Chuyện mộ Lê Văn Duyệt

Bài – ảnh Trần Công Nhung

Sau khi Tả Quân Lê Văn Duyệt qua đời (1832), vua Minh Mạng bỏ chức tổng trấn Gia Định mà đặt chức tổng đốc Phiên An thay thế, rồi cử Nguyễn Văn Quế làm tổng đốc, Bạch Xuân Nguyên làm bố chính. Sau vụ Lê Văn Khôi (1) nổi loạn bị dẹp, một số quan đại thần trong triều đã quy trách nhiệm cho Lê Văn Duyệt là người nuôi mầm mống phản loạn. Minh Mạng là ông vua chuyên chế, muốn thể hiện uy quyền để răn đe các nhóm chống đối khác, đã xóa sạch mọi chức tước của Lê Văn Duyệt. Đoạn quan trọng nhất trong bản án:

“Sự biến Phiên An, hắn (LVD) thực là đầu vạ nên chiếu theo luật mưu phản, khép vào tội lăng trì, song hắn đã chịu minh tru, vậy xin truy đoạt cáo sắc, phá bỏ quan quách giết thây, để tỏ gương răn cho người khác. Còn như ông bà đời trước, ông nội bà nội, cha mẹ của hắn nếu được phong tặng cáo sắc, thì xin truy đoạt cả, mồ mả cha mẹ có tiếm dụng phong cáo trái phép nào thì đục bỏ bia đi”.

Nghị án đưa lên, vua Minh Mạng chiếu dụ trị Lê Văn Duyệt:
“Tội Lê Văn Duyệt nhổ từng cái tóc mà kể cũng không hết, nói ra đau lòng, dù có bửa quan quách mà giết thây cũng là đáng tội. Song nghĩ hắn chết đã lâu và đã truy đoạt quan tước, xương khô trong mả, chẳng cần gia hình chi cho uổng công. Vậy cho tổng đốc Phiên An (Gia Định) đến chỗ mả hắn cuốc bỏ núm mộ san bằng mặt đất và khắc đá dựng bia, ở trên viết to mấy chữ: “Đây chỗ tên lại cái lộng quyền Lê Văn Duyệt chịu phép nước”.

Mộ vọng Lê Văn Duyệt
Mộ vọng Lê Văn Duyệt

Từ đó, quanh khu mộ có nhiều điều linh dị được dân chúng Sài Gòn truyền miệng, Sơn Nam viết: “Nơi phần mộ của Lê Văn Duyệt bị nhục mạ, trong dân gian đồn đãi rằng đêm đêm nghe tiếng quân kêu khóc, quỷ giận thần hờn, lạc ngựa reo vang”. Đến năm Tân Sửu (1841) vua Thiệu Trị lên ngôi, biết Tiên Đế kết tội oan Lê Văn Duyệt, nên xuống chiếu hủy bỏ bia kết tội cùng xiềng xích và cho xây đắp mộ lại, tức là mộ mà nay ta còn thấy ở lăng Ông Bà Chiểu Gia Định. Nhưng trong dân gian mộ của Tả Quân vẫn còn nhiều nghi vấn, không rõ nơi nào là một thật. Theo đồng bào Long Hưng thì sau ngày Tả quân Lê Văn Duyệt qua đời (1832), một ngôi mộ vọng Tả Quân có bình phong đắp hình Bạch Hổ, được dân làng lập cách mộ bà Nguyễn Thị Lập vài chục mét, để tưởng nhớ và tri ân một hậu duệ họ Lê kiệt xuất, một danh nhân của đất Định Tường (Tiền Giang ngày nay). Điều này đã có tiền lệ trong lịch sử.

Nhiều nhân vật lịch sử nổi tiếng, khi qua đời do thời thế lăng mộ bị ếm giấu hay bị phá bỏ nên đời sau gặp nhiều khó khăn truy tìm như Lý Thường Kiệt, Quang Trung, Nguyễn Hữu Cảnh,… Tả Quân Lê Văn Duyệt cũng nằm trong trường hợp này. Bị tru di dưới triều Minh Mạng nên vấn đề mộ chính, mộ vọng có nhiều giả thuyết: Quảng Ngãi, Gia Định, hay Long Hưng (Tiền Giang)? Khi gặp anh Lê Chánh Tuấn hậu duệ đời thứ 10 coi giữ phủ thờ Tả Quân (Kim Long Huế), tôi hỏi anh có khi nào mộ của Tả Quân nằm trong số 28 mộ cổ ở Xóm Gióng hiện nay chăng, anh nói một cách nghi ngờ “mộ ngài ở Long Hưng nằm cạnh mộ song thân”. Không ai biết chính xác ở đâu. Theo sử ghi thì mộ của Tả Quân nằm tại lăng Bà Chiểu. Khi bị phá và lúc được phục hồi cùng một chỗ.

Năm 1848 vua Tự Đức mới truy phong lại cho Lê Văn Duyệt, ban phẩm hàm cho con cháu, cho đắp lại phần mộ Lê Văn Duyệt ở Gia Định cao rộng thêm và cho tu bổ lại đền thờ cạnh mộ tại vùng Bà Chiểu. Nghi vấn đặt ra là: Luật pháp triều đình có thể nào không biết mộ giả một thật của Lê Văn Duyệt để thi hành án? Ngay như mẹ con Hoàng Hậu Lê Ngọc Hân (2) chôn giấu trên 30 năm, lúc lén đưa hài cốt về chôn ở làng Nành cũng còn bị phanh phui đổ xương xuống sông Hồng huống là một “nghịch thần trọng tội” như Lê Văn Duyệt. Mới đây tôi gặp một bài nghiên cứu về mộ Lê Văn Duyệt (trên báo Tuổi Trẻ ở VN), ông Lý Việt Dũng cùng với một số đệ tử, nhiều lần từ Sài Gòn về Long Hưng, tìm cách đọc hai bia của hai ngôi mộ lớn bị đục nhưng còn chừa một số chữ(3), ông Lý dày công suy đoán ráp nối và gần như đọc được toàn bộ bia ký và chứng minh hai mộ lớn là của song thân Tả Quân bằng kết quả sau đây:
Bia ngôi mộ lớn nhất (ông Cố) lập năm Tân Tỵ (1821), Tả quân mất năm 1832. Lạc khoản cũng ghi: “Người lập bia là đứa con nối dõi Lê Văn Duyệt”. Hai chữ “Hiển khảo” khắc ở đầu mộ bia chỉ “Người cha qua đời của tôi” (tức của người lập bia Lê Văn Duyệt) thì người nằm trong mộ không ai khác là ngài Lê Văn Toại, cha của Tả quân.
Ngôi mộ lớn nhì (bà Cố) bia ghi:

“Hiển tỉ Khâm sai Chưởng cơ Lê Hầu chánh thất Nguyễn phu nhân chi mộ”
Nghĩa là: “Mộ của người mẹ qua đời của tôi là bà phu nhân họ Nguyễn, vợ chánh của cha tôi là ngài Hầu tước Lê Văn Toại, hàm Khâm sai Chưởng cơ”.

: Mộ ở Lăng Ông
: Mộ ở Lăng Ông

Ngôi mộ thứ ba nhỏ hơn nhiều, không có bia, nấm mả bằng mặt, cao hơn mặt đất khoảng 20cm, mặt trước tấm bình phong che sau mộ có hình phù điêu con hổ và cây tùng với hai câu đối: “Sơn tòng thiên cổ mậu – Mãnh hổ tứ thời xuân”, nghĩa là: “Tùng trên núi ngàn xưa xum xuê – Cọp mạnh bốn mùa đều xuân). Mặt sau cũng đắp phù điêu hoa và chim có đôi câu đối như sau: “Xuân chí điểu năng ngôn – Thu lai trình thải sắc” nghĩa là: “Mùa xuân đến chim biết nói – Thu sang hoa khoe sắc tươi). Ngôi mộ này nhiều người nghi là của Tả Quân.
Sau khi truy cứu đối chiếu thực tế các mộ phần và căn cứ theo sử liệu, có thể kết luận: Mộ thực của Tả Quân nằm tại lăng Ông Gia Định, còn các nơi khác chỉ là mộ vọng (4).

Mộ vọng ở Long Hưng là hình thức để bà con tưởng nhớ mỗi khi giỗ chạp ông bà “Cố”. Mộ ở xóm Gióng thì quá nhỏ và sơ sài như mộ hoang không thể là mộ của một vị quan đại thần hàng đầu của triều đình. Các mộ nghi là của Lê Văn Duyệt hoàn toàn không hợp lý về thực tế và pháp lý. Mộ chính của Tả Quân là mộ trong Lăng Ông Bà Chiểu.
Toàn thể khu mộ được xây bằng loại vữa đặc biệt (5).

Hai ngôi mộ song táng: Tả quân và vợ là bà Đỗ Thị Phận (6) hình thức giống nhau, có dạng nửa quả trứng bổ đôi theo chiều dọc, úp trên bệ lớn hình chữ nhật. Một khoảnh sân nhỏ trước mộ để làm lễ. Từ ngoài nhìn vào, mộ Lê Văn Duyệt phía bên phải trước mộ có lư nhang lớn, cao bằng bờ thành đóng khung mộ.
Ngoài ra, ở đây còn hai phần mộ nhỏ của hai cô hầu.

Trần Công Nhung

Mộ song thân Lê Văn Duyệt
Mộ song thân Lê Văn Duyệt

______________
(1) Khôi nguyên tên Nguyễn Hữu Khôi người Cao Bằng, nhân làm loạn bị quan quân truy đuổi phải chạy vào Thanh Hóa ra đầu thú được ông Duyệt tin dùng, cho làm con nuôi, đổi tên Lê Văn Khôi, đem theo vào Gia Định.
(2) Di Lăng Hoàng Hậu LNH trang 20 QHQOK tập 16
(3) Về điểm này có 2 luận cứ: Một số người cho rằng người thừa hành việc đục đã cố ý chừa một số chữ để đời sau tìm biết mộ ai. Một số người cho rằng người đục bia làm đúng chiếu chỉ vua ban, chỉ đục bỏ những chữ mang ý nghĩa phong tước, chức vị mà thôi.
(4) Các ngôi mộ tại làng Long Hưng chỉ bị đục bỏ tước hiệu khắc trên bia, chứ không bị san phẳng đeo xiềng xích. Điều này cũng góp phần minh chứng ngôi mộ trên Lăng Ông Bà Chiểu mới chính là mộ thật vì khi án được thi hành chỉ có mộ thật mới bị san phẳng, xiềng khóa và dựng bia sỉ nhục, còn ngôi mộ vọng tại làng Long Hưng không bia thì chẳng bị gia hình gì cả. Mà đối với một trọng án của triều đình thì không bao giờ có chuyện nhầm lẫn mộ thật với mộ vọng. Ngoài ra ông Hoàng Cao Khải, đại thần triều Thành Thái, khi viết bài văn bia kể lại tiểu sử của Tả quân cũng dựng bia tại ngôi mộ ở Gia Định.
(5) Còn được gọi là ô dước. Chất này gồm ba thành phần chính: cát, vôi, chất kết dính. Trong đó, cát là loại cát sông mịn; vôi là vôi sống, vôi tôi, vỏ nghêu sò, san hô nghiền vụn; chất kết dính là nhựa cây ô dước, mật mía, mật ong, nhựa dây tơ hồng hoặc bời lời. Ngoài ra, còn có chất phụ gia như: than hoạt tính, đá ong nghiền vụn, giấy dó…
(6) Tên ghi theo tài liệu của Ban Quý Tế Lăng Ông. Cũng theo đây, thì bà là một cung nhân nết na, được vua Gia Long đứng ra gả cưới. Vương Hồng Sển ghi tên bà là Đỗ Thị Phẫn. Khi Lê Tả quân bị tội, bà về ngụ nơi xóm Chợ Rẫy, trong một ngôi chùa Phật, do bà mẹ năm xưa đứng tạo lập tục danh là Chùa Bà Dội. Lý Việt Dũng ghi bà tên Phấn. Bà không bị giết vì Lê Văn Duyệt là người yêm hoạn, theo luật thời bấy giờ, bà không phải là vợ nên được miễn nghị. Nhưng theo anh Tuấn thì một bà là ở Xóm Gióng cãi táng về Qui Nhơn. Vậy mộ ở lăng là mộ gió?
Trần Công Nhung

More Stories...