Chuyện tảo hôn và hôn nhân cận huyết

THƯA QUÝ BẠN, tảo hôn là kết hôn sớm khi còn nhỏ tuổi. Theo tiếng Hán-Việt, “tảo” nghĩa là sớm. Ví dụ: “Mỗi nhật nhất tảo trà, lương y bất đáo gia” – “Mỗi ngày uống một tuần trà sớm, thầy thuốc không đến nhà”. Các cô gái 15-16 tuổi, thậm chí mới 12 – 13 tuổi đã lấy chồng, đó là tảo hôn. Hồi tôi còn nhỏ, ờ quê tôi ngoài Bắc (tỉnh Thái Bình), hầu hết dân chúng đều sống về nghề làm ruộng. Dân đông, đất đai lại hẹp nên mỗi suất đinh (phái nam từ 18 tuổi trở lên), thời ấy chỉ được chia 3 sào ruộng đất công (gọi là công điền). Mỗi sào là 360 mết vuông, 3 sào tức 1080 mét vuông, chỉ lớn hơn một “công” đất tại miền Nam (1000 m2) chút đỉnh. Phái nữ thì không được chia. Hiện nay, mỗi suất được 1 sào nhưng phái nữ cũng được chia. Về ruộng tư (gọi là tư điền), thời ấy gia đình nào có vài mẫu ruộng và 1 hay 2 con trâu đã là khá giả lắm rồi. Mà, một “mẫu ta”(=10 sào, tức = 3.6o0m2) ở ngoài Bắc và ngoài Trung chỉ bằng khoảng 1/3 “mẫu tây” tức một hécta (= 10.000 m2) ở trong Nam. Đất hẹp như vậy nên đời sống dân chúng cực kỳ khó khăn. Có những gia đình quá nghèo, phải vay muợn gia đình khá giả hoặc muốn cho con được no đủ hơn nên đành gả cô con gái 17 – 18 tuổi cho cậu con trai mới 7 – 8 tuổi của gia đình đó. Thật ra, họ cần người làm chứ chẳng yêu quý gì cô con dâu lớn tuổi con nhà nghèo này. Chồng bé tí teo trong khi vợ đã đến tuổi cập kê nên hai bên rất khó hoà hợp. Thường thường, cả hai đều bị mặc cảm, không muốn nhìn thấy mặt nhau. Những trường hợp như vậy cũng là tảo hôn nhưng hơi khác với chuyện tảo hôn ở các tỉnh miền núi ngoài Trung (Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quảng Bình, Quảng Trị…) hiện nay. Ở đấy, có các cháu gái mới 15 – 16 tuổi, thậm chí mới 13 – 14 tuổi đã tự ý bỏ học để đi lấy chồng theo phong tục tập quán đã có từ các đời trước chứ không phải do bố mẹ ép buộc.
Còn chuyện hôn nhân cận huyết, đó là trường hợp những người cùng gia tộc về bên nội hay bên ngoại, họ hàng rất gần, có thể coi như bà con ruột thịt nhưng họ vẫn kết hôn với nhau. Ví dụ, ở ngoài Bắc, có nhiều nơi các cụ ta có câu: “Con bá con dì thầm thì lấy nhau” . Con bá con dì hay còn gọi là con dì con già là con của hai chị em ruột. Các cụ cho rằng họ hàng “bên ngoại” thì lấy nhau được nhưng phải “thầm thì” thôi, đừng làm rầm rộ. Đối với người Trung Quốc thì lại càng kỳ lạ hơn nữa. Trong tác phẩm Thiên Long Bát Bộ của nhà văn Kim Dung, Mộ Dung Phục và Vương Ngọc Yến là anh em con cô con cậu ruột, nhưng họ có thể kết hôn với nhau theo phong tục của nước Đại Yên tức tỉnh Vân Nam bây giờ. Lại nữa, trong bộ Thanh Cung 13 Triều, tác giả Hứa Tiếu Thiên nói rằng vua Khang Hi (vị vua thứ hai đời nhà Thanh), lúc nhỏ thương chơi đùa thân mật với người cô ruột kém mình 2 tuổi và yêu “hoàng cô” quá chừng, đồng thời “hoàng cô” cũng có cảm tỉnh với chàng “hoàng điệt” quá mức. Khi lên làm vua, “hoàng điệt” bèn phong ngay cho “hoàng cô” làm quý phi, tức vợ thứ hai của mình. Các quan không đồng ý, khuyên can. Vua nói: “Phong cô ruột làm hoàng phi thì lại càng gần chứ có sao đâu. Kẻ nào còn dám can ngăn nữa là ngu ngốc, không hiểu ý ta, vậy thì lui về đừng làm quan nữa!”. Thế là thôi, êm ru, ngay cả mẫu hậu cũng phải đồng ý. Ở nước ta, về đời nhà Trần, người trong hoàng tộc kết hôn với nhau lung tung theo ý muốn của Thái sư Trần Thủ Độ để bảo tồn huyết thống và bảo toàn ngôi báu.
Sự thực, về tảo hôn, các cô hay các cậu chưa tới tuổi trưông thành mà đã mau mau lo chuyện kết hôn, họ chưa đủ khả năng cũng như chưa có nghề nghiệp gì cả để bảo đảm được hạnh phúc lứa đôi ngoài việc trông chờ vào sự giúp đỡ của cha mẹ. Sự cãi vã, chán ghét nhau cũng bắt đầu từ đấy. Họ khó có thể sống với nhau lâu dài tới răng long đẩu bạc được. Còn về chuyện hôn nhân cận hưyết, tức là kết hôn cùng dòng máu thì sức sống của con cháu sẽ giảm, yếu đuối cả về tinh thần lẫn thể chất, dẫn tới sự suy thoái của các thế hệ sau. Về bệnh tật, việc kết hôn cận huyết là cơ hội cho các bệnh tiềm ẩn được dịp phát sinh.
Nói tóm lại, việc tảo hôn và việc kết hôn cận huyết đều không tốt, nhà nước CSVN đã ra lệnh cấm trong Luật Hôn nhân & Gia đình từ nhiều năm nay, nhưng cấm thì cấm, những hủ tục hiện nay vẫn còn trong dân chúng, đặc biệt là trong các vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Bây giờ xin quý bạn xem qua một vài câu chuyện có thật hiện thòi về vấn đề đó.

Ở nơi cô giáo mong học trò hãy khoan… lấy chồng!
Sau khi chào cờ đầu tuần xong, các lớp của trường Trung học Ba Tơ (huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi) bắt đầu vào học tiết đầu tiên. Trong lớp 12A1, em Phan Thị Cam chăm chú nghe cô giảng bài. Thoạt nhìn, em cũng giống như các bạn nữ khác, nhưng không ai biết rằng em đang là người mẹ có một đứa con trai. Sau giờ tan học, em nữ sinh này lại về nhà với con và lo việc bếp núc cùng các việc khác.
Hơn năm trước, Phan Thị Cam và cô bạn thân cùng lớp là Phạm Thị Lan cùng 15 tuổi, còn đang đi học, “bất ngờ” rủ nhau…lấy chồng. Từ ngày ấy, cả hai đều bỏ học. Các thầy cô giáo trong trường vất vả vào làng khuyên nhủ các em đi học lại. Cả hai trở về trường được mấy bữa thì Lan bỏ học hẳn. Cái lý muôn đời của tình trạng tảo hôn vẫn là: “Lấy chồng rồi thì phải đi làm với người nhà trong gia đình chồng, không có thì giờ đi học nữa…”.
Tương lai của Lan rất mù mịt. Cô Đinh Thị Ái Ly – hiệu phó trường Trung học Ba Tơ cho biết, bây giờ chỉ còn Cam đi học tiếp, còn Lan thì các thầy cô trong trường cũng không biết gì hơn. Cô nói nhìn Cam còn ngồi học trong lớp mà cô cứ nơm nớp lo sợ… cái bầu tiếp theo sẽ làm cho cô bé bận bịu quá phải bỏ học.
“Mỗi năm, trong kỳ nghỉ hè, các lễ hội, các cuộc hẹn hò nơi góc núi đầu non lại lấy đi của trường mất vài nữ sinh. “Buồn lắm, các em thôi học để đi lấy chồng là tự mình đóng sập tương lai của mình lại rồi”, cô Nguyễn Thị Nga – giáo viên chủ nhiệm lớp của hai em Phạm Thị Lan và em Phan Thị Cam xót xa. Cô nhớ lại, năm lớp 11, Cam là học sinh giỏi và là lớp trưởng của lớp. Khi các thầy cô biết Cam có bầu, ngay chính em cũng không biết điều đó.
“Cũng may là lúc biết thì em đã thi xong học kỳ II của lớp 11, chuẩn bị nghỉ hè. Cái bụng dần dần to đùng. Cứ ngỡ sinh con xong Cam sẽ không đến lớp nữa vì sợ bạn bè chê cười. Được thầy cô đến tận nhà, động viên, năm sau sinh bé trai xong em lại đi học lại và thành tích học tập vẫn tốt”- cô Nga kể.
Khi tiếng kẻng ra chơi vừa bắt đầu, Cam lẻn ra phía sau trường gọi điện thoại về cho bà mẹ chồng bị liệt hai chân đang nằm ở nhà, dặn dò bà trông nom đứa con trai mới được 7 tháng tuổi ở nhà với bà. “Khi nào nó dậy, nếu nó đói, bầm nhớ lấy  3 thìa sữa bột trong cái hộp sữa từ thiện, cho thêm chút đường, pha cho nó uống để nó khỏi đói”.
Tới giờ tan học, Cam đạp xe về nhà. Đi qua con dốc cao vòi vọi. Căn nhà sàn bé tí của bố mẹ chồng mà vợ chồng  Cam ở chung hiện ra trông thật đơn sơ, cũ kỹ, vách toàn bằng những miếng ván hay thanh tre ghép lại tạm bợ. Về đến nhà, Cam bồng con chút xíu cho thằng bé đỡ nhớ mẹ rồi gửi con cho mẹ chồng nằm đấy trông giùm, sau đó chạy đi lo việc cơm nước, tranh thủ giặt giũ.
Ông Võ Văn Tê, bố chồng của Cam, hồn nhiên nói: “Bố mẹ ngày trước thế nào thì bi chừ con cái cứ theo như rứa. Tụi nó thương nhau, đứa con gái có bầu thì mình cho cưới thôi chứ biết mần răng”.
Bà Trần Thị Tý, mẹ ruột của Cam thường thở dài khi thấy cuộc sống của của con gái quá túng thiếu, vất vả. Thỉnh thoảng bà phải giúp đỡ gạo, muối, kể cả vài trăm ngàn đồng khi Cam phải đóng tiền trong trường, mặc dầu gia đình bà cũng chẳng khá giả gì: “Tại nó đã có con lại còn đi học nên mới cực như rứa chớ hồi trước tui cũng lấy chồng năm 15 tuổi mà mô có có cực như nó”. Con gái người Hrê vùng núi tỉnh Quảng Ngãi thời bà Tý, cứ lớn lên là lấy chồng bất kể tuổi tác, bây giờ thì cũng thế thôi.
Còn Đinh Thị Dìu ở xã Ba Dinh (cùng huyện Ba Tơ) mới 15 tuổi đã làm mẹ được gần 1 năm. Ngày Dìu có bầu, cả bố mẹ và nhà trường điều không hay biết. Bây giờ, với đứa con nhỏ gần 1 tuổi, việc đến trường đối với Dìu đã quá xa vời. Bà Ngần Thị Bưởi, mẹ ruột của Dìu nói: “Đứa nhỏ đau ốm miết nhưng đường xuống bệnh viện xa quá, mà nhà lại nghèo, không có tiền thuốc men nên chưa cho nó đi khám bác sĩ lần nào”.
Về phần Phí Thị Sân, cách đây 3 năm, khi còn đang học lớp 10 trường THPT Ba Tơ, Sân đã lấy chồng, lúc ấy mới hơn 15 tuổi một chút. Vừa mang thai vừa đi học, đến Học kỳ II, cái thai đã lớn nên Sân bỏ học. Sân nói: “Lúc đó em còn quá nhỏ nên không hiểu biết gì hết. Lấy chồng xong, đời sống quá khó khăn, sinh con lại không có sữa, phải cho nó bú nước cơm pha với chút đường. Bởi vậy nó ốm tong teo, đi trạm xá mấy cô y tá nói nó bị suy dinh dưỡng. Em thương lắm mà cũng ân hận nữa, biết vậy lấy chồng muộn muộn, cả hai vợ chồng cúng biết lo toan thì đỡ khổ hơn”.

Feature News
1 of 7,059

Tảo hôn và việc hôn nhân cận huyết chưa có hồi kết
Quảng Ngãi đã từng là địa phương có các cặp tảo hôn hoặc hôn nhân cận huyết lên đến con số hàng ngàn. Chính quyền tỉnh đã đưa ra các biện pháp để giảm thiểu tình trạng này trong kế hoạch ngũ niên 2016 -2020, tuy cũng có kết quả nhưng chưa khả quan lắm.
Nếu như trước năm 2016, cả 6 huyện miền núi trong tỉnh là Ba Tơ, Minh Long, Sơn Hà, Sơn Tây, Tây Trà và Trà Bồng, cùng với một số xã miền núi của 2 huyện Bình Sơn và Nghĩa Hành, có tới 462 cặp tảo hôn thì đến cuối năm 2018 chỉ có 150 cặp. Đặc biệt, tính đến thời điểm hiện nay, tình trạng hôn nhân cận huyết trong đồng bào thiểu số trên địa bàn của tỉnh đã được giảm mạnh.
Cuối năm 2018, em Phạm Thị Mỹ Chiêu (sinh năm 2004, ở thôn Bắc Hà, xã Sơn Hạ, huyện miền núi Sơn Hà, Quảng Ngãi) có ý định lấy chồng khi chưa đầy 15 tuổi. Gia đình bên nhà trai đã chuẩn bị làm lễ “tác nêm” (dạm hỏi). Ngay khi biết tin đó, các cán bộ thôn Bắc Hà đã báo cáo lên xã. Chính quyền xã bèn đến nhà để phân tích cho bố mẹ của Chiêu hiểu mặt trái của việc tảo hôn. Từ đó, gia đình đồng ý chưa cho con kết hôn khi chưa đủ 18 tuổi. Hiện em Mỹ Chiêu đã trở lại trường đi học tiếp.
Ông Nguyễn Đức On, trưởng ban Dân tộc tỉnh Quảng Ngãi cho biết: “Điều quan trọng nhất là tuyên truyền cho các phụ huynh và thanh thiếu niên hiểu về Luật Hôn nhân & Gia đình cũng như hậu quả nguy hại của của việc tảo hôn và kết hôn cận huyết để chính họ phòng tránh”.
Nói chung, theo nhận xét của Quỹ Cứu trợ Nhi đồng Quốc tế Liên Hiệp Quốc (UNICEF), việc tảo hôn và kết hôn cận huyết tại Việt Nam hiện nay đã giảm được từ 1/3 đến 2/3 tuỳ theo địa phương, như vậy cũng là điều tốt.
Sau đây chúng ta sẽ xem xét về 2 tục lệ có mặt xấu nhưng cũng có mặt tốt hiện nay vẫn còn hiện diện tại một số địa phương miền cao, đó là tục “bắt chồng” và tục “bắt vợ” của đồng bào dân tộc thiểu số.

Tục lệ “bắt chồng”
Kể cả người Kinh thì Việt Nam hiện nay có 54 dân tộc hiện diện. Mỗi dân tộc có các phong tục tập quán về cưới hỏi mang sắc thái riêng. Nhưng đối với các dân tộc theo mẫu hệ, họ có một điểm chung là tục “bắt chồng”. Những cô gái đến tuổi lấy chồng phải tự tìm cho mình một chàng trai. Nói cách khác là, muốn có chồng, cô gái phải đi bắt và lễ bắt chồng thường diễn ra vào ban đêm. Khi cô gái phải lòng một chàng trai nào đó, cô sẽ về nói với gia đình rồi gia đình sẽ lo liệu viếc… đi bắt chàng trai mà cô ưa thích.
Chuyện “bắt chồng” của người Chu-ru ở Lâm Đồng, Đà Lạt
Tại vùng Tây Nguyên, nếu theo chế độ mẫu hệ, con gái phải đi hỏi chồng, cưới chồng với chi phí rất tốn kém. Vì vậy nên  người Chu-ru ở các huyện Đơn Dương, Lạc Dương tỉnh Lâm Đồng có phong tục “bắt’ chồng” khá độc đáo.
Người con gái tự dệt 3 tấm khăn thổ cẩm, gồm một tấm màu trắng, một tấm màu hồng, một tấm màu chàm, mỗi tấm rộng khoảng 80cm, dài khoảng 3m, để mang đến nhà trai khi làm lễ “bắt chổng”.
Chọn một trong những “đêm thiêng”, cô gái cùng cỡ 10 người trong thân tộc lặng lẽ mang lễ đến nhà chàng trai. Ông trưởng đoàn (thường là cậu ruột của cô gái) gõ cửa. Mặc dù sự viếng thăm này đột ngột nhưng nhà trai vẫn ra mở cửa mời khách vào. Nếu cha mẹ chàng trai không đồng ý thì cũng tìm cách từ chối khéo để nhà gái về mà không cảm thấy bẽ mặt. Tuy nhiên, 10 đám thì “thành công” cả 10, bởi vì chàng trai và cô gái đã để ý đến nhau từ trước rồi. Nếu nhà trai đồng ý thì gọi chàng trai ra hỏi trước mặt ông trưởng đoàn nhà gái. Chàng trai chắp tay, cúi đầu thưa rằng mình đồng ý và thề sẽ ăn ở với cô gái trọn đời. Đây được coi như một lời đính ước. Ngay lúc đó cô gái đưa xấp khăn thổ cẩm cho chàng trai. Chàng nhận rồi để xuống mặt bàn chờ ông trưởng đoàn nhà gái tuyên bố: “Kể từ lúc này, cháu gái tôi sẽ là con dâu của phía gia đình nhà trai’’. Đại diện nhà trai cũng tuyên bố chấp nhận rằng cô gái là con dâu của phía nhà mình.
Cô dâu và chú rể được xếp đứng sát lại gần nhau. Ông ông cậu của cô dâu sẽ mở tấm khăn màu trắng trùm lên đầu hai người, rồi khoác lên vai cô dâu chiếc khăn màu màu hồng và khoác lên vai chú rể chiếc chăn màu chàm. Cha chú rể sẽ đưa cho con trai mình một chiếc liềm, ngụ ý với cây liềm đó chú rể sẽ siêng năng làm lụng để nuôi vợ con.
Sau đó cô dâu đi với chú rể vào trong phòng của chú rể. Họ ngồi trong đó hàn huyên tâm sự, đợi người lớn ở bên ngoài bàn tính chuyện tương lai của đôi trẻ. Đến khi bàn tính xong, nhà gái ngỏ lời xin đưa chú rể về thăm bên nhà mình. Họ chỉ ở lại bên nhà gái đêm hôm đó và ngày hôm sau. Đến tối hôm sau thì hai vợ chồng sẽ trở lại nhà trai.
Trong tuần lễ đầu tiên về nhà trai, cô gái ngoài việc trổ tài nội trợ và làm các công việc khác, còn tự bỏ tiền túi ra sắm sửa một số đồ dùng cần thiết theo ý mình. Đến ngày thứ 8 hoặc thứ 10 thì nhà gái đem lễ vật sang, có thể là một con heo khoảng vài chục ký và một số lương thực, thực phẩm đủ để làm 5-7 mâm cỗ cho nhà trai thết đãi họ hàng, bà con thân thuộc. Kể từ đấy, cô dâu bắt đầu nắm quyền chủ gia đình, ngay cả con cài sinh ra cũng mang họ mẹ, bởi vì họ theo mẫu hệ.
Tục “bắt chồng” của ngườo K’ho ở Lâm Đồng và của người Raglai ở Ninh Thuận
Người K’ho ở huyện Lạc Dương tỉnh Lâm Đồng, sau khi nhà trai đồng ý để nhà gái bắt con của mình về làm rể, ngay trong đêm đó nhà trai sẽ giết vài con gà làm cơm cho cả hai bên quây quần ăn mừng và uống rượu cần. Họ cùng nhau bàn về những ngày sắp tới của cô dâu chú rể, nhất là chuyện sinh con cái để gia đình nhà gái sớm được mổ heo mời họ hàng gần xa tới ăn mừng.
Trong lúc hai bên gia đình đang ăn uống trên nền nhà, cô gái sẽ vào phòng trong phụ giúp chàng trai chuẩn bị đổ đạc để theo về nhà gái làm chồng ngay trong đêm. Khi gà cất tiếng gáy thì cuộc ăn mừng cũng vừa tàn. Lúc này, mai mối sẽ đứng dậy hoàn tất những nghi thức và trịnh trọng tuyên bố xin phép được “bắt” chú rể đem về làm chồng cô dâu. Lời người mai mối vừa dứt, ngay lập tức chàng trai “bị” các thành viên trong gia đình nhà gái (mà tiên phong là cô dâu) dẫn về nhà gái.
Tập tục “bắt chồng”và tảo hôn của người dân tộc Raglai ở Tà Nôi tỉnh Ninh Thuận hơi khác và vẫn còn diễn ra khá phổ biến. Từ lâu, con gái Raglai ở tuổi 12-13 đã được quyền xem mặt để “bắt” người con trai nào mà mình yêu thích về làm chồng. Khi cô gái thích một chàng trai thì cô sẽ trao cho người đó chiếc vòng cổ hoặc vòng đeo tay bằng đồng để gọi là “thông báo” với mọi người trong làng rằng người con trai này đã có chủ. Sau đó, hai gia đình gặp nhau để bàn bạc, hẹn ngày nhà gái đến nhà trai “bắt” chú rể về. Kể từ đó, chú rể sống suốt đời bên nhà vợ, quanh năm làm lụng trên nương rẫy và chịu sự quản lý của vợ mình.
Nói tóm lại, tục bắt chồng vốn là một tập tục truyền thống của những tộc người thiểu số theo mẫu hệ. Phong tục này có cái hay là cô dâu đỡ tốn kém, nhưng cũng có cái dở là có những gia đình biết cô gái đó mê con trai mình, muốn “bắt” con trai mình về làm chồng, họ thách cưới trên trởi dưới biển đến mức cô gái chịu không nổi phải bỏ cuộc . Ngoài ra, nhiều người cũng tham lam, họ cầu xin “Giàng” (Trời) cho mình đẻ thật nhiều con trai để kiếm lợi. Người dân tộc thiểu số đâu phải ai cũng hiền lành, chất phác như chúng ta tưởng tượng.

Tục lệ “bắt vợ” của các chàng trai H’Mông ở Tây Bắc
Tục “bắt vợ” của người H’Mông và ngưởi Thái xuất hiện từ lâu đời ở miền thượng du phía tây bắc nước ta. Nó là lối thoát cho những hoàn cảnh nghèo nàn, không đủ tiền lo việc cưới hỏi của người con trai. Trải qua hàng thế kỷ, tục lệ này vẫn tồn tại như một phần trong sắc thái văn hóa của hai dân tộc Thái và H’Mông, mặc dầu đã bị ngăn cấm bởi vì có những trường hợp cô gái còn quá nhỏ và không bằng lòng nhưng vẫn bị chàng trai lợi dụng tục lệ, bắt về làm vợ.
Khi Tây Bắc bước vào mùa xuân là lúc những chàng trai H’Mông rộn ràng hẹn với bạn bè chuẩn bị cho ngày đi “bắt vợ” (còn gọi là đi “kéo vợ”). Theo nhiều người cho biết, tục “kéo vợ” đã có từ lâu đời. Những đôi trai gái đến tuổi cập kê phải lòng nhau, hẹn hò ở trên rừng, trên đường đi hay trong phiên chợ, rồi đến xế chiều, chàng trai nhờ một vài người bạn đi với mình tới điểm hẹn, kéo cô gái về nhà mình.
Mặc dầu đôi trai gái đã yêu nhau, ước hẹn chung sống với nhau suốt đời nhưng không có cô gái nào tự bước chân về nhà chồng. Chàng trai phải tổ chức kéo thì cô mới chịu về. Đám kéo càng nhiều bạn bè tham gia giúp sức, kéo càng quyết liệt thì đôi vợ chồng đó tin rằng sẽ càng hạnh phúc, sống lâu, đông con, nhiều của.
Trên thực tế, có những trường hợp đôi trai gái yêu nhau mà không hy vọng lấy được nhau, thường là do cha mẹ cô gái không đồng ý thì phong tục “kéo vợ” trở thành giải pháp hữu hiệu cho hai người trẻ tuổi. Vào một ngày đẹp trời nào đó, chàng trai sẽ hẹn cô gái đến tâm tình, rồi nhờ người thân, bạn bè giúp sức, “kéo” cô gái về nhà mình. Cô gái biết trước mọi chuyện nhưng vẫn giả bộ bất ngờ, khóc lóc, kêu la để mọi người đến cứu nhưng chẳng ai cứu cả, bởi vì họ biết đó là giả vờ.
Người ta cho rằng người con gái bị kéo về làm vợ mà không khóc lóc, kêu la thì bị coi là hư hỏng, bị gia đình và làng xóm chê cười. Cũng có khi người nhà cô gái mang gậy gộc đến cứu cô ta thật, các bạn của chàng trai sẽ đỡ đòn để chàng trai mang cô gái về nhà. Theo tục lệ của người H’ Mông, khi đi “kéo vợ”, nhà trai không được phép đánh lại nhà gái.
Khi về gần đến nhà trai, một người sẽ chạy về trước báo với mọi người như bố mẹ, chú bác cô dì của chú rể đang chờ ở nhà. Họ sẽ bắt một đôi gà, một gà mái tơ, một gà trống mới biết gáy, đợi ở cửa. Khi đoàn người vừa về đến thì thầy cúng bắt đầu làm phép, sau đó cô gái mới được đưa vào trong nhà.
Trong bữa cơm thết đãi những người đi kéo vợ, nhà trai sẽ cử một người sang báo tin cho nhà gái biết là họ đã kéo được cô gái về mình. Khi biết con gái mình đã bị người ta kéo về làm vợ, dù không đồng ý thì nhà gái cũng đành phải đồng ý và không đi kiện cáo.
“Bắt” được cô gái về nhà mình rồi, chàng trai sẽ sắp xếp cho cô gái ngủ cùng với các chị em gái của mình 3 đêm. Đến sáng ngày thứ 3, họ sẽ chuẩn bị làm bánh dầy để đưa cô gái về nhà. Đoàn người đi sang nhà cô gái gồm chú rể, bố mẹ chú rể và một số người thân. Chú rể phải quỳ lạy tất cả các thành viên nhà gái để làm quen và “tạ tội” đã bắt con gái của gia đình họ.
Nhà gái cũng tổ chức bữa cơm tiếp đãi nhà trai. Tại bữa cơm này, người đại diện nhà gái sẽ hỏi cô gái thật kỹ là cô bằng lòng chung sống trọn đời với chàng trai không. Nếu cô gái ưng thuận, họ se vui vẻ dọn tư trang của cô gái để đưa cô về nhà chồng, nhà trai sẽ làm đám cưới sau. Có khi, hoàn cảnh túng thiếu, phải vài năm sau chàng trai mới có thể làm đám cưới, nhà gái rất không bằng lòng. Còn nếu trường hợp vừa về đến nhà mình, cô gái khóc lóc, van xin bố mẹ đừng gả mình cho chàng trai đó thì cuộc hôn nhân sẽ bị bãi bỏ, chàng trai không thể oán trách ai được, bởi vì nếu tỏ ý oán trách, thù hằn, chính chàng sẽ bị mọi người khinh bỉ là kẻ xấu bụng, không biết điều. ■
Đoàn Dự ghi chép

Related Stories...