Thời Báo Vietnamese Newspaper

Chuyện kể ngày cuối năm: Đoạn đường đến bến tự do

Trần Anh Kiệt

Trên dòng sông Tiền Giang chia đôi bờ Mỹ Tho và Bến Tre, chảy ra biển, biết bao chiếc thuyền đã đưa người vượt biên đến bến tự do. Nhưng chiếc thuyền của tôi lại không may mắn trên đoạn sông ngắn ngủi. Nó đang lặng lẽ xuôi dòng ra cửa biển trong đêm khuya thanh vắng chỉ có tiếng kêu “xình xịch” của chiếc máy đuôi tôm thì bỗng nhiên có những tiếng thét vang lên đồng thời với những tiếng súng nổ. Chiếc tàu của VC thình lình xuất hiện. Bọn hung thần đầy sát khí nhảy qua ghe của chúng tôi, chĩa súng vào đầu những con người tuyệt vọng, miệng nguyền rủa: ” Đồ phản quốc”. Ông bạn Trần Khiết nhanh tay vứt tất cả các lượng vàng đem theo xuống sông. Thế là cửa nhà tù Bến Tre rộng mở để đón chúng tôi.

Hơn ba năm sau, vào ngày 30 Tết, hai tên công an thuộc thành ủy Saigon đến Bến Tre làm thủ tục “di lý” tôi và anh Trần Khiết về Saigon, nói là để giam ở khám Chí Hòa. Khi về đến nơi, họ nói: “Hai anh được thành ủy khoan hồng lãnh về để làm việc tại thành phố. Cho hai anh về ăn Tết với gia đình, ngày mồng bốn, trình diện Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật. Chúng tôi phải làm thủ tục “di lý” về Chí Hòa vì công an Bến tre không chịu thả các anh.”
Tôi đã trải qua những ngày tháng nhục nhằn tại nhà tù Bến tre, thể xác hao mòn, tinh thần kiệt quệ. Nơi đây tôi đã chứng kiến bao cảnh đánh đập dã man tù nhân đến chết của bọn công an cũng như vụ cướp nhà tù đẫm máu giết tên thiếu tá cai tù Tư Lân. Cựu xã trưởng Hai Phơi chỉ huy vụ nổi loạn trong nhà tù. Mình trần, mang nhiều băng đạn trước ngực, tay cầm M16, anh đến từng dãy nhà cho các tù nhân biết mọi người đã được giải thoát có thể tự do ra đi. Anh Hai Phơi là một xã trưởng nổi tiếng ở Bến Tre. Anh đã thoát khỏi nhiều lần âm mưu ám sát của VC. Trong tù, anh thật là người có tư cách. Không người thăm nuôi nhưng anh nhất quyết ăn cơm tù với muối, không nhận bất cứ thức ăn nào mà bạn tù muốn cho. Anh đã hy sinh khi VC bao vây toàn hòn đảo Bến Tre để bắt lại các tù nhân trốn thoát.

Tôi làm việc tại Ủy ban Khoa học Kỹ thuật được 4 tháng. Nơi đây tôi đã nếm mùi vị chua cay về tình người với một người bạn quốc gia và chứng kiến sự thức tỉnh của một anh cộng sản “gộc” nằm vùng. Tôi và anh PMT, Viện trưởng Viện Định Chuẩn là hai kẻ không có vàng để bắt đầu một cuộc hành trình mới. Vợ con anh PMT đã chết trong một chuyến đi “bán chính thức” bất thành. Anh NVH, TGĐ Công ty Đường, hứa hẹn long trọng cho chúng tôi đi trên chiếc ghe do vợ của anh tổ chức, đến nơi sẽ trả tiền. Tôi kiên nhẫn chờ đợi cho đến một ngày nọ, sau khi vào sở có mặt trong chốc lát, anh H. vội vã ra đi, nét mặt căng thẳng. Tôi chạy theo gọi to: Anh H.! Anh lầm lũi bước đi, giả bộ không nghe. Anh đã bỏ chúng tôi rồi! Hai ngày sau, tôi được tin ghe anh đã tới bến.

Cùng làm chung với tôi có anh Nguyễn Văn Diệp. Khi làm Phó TGĐ Việt Nam Ngân Hàng, một ngân hàng tư khá lớn thời VNCH, anh Diệp đã bị cảnh sát quốc gia bắt nhiều lần với tội hoạt động cho VC. Nhưng khi Nguyễn Văn Hảo lên làm Phó Thủ Tướng, ông Hảo lại cho anh Diệp làm Tổng trưởng Kinh tế. Thật khó hiểu. Dường như chính phủ VNCH không đặt nặng điều tra lý lịch các viên chức cao cấp của mình. Sau 1975, anh Diệp cho vợ con đi Thụy Sĩ còn một mình anh ở lại, được VC cho làm Trưởng phòng ở UBKHKT. Tôi thấy thái độ của anh Diệp rất ngang tàng trong các cuộc tiếp xúc với các tên VC cao cấp từ miền Bắc vào và nhẫn nhịn trước những lời mai mỉa của các người “bạn” quốc gia khi xưa. Chung quanh anh toàn là những công chức cao cấp VNCH vừa ra tù, trong ấy có anh Hồ tấn Phát, TGĐ Điện lực, bạn cũ cùng quê với anh Diệp, anh Phạm Minh Dưỡng, TGĐ Hỏa Xa, ngồi chờ cô vợ đầm bảo lãnh đi Pháp, anh Nguyễn Được, GĐ kỹ sư hóa học có nhiều phát minh. Sau khi anh NVH trốn đi, một ngày nọ, anh Diệp cộng sản kêu tôi vào phòng riêng tâm sự: “Tôi không biết trong tương lai anh trôi dạt phương nào, nhưng tôi cho anh số điện thoại của con tôi ở Thụy Sĩ. Nếu cần, nó có thể giúp đỡ anh.” Nhiều năm sau, khi gặp Phó Thủ Tướng DKN ở Cameroun, ông cho biết anh Diệp đã chết rất sớm tại nhà, toàn thân bị bầm tím, dấu hiệu bị đầu độc. Đây chắc chắn là thủ đoạn của VC giết các đồng chí bị nghi ngờ phản trắc. Điều nầy nhắc ta nhớ đến Đinh Bá Thi, cựu Đại sứ VC tại Liên Hiệp Quốc bị chết vì tai nạn xe cộ tại Phan Rang

Tại UBKHKT, tôi có cơ hội dự các buổi hội thảo “brainstorming” do VC tổ chức cho cán bộ cao cấp miền Bắc vào nghe, có sự tham gia của ông Nguyễn Xuân Oánh, chồng Thẩm Thúy Hằng và Công tử Đức, chồng của Bạch Tuyết. Ông Oánh là một trong những người đầu tiên du học ở Nhật, sau đó tiếp tục qua Mỹ lấy bằng tiến sĩ ở Harvard. Tôi đánh giá cao tư cách của ông, bình thản, tác phong quý phái, trước nét mặt ngu ngơ của các cán bộ cao cấp từ Bắc vào. Ông tự giới thiệu: Tôi là Phó thủ tướng Việt Nam Cộng Hòa. Trong những giờ giải lao, ông thích nhắc đến vợ ông mà ông gọi là “Hằng”: Hôm nay Hằng đi đóng phim ở Vũng Tàu…

Công tử Đức, chồng Bạch Tuyết, tốt nghiệp ngành kinh tế ở Pháp. Bạch Tuyết cho rằng anh có bằng tiến sĩ. Trước 1975, anh Đức làm chủ Công ty trục vớt tàu. Sau 1975, VC tịch thu công ty và để anh làm Phó Giám đốc. Ở cương vị nầy, anh Đức giúp rất nhiều những người quốc gia mới ra tù có chỗ làm tạm, chờ cơ hội vượt biên. Tôi thấy anh Đức có kiến thức sâu rộng về kinh tế và có thái độ hiên ngang với cán bộ cao cấp của VC, ngược với thái độ tâng bốc hèn hạ của một số ký giả từng tiếp tay VC thời VNCH: HNN, NCĐ, LQC.

Vào một ngày biển lặng của tháng tư 1980, do một cái duyên nhân quả, một ân nhân đã cho tôi đi miễn phí trên chiếc tàu 60 người do anh tổ chức. Anh tên Tâm, con ông nha sĩ Phạm Thành Nam ở Cần Thơ. Đồng hành miễn phí với tôi có một nhà sư trẻ, thầy Pháp Châu. Thầy cho biết mục đích vượt biên là để tu học. Cũng trên con sông Tiền Giang năm cũ, lần nầy chiếc tàu của tôi đã đi thoát an toàn ra cửa biển sau những giờ phút âu lo. Dường như anh Tâm đã “mua bãi” với VC.

Con tàu lênh đênh trên biển được một ngày thì bỗng có tiếng xôn xao: chân vịt tàu bị cuốn vào một loại rong rêu nên bị tê liệt. Sau một tiếng đồng hồ hồi hộp, những nét mặt lo âu bỗng trở thành rạng rỡ khi tiếng nổ của máy tàu vang lên: chủ tàu và người phụ tá đã lặn dưới biển và đã thành công trong việc gỡ ra chướng ngại vật. Con tàu lại mệt mỏi lướt sóng trong đêm tối. Từ xa, bỗng có những ánh đèn chớp liên tục. Dần dần ánh đèn kia tiến lại gần. Lúc ấy trời bắt đầu sáng. Một chiếc du thuyền hiện ra cập sát vào con tàu của chúng tôi. Chủ du thuyền cho biết cần một người biết tiếng Anh qua tàu của ông để nghe ông giải thích. Tôi tình nguyện đi qua. Tại phòng làm việc, ông chỉ trên họa đồ vị trí hiện tại tàu của chúng tôi còn rất xa đất liền, không biết có thể đến được bến bờ hay không. Ông cho biết ông sẵn sàng chở chúng tôi đến Singapore trên chiếc du thuyền của ông. Với một điều kiện: mọi người phải tắm rửa sạch sẽ với nước biển trước khi bước lên du thuyền! Thật hạnh phúc nào hơn!
Chủ du thuyền người Áo, di dân qua Úc, là một văn sĩ giàu có, còn rất trẻ. Ông mướn hai cô sinh viên Úc trẻ đẹp cùng đi với ông trên chuyến du hành tìm cảm hứng viết văn.

Chỉ ba ngày trên con đường đến Singapore, kho lương thực trên du thuyền đã cạn. Phòng vệ sinh của du thuyền hoạt động quá tải nên thường bị nghẹt. Mọi người phải xếp hàng chờ đợi như khi đi mua nhu yếu phẩm thời VC. Trên boong tàu, luôn luôn có những tiếng cười, tiếng hát, tiếng đàn vang lên biểu hiện một niềm hạnh phúc vô biên. Chúng tôi đã thật sự thoát khỏi “thiên đường cộng sản”. Nhưng bến tự do, thủ phủ của Lý Quang Diệu, không dễ dàng tiếp đón người tỵ nạn. Chiếc du thuyền bị hải quân Singapore chặn lại. Phải đợi 6 tiếng đồng hồ mới thấy bà Drucke, đại diện Cao ủy tỵ nạn lên tàu để nhận định tình hình. Sau khi Cao ủy tỵ nạn thương thuyết với Lý Quang Diệu, chúng tôi được lên bờ vào trại tỵ nạn.

Hay tin ông chủ du thuyền bị chính quyền giam giữ trước khi phạt tiền vì phạm luật cấm đem người tỵ nan vào Singapore, chúng tôi xin Cao ủy tị nạn cho gặp lại ân nhân để tỏ lòng tri ân. Và ông đã đến cùng với người vợ trẻ đẹp, da màu. Trong nhóm của chúng tôi có một nhà giáo viết tay thật đẹp, cặm cụi viết và trang trí một Bảng Tri Ân trao cho ông. Tôi không nén được xúc động khi đứng lên nói cùng ông những lời tri ân chân thật. Đại ý như sau:
Ông Wurtsinger thân mến,
Thật là hân hạnh cho chúng tôi được gặp lại ông sau chuyến hải hành. Chiếc du thuyền Maya Roma của ông đã đem 60 người chúng tôi đến bến tự do. Hôm nay chúng tôi đón ông với niềm xúc động, biết ơn sâu xa người đã cứu sống chúng tôi khi con tàu của chúng tôi lênh đênh trên biển cả sắp làm mồi cho sóng biển. Chúng tôi cũng đón ông với nụ cười rạng rỡ, với niềm vui được gặp lại ân nhân và với niềm hạnh phúc đã thoát khỏi địa ngục cộng sản. Ông đã cùng chúng tôi cười vui ca hát dưới ánh trăng trên chiếc du thuyền Maya Roma thật đẹp. Ông đã chia sẻ với chúng tôi niềm hạnh phúc được sống lại từ địa ngục. Ông cũng đã chia sẻ với chúng tôi kho lương thực của ông, sớm cạn kiệt trước đoàn người đang đói khát. Chúng tôi thật xúc động khi biết tin ông bị chính quyền Singapore bỏ tù và phạt nặng vì tội cứu người tỵ nan đem về Singapore. Rồi đây chúng tôi sẽ được phân tán khắp mọi nơi để làm lại cuộc đời nơi quê hương mới. Những đau khổ trong quá khứ sẽ dần dần được quên đi nhưng lòng tri ân đối với ông vẫn mãi mãi được khắc ghi, không mờ nhạt. Riêng ông, chúng tôi nghĩ ông cũng cảm thấy niềm hạnh phúc đã cứu vớt được bao mạng sống, điều mà nhiều con tàu khác đã lạnh lùng làm ngơ. Chúng tôi thành tâm chúc ông nhiều thành công trong sự nghiệp văn chương và giữ mãi trong ký ức của ông buổi gặp mặt hôm nay với bao nét mặt xúc động, với các nụ cười pha nước mắt, với sự tri ân lòng quảng đại của ông.

Ông Wurtsinger có quốc tịch Úc. Do đó đa số các người chung tàu với tôi đều được đi Úc theo qui định của Cao Ủy Tỵ nạn.

Trại tỵ nạn Singapore là một trại lính cũ nên đầy đủ tiện nghi điện nước. Có nhà thầu mở quán cơm gà luộc, vịt quay. Mọi người có thể chi tiêu thoải mái với số tiền Cao ủy tỵ nạn cấp cho. Nhưng người tỵ nạn vẫn trốn trại ra ngoài làm kiếm tiền mua thuốc gởi về cho thân nhân đang đói khát ở VN. Một số thanh niên kiếm tiền dư dả, đủ trả tiền khách sạn cho những đêm hoan lạc. Một anh bác sĩ khi vừa lên trại, phủ nhận mình là bác sĩ. Thế là anh trốn trại ra ngoài lao động kiếm tiền. Một tháng sau, anh gặp tôi, nhận mình là bác sĩ và tình nguyện làm việc tại bệnh xá vì đã kiếm đủ tiền gởi về gia đình. Việc người tỵ nạn trốn trại ra ngoài lao động vi phạm thỏa ước giữa Cao ủy tỵ nan và chính quyền Singapore. Bà Drucke, đại diện Cao ủy tỵ nạn yêu cầu tôi, Trưởng trại tỵ nan, tổ chức một cuộc họp khoáng đại ngoài trời để công bố quyết định của bà: cúp một ngày phụ cấp lương thực cho toàn thể trại viên xem như là hình phạt tập thể. Tôi phải đứng lên phát biểu với nhiều xúc động:

Thưa quý ông bà và anh chị em
Chúng ta là những người may mắn đã đến bến tự do. Nhưng hàng triệu đồng bào trong ấy có thân nhân của chúng ta còn đang oằn oại dưới gông cùm cộng sản đang tìm lối thoát. Biết bao chiếc tàu tỵ nạn đang tìm bến đỗ và trông chờ đươc thu nhận bởi các quốc gia. Chúng ta đã là những người may mắn, có tương lai rạng rỡ đang chờ, đừng vì chút lợi nhỏ mà gây cảm tưởng xấu về người tị nan làm bít lối đi cho những người đang khao khát thoát khỏi địa ngục cộng sản.”

Dường như lời kêu gọi và hình phạt kia chỉ có tác dụng nhỏ. Có kẻ trốn trại ra ngoài bán thân. Có những cặp tình nhân trốn trại ra ngoài hoan lạc trong khách sạn. Tôi đã cặm cụi viết tay nhiều tờ đơn dùm các bạn trẻ: “Anh Kiệt, nhờ anh viết dùm em một lá đơn gởi Cao ủy tỵ nạn cho tụi em được sum họp đi Mỹ vì tụi em yêu nhau và nàng đã có thai, nàng có thân nhân ở Mỹ.”

Bên cạnh các nụ cười vui sống, không thiếu những tâm hồn dằn vặt đau khổ vì thân nhân bỏ mình giữa biển hay còn bị tù đày. Bác sĩ Trình bị điên loạn vì vợ con bị hải tặc giết chết trước mắt anh. Anh đi lang thang khắp trại, cười nói vu vơ. Tôi nhờ thầy Pháp Châu lập ra một ngôi chùa để cầu siêu cho linh hồn những người đã bỏ mình trên biển cả. Tiềng chuông mõ của thầy Pháp Châu vang lên trong đêm vắng góp phần làm êm dịu lòng người.
Cái ngày ấn định lên máy bay cho các người được đi Ý nhưng lại vắng bóng các ứng viên. Họ trốn không trình diện chỉ vì một bức thư: “Tụi bây tuyệt đối đừng đi Ý. Tao qua đây bị họ cho đi chăn bò.” Vì phải lên đường đi định cư, tôi không biết vụ đi Ý giải quyết ra sao. Một người Québecois bạn học cũ bảo lãnh tôi đi Canada, nơi tôi đã du học. Bà Drucke có nhã ý viết một bức thư khen ngợi tôi nhằm giúp tôi dễ tìm việc làm khi đến Canada. Bà cũng tổ chức một buổi dạ vũ tiễn đưa tôi. Miền đất lạnh, quê hương cũ, quê hương mới, đã bao dung giúp tôi làm lại cuộc đời.

Trần Anh Kiệt

Comments are closed.

error: Content is protected !!