rảnh chị ghé nhà em chơi, thăm mẹ em. Phải chi em là em ruột của chị, chị là con một không có anh em gì cả.
Tôi cảm động:
-Chị cứ xem em như em ruột của chị, tên hai chị em mình là Hiếu – Thảo, chẳng phải chị em sao?
Chị Thảo cười thích thú khi nhận ra điều đó, rồi chị đưa tay cho tôi ngoéo
-Ừ! Mình làm chị em, ngoéo tay nè!
Hai chị em cùng ngoéo tay, thế là tôi có thêm người chị, chị em tôi sẽ có ba người: Chị Thảo, tôi thứ hai và nhỏ Lan em út.
Hai chị em cùng đi trên con đường vắng trong buổi chiều tà. Gió chiều mát rượi, chị Thảo đi trước, tôi đi sau chị một đoạn ngắn. Hôm đầu tiên chị Thảo cười bảo tôi:
-Sao em không cùng đi với chị, cùng đi nói chuyện vui hơn chứ em?
Tôi cười:
-Em đi sau cũng được mà, đi sau có gì em bảo vệ chị tốt hơn vì người xấu không ngờ chị có em bảo vệ.
Chị Thảo cười xòa, xoa đầu tôi và bảo:
-Em ngoan quá, nhưng lo hơi xa. Cùng đi đi, nói chuyện cho vui.
Tôi cùng đi, thỉnh thoảng tôi tụt lại đàng sau và khi thấy tôi ở hơi xa, chị ngừng lại đợi:
-Con trai gì đi chậm vậy, chị chờ nè.
Thật ra tôi không đi chậm, tôi cố tình đi sau để nhìn con đường, nhìn những hàng thông, dưới hàng thông đó có dáng chị đi, mái tóc dài bay bay trong gió.
Chúng tôi có rất nhiều những buổi chiều như thế, mỗi chiều trên con đường về chị kể tôi nghe một câu chuyện, thường đó là những chuyện thần tiên như “Bích Câu Kỳ Ngộ”, “Lưu Thần-Nguyễn Triệu”, hay những câu chuyện tình trong Tự Lực Văn Đoàn như “Hồn Bướm Mơ Tiên”.
Một lần trên con đường dưới những hàng thông tôi nói:
-Chị thấy con đường này có giống con đường trong một bài hát của Trịnh Công Sơn không?
-Sao em nói vậy? Để chị nhớ, có bài nào của nhạc sỹ Trịnh Công Sơn nhắc đến những hàng thông không hè?
Chờ một lúc không thầy chị trả lời tôi nhắc:
-Bài hát có câu: “Ngàn thông thắp nến lên hai hàng”
Chị Thảo reo lên:
-A! Chị nhớ rồi, đó là bài “Nắng Thủy Tinh”
-Đúng rồi! Chị biết hát bài đó không?
-Biết chứ, bài này rất quen, chị hát em đừng cười chị nghe.
Tôi cười:

-Dạ! Em đâu dám, chị hát đi.

Tôi đi bên chị trên con đường dưới “Ngàn thông thắp nến lên hai hàng” của Trịnh Công Sơn. Gió từ phía bên kia đồi chè thổi sang, tóc chị bay bay vươn vào mắt tôi, suốt đời vẫn nhớ.
Màu nắng hay là màu mắt em
Mùa thu mưa bay cho tay mềm
Chiều nghiêng nghiêng bóng nắng qua thềm
Rồi có hôm nào mây bay lên.
…..
Chiều đã đi vào vườn mắt em
Mùa thu qua tay đã bao lần
Ngàn cây thắp nến lên hai hàng
Để nắng đi vào trong mắt em

Đó là lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng tôi nghe chị Thảo hát:
4
Những cánh hoa phượng rơi rụng nhiều, chỉ còn lác đác vài cánh trên cây. Cây bằng lăng tím cũng bắt đầu rụng lá. Mỗi sáng quét chùa tôi cảm nhận mùa Thu đến gần qua những cánh hoa rơi rụng tôi gom được ngày một nhiều hơn. Gió núi nhiều và dù lúc trời nắng, trong gió tôi cũng cảm nhận được một chút của rét mướt, một chút thôi nhưng tôi đã nhận ra mùa hè sắp qua và sẽ đến một ngày tôi chia xa chị Thảo

Rồi ngày ấy đến:
-Ngày mai chị về lại trường rồi. Đầu tháng sau chị thi, thi liên tiếp 3 ngày. Em ở lại học nghe, em cũng gần trở lại trường rồi mà.
Tôi buồn nhưng không bất ngờ, ngày tựu trường của tôi cũng gần đến:
-Dạ! Chị đừng quên em nghe. Chị thi vào ngày mấy âm lịch vậy chị?
Chị Thảo nhẩm tính rồi trả lời:
-Ba ngày liên tiếp mười bốn; rằm và mười sáu đó em
-Vậy thì từ tối mươi ba tháng đến em sẽ vào chùa cầu nguyện cho chị. Em cầu cho chị việc thi cử được thuận lợi, gặp nhiều may mắn.
Chị Thảo cảm động, giọng trầm xuống:
-Chị cảm ơn em! Chị không bao giờ quên em đâu.
Rồi giọng chị bổng vui lên:
-Thi xong chị vào thăm em liền. Mình là chị em mà.
Tôi đã không quên lời hứa, ba buổi tối liên tiếp tôi thắp nhang cầu ơn trên phù hộ để việc học hành thi cử và cả việc làm sau này của chị Thảo được hanh thông.
Chú Quán cười:
– Mô Phật! Em thành tâm cầu nguyện cho chị Thảo như thế này thì chắc chắc chị ấy sẽ đậu hạng nhất rồi. Thật sự chú chưa thấy ai lo lắng cho chị Thảo như em, em ruột cũng không bằng.
Tôi cười:
-Chị ấy hiền lành, đảm đang lắm đó chú. Em xem chị Thảo như chị ruột của mình.
Tôi nhập trường, ngôi trường mới ở thị xã cách nhà tôi hơn mười cây số, bạn bè lớp chín của tôi hầu như đông đủ ở lớp mười ngôi trường mới. Sau một mùa hè đứa nào cũng lớn, nhất là mấy bạn gái. Tôi cũng cao thêm được một đoạn, giọng vỡ ra và trên mép lún phún mấy sợi râu.

Bài vở bắt đầu nhiều, mấy tháng hè vừa rồi tôi đã học qua, chỗ khó chị Thảo cũng đã giảng nên việc học không đáng sợ như tôi nghĩ. Chủ Nhật hoặc các ngày nghỉ tôi đều đạp xe về nhà, rồi đi bộ vào chùa qua con đường thân quen.
Trong chùa, không có điều gì mới, tôi trả lời Sư Thầy về việc học hành, kể chuyện lớp chuyện trường cho chú Quán và chú Thuyên nghe, vẫn chẻ củi, quét sân, chăm sóc cây cối ở trong vườn, và khi gần về tôi hỏi chú Quán về chị, câu trả lời luôn là cái lắc đầu của chú.

Tôi trở về nhà trên con đường hai hàng cây thắp nến:
“Chị ơi em thấy lòng se lại.
Nhớ chị vô cùng chị biết không” **

5
Rồi chị em tôi cũng gặp lại nhau
Đó là những ngày nghỉ tết.

Tết năm đó tôi không vui như những năm trước, tôi không còn mê mẩn với những viên pháo thơm thơm mùi thuốc súng, tôi không thích lắm những phong bao li xì, tôi cũng không thích chạy theo đám múa lân, hội bài chòi như những năm trước. Tôi ít nói hơn, ít đi chơi, cả tuần trước tết tôi dọn dẹp nhà cửa, bàn thờ, mang bộ tam sự ra đánh đến sáng bóng. Xong việc nhà tôi vào chùa để nhìn cái lắc đầu của chú Quán và cùng các chú chuẩn bị cho ngày tết. Ngày ba mươi tết tôi giúp mẹ chuẩn bị để nấu nồi bánh tét.
Mẹ tôi bảo:
-Con thành người lớn rồi đó.
Tôi cười nói:
-Con học lớp mười rồi mà mẹ.
Sáng mồng một cả nhà tôi vào chùa thật sớm, cúng Phật, thỉnh an và chúc tết Sư Thầy, thăm và chúc tết các chú, xong việc ba mẹ tôi về trước, tôi cố tình ở lại đến trưa vì tôi nghĩ biết đâu sẽ gặp lại chị.

Tôi đứng trước chùa, ngóng về phía con đường những hàng thông, khách thập phương đến rất đông và trong đám đông nhiều màu sắc sặc sỡ đó tôi nhận ra chị trong chiếc áo dài màu thiên thanh duyên dáng và nền nã.
Chị Thảo không đi một mình, bên chị còn có người đàn ông khoảng hai bảy hai tám tuổi mặc bộ vest màu xám. Điều đó cũng không ngăn tôi kêu lên, tôi chạy ngay đến bên chị gọi to “-Chị Thảo”, tay tôi đưa ra chực nắm lấy tay chị, rồi không hiểu tại sao tôi lại ngừng, tôi chỉ đến đứng bên chị cười mừng rỡ.
Mắt mở lớn, chị Thảo kêu lên:
– Lạy Phật! Hiếu đây ư, mới mấy tháng mà em lớn dữ vậy, hồi hè em đứng ngang vai giờ cao gần bằng chị rồi nè.
Hai chị em đứng ngay giữa đường nói chuyện, quên cả người đàn ông đứng cạnh. Một lúc sau, chợt nhớ ra, chị kéo tôi sang một bên, giới thiệu:
-Đây là anh Minh, chồng sắp cưới của chị, anh chị quen nhau lâu rồi, ra giêng này cưới. Anh chị giờ dạy học ở Nha Trang.

Tôi vui vì chị đã vượt qua kỳ thi khó khăn, có công việc làm và có người chồng xứng đáng. Nhưng không hiểu sao tôi thấy lòng mình chùng xuống, một thoáng buồn!
Người đàn ông đưa tay bắt tay tôi như bắt tay người lớn:
-Chị Thảo kể về em luôn. Anh cảm ơn em và chúc em năm mới vạn sự như ý.
Chúng tôi nói chuyện một lúc lâu, chị Thảo xin lỗi tôi vì đã không về thăm tôi sau khi thi như đã hứa.
Tôi cười buồn:
-Em biết chị bận mà, sau khi ra trường có biết bao nhiêu việc phải lo.
Tôi đưa anh chị vào lễ Phật, thỉnh an Sư Thầy rồi đi thăm các chú. Chị em tôi cũng ra sau thăm vườn chùa, có lẽ chị muốn giới thiệu cho anh Minh biết nơi học thi của chúng tôi hơn nửa năm trước.
Tiển anh chị về, lúc vào lại chùa, chú Quán nói với riêng tôi:
-Anh chị ấy đến xin Sư Thầy làm lễ cưới ở chùa. Từ tám giờ sáng Chủ Nhật tuần sau. Chị Thảo nhờ anh nói lại với em.

6.
Buổi sáng ngày vu quy của chị tôi không dám vào chùa, tôi đứng ở gốc thông già cuối con đường, ngay trước cổng chùa. Tôi muốn nhìn chị trong chiếc áo dài ngày vu quy đi qua con đường “hai hàng cây thắp nến”. Có lẽ đây là lần cuối tôi được nhìn chị đi trên con đường này, nghĩ đến đó lòng tôi thấy rưng rưng,

Đúng tám giờ đoàn xe đến đậu ở đầu con đường, họ xuống xe, sắp xếp chỉ một chốc là thành một đoàn dài đưa dâu.
Đi đầu là hai bé trai chừng tám tuổi cầm lồng đèn cưới, hai chiếc lọng vàng che mâm ngũ quả và mâm bánh cúng Phật do hai người thanh niên khiêng. Bốn người lớn tuổi, khăn đóng áo dài đi thành hai hàng, kế đó là Chị Thảo và anh Minh và sau cùng là nhiều người khác tôi không chú ý lắm. Tôi chỉ để ý đến chị Thảo của tôi: Chị mặc chiếc áo cưới màu đỏ, bên ngoài là chiếc áo voan trắng mỏng, đầu đội khăn vành đỏ. Chị thật đẹp, mái tóc dài kiêu sa, khuôn mặt trái xoan, đôi mắt to đen và sáng. Bên chị, anh Minh cũng mặc quốc phục, áo thụng và chiếc khăn đóng màu vàng.
Cả đoàn người đi qua con đường quen thuộc. Tôi cứ nghĩ hai hàng thông là đội danh dự đang bồng súng chào và đoàn người diễu qua là đoàn người đưa tiễn nàng công chúa lên xe hoa về với hoàng tử ở một vương quốc xa xôi.
Tôi ngồi dựa vào gốc thông, trong lòng trống trải. Tôi vui vì chị Thảo hạnh phúc, nhưng niềm vui không trọn vẹn, hình như vẫn có điều gì đó trĩu nặng lòng tôi.

Chú Quán đến bên tôi từ lúc nào không rõ, chú bảo:
-Chị Thảo muốn gặp em, em vào đi, lễ cũng đã bắt đầu.
Tôi lắc đầu, chỉ trả lời mấy chữ:
-Em không vào!
Chú Quán nhìn tôi ngạc nhiên rồi nói lại lần nữa. Tôi trả lời:
-Em xin lỗi vì nói năng không phải phép với chú, nhưng em có lý do để không vào, chú vào lựa lời nói với chị Thảo để chị ấy đừng buồn em, chú cũng đừng nói em đang ở đây nghe.
Chú Quán vào rồi, tôi vẫn ngồi tư thế cũ, sau gốc thông, cô đơn và trống vắng.
Chừng lâu lắm, đoàn người sắp xếp giống như lúc vào, họ bắt đầu đi ra. Đôi mắt chị Thảo đượm buồn làm lòng tôi se lại, khi người cuối cùng đi qua gốc thông, tôi đứng lên quay lại nhìn theo, bóng chị Thảo xa dần, đoàn người cũng xa dần rồi biến mất vào đoàn xe. Đoàn xe dần dần lăn bánh, bổng dưng cảm giác hụt hẫng, cô đơn, mất mát xâm chiếm hồn tôi và khi chiếc xe cuối cùng chỉ còn là một chấm nhỏ, tôi ngồi xuống, khóc như chưa bao giờ được khóc.
Một lúc lâu, khi đã vơi bớt nỗi buồn, tôi đi về phía sau chùa, rửa mặt thật kỹ, cố gắng để không ai biết là tôi mới khóc. Chú Quán đón tôi, một chút ngạc nhiên, rồi chú đưa tôi một chiếc hộp nhỏ gói trong giấy bóng kính màu vàng.
-Chị Thảo gởi cho em nè, chị ấy cũng buồn khi không gặp được em.
Lòng tôi lại nhói đau lần nữa, tôi cố gắng che dấu nỗi buồn rồi mở gói quà ra. Trong gói quà là một pho tượng nhỏ, tượng một ông Trạng nguyên cưỡi ngựa hồng vinh quy bái tổ.

7.
Tôi cố gắng rất nhiều trong năm học lớp mười, học để quên buồn và học để không phụ lòng chị. Chị ơi! Em hiểu chị muốn sẽ có một ngày em “Vinh quy bái tổ” khi tặng em món quà ngày chị vu quy.

Tôi đứng đầu lớp năm lớp mười, ba mẹ tôi vui lắm. Tôi cũng vui vì đã bắt đầu thực hiện điều chị mong muốn, vì sắp được nghỉ hè, về nhà, nhìn lại con đường xưa mà tưởng tượng hình ảnh chị đi qua đó mỗi sáng mỗi chiều. Tôi vui vì sắp được trở về vườn chùa ngồi trên chiếc ghế đá của mình nhìn sang chiếc ghế đá bên cạnh để tưởng như chị đang ngồi đó, mắt ngước nhìn lên, trong đôi mắt đó có đồi chè, có bầu trời trong xanh và bóng hoa bằng lăng tím.
Nhưng khi tôi đi qua con đường xưa hay về ngồi ở ghế đá vườn chùa trong bóng chiều tà tôi lại buồn và thấy lòng trống trải. Chị Thảo ơi! Chắc giờ chị cũng đang nghỉ hè, chị và anh Minh có hạnh phúc không? Bao giờ em cũng trông mong điều đó, chị biết không?

Hai năm sau nữa tôi phải rời xa con đường “Hai hàng cây thắp nến”, rời xa ngôi nhà của mình, xa mái chùa cổ nơi có biết bao kỷ niệm thuở ấu thơ. Đó là năm tôi thi đại học, ba tôi chuyển công tác vào Sài Gòn đưa theo cả gia đình. Tôi được vào học ở một trường đại học ở Sài Gòn sau một kỳ thi tuyển khá gay go.
Pho tượng ông Trạng cưỡi ngựa hồng vinh quy bái tổ là động lực giúp tôi vượt qua mọi khó khăn trên đường đời, cuối cùng tôi không phụ lòng mong mỏi của chị.

Hơn bốn mươi năm rồi, món quà ngày xưa của chị tôi vẫn giữ ở vị trí trang trọng trong phòng làm việc và tình cảm dành cho chị tôi vẫn giữ sâu thẳm trong trái tim mình.
Nếu tình yêu được định nghĩa là: “Sự rung cảm khi hướng về một đối tượng khác phái” thì ngày đó tôi đã yêu chị. Nhưng đó không phải là tình yêu nam nữ thông thường, đó là tình yêu được chuyển thành yêu thương, trân trọng và đó là động lực để tôi vươn lên.

Có phải thế không chị Thảo của em?

Khi đã ngoài sáu mươi tuổi tôi mới lại có dịp về thăm lại con đường xưa, con đường “Ngàn cây thắp nến lên hai hàng”. Con đường vẫn như xưa, những cây thông đã cao lên rất nhiều. Ngôi chùa xưa giờ được xây lại khang trang hơn. Sư Thầy đã viên tịch từ rất nhiều năm trước lúc tôi đang ở nước ngoài. Tôi ôm lấy “chú” Quán, giờ đã là thầy trụ trì gần bảy mươi tuổi, mừng mừng tủi tủi.
Trò chuyện suốt ngày, trước lúc ra về tôi mới rụt rè hỏi về chị Thảo. Sư Thầy cười ý nhị rồi nói với tôi:
– Thầy chờ từ sáng đến giờ câu hỏi này, gần hai mươi năm trước anh chị ấy có đến thăm trước khi đi định cư ở nước ngoài, cùng đi có hai cháu trai đã lớn. Chị Thảo có hỏi về em, thầy chỉ biết là em khá thành công trong cuộc sống, thầy chỉ nghe thế. Chị ấy rất vui và nhờ thầy chuyển lời hỏi thăm em nếu em trở lại thăm chùa.

Chào quý thầy, tôi trở ra, lại đi giữa con đường “Ngàn cây thắp nến lên hai hàng”. Một chút vui, một chút buồn, tất cả đã trở thành kỷ niệm, kỷ niệm không phai. Rồi tôi lại mĩn cười khi nghĩ rằng: Quả đất tròn, biết đâu một ngày tôi lại được gặp chị và tôi lại chạy bay đến gọi to “-Chị Thảo” như những ngày xưa./.
………..
Pleiku, tháng 6/2016
BS Huỳnh Công Toàn
……

*Qua đường: ăn cơm.
** Thơ: NT Thơ YK15 Huế

Comments are closed.

error: Content is protected !!