Thời Báo Vietnamese Newspaper

Chuyến độc hành tìm về kỷ niệm

Phan Hạnh

Đúng tám giờ sáng, giờ tiệm sửa xe quen mở cửa, người thợ máy Tony đến nơi làm việc thì đã thấy ông già đứng chờ sẵn ở đó rồi. Tony mau mắn lên tiếng chào:
– Babu! Khoẻ không? “Babu” là tiếng xưng hô mà Tony gọi ông khách hàng người Á Đông với mái tóc bạc phơ và dáng người ốm yếu mệt mỏi thường mang xe tới tiệm Micky Auto Repair của Tony để làm các dịch vụ bảo trì. Ông khách đáp:
– “Cũng tàm tạm như thường. Cậu tới đúng giờ quá.” Tony cười đáp: “Làm ăn cần phải giữ uy tín babu ơi.”
Tony tới gần ông già, xoa vai ông nhè nhẹ: “Tay tui sạch. Không sạch vợ không cho đụng tới đâu.” Hắn cười đưa hai hàm răng trắng đều nổi bậc trên da mặt sậm đen.
– “Babu đem xe tới đây hôm nay cần tui làm gì đây?”
– “Kiểm tra tổng quát và thay nhớt.”
– “Babu sắp sửa đi xa nữa hả?”
– “Ừ.”
– “Được rồi. Babu khỏi lo. Để tui mở cửa dọn dẹp chút xíu rồi tui làm cho xe babu trước. Babu ngồi tạm nghỉ đi.”
– “Cám ơn.”
Đây là một tiệm sửa xe nhỏ chỉ có 3 giàn đội xe và 3 người thợ máy gồm thợ chánh Tony, thợ phụ Wasam và ông chủ Miki, vừa quản lý vừa sửa xe luôn. Cả ba đều là người tị nạn xứ Eritrea Phi Châu may mắn được Canada đón nhận.
Wasam cũng vừa tới tiệm, tay cầm ly cà phê và một bao giấy dầu, có lẽ là thức ăn trưa. Miki chưa thấy đâu, có thể vì là chủ nên hơi tà tà. Nhưng có thể hắn bận công việc quan trọng khác phải lo; đừng vội nghi oan cho người ta.
Ông già là khách hàng quen của tiệm sửa xe này, từng nói chuyện với Tony nhiều lần nên quen Tony hơn quen hai người kia. Gần mười năm nay, ông già thường đem chiếc xe Hyundai Elantra của ông tới đây cho các dịch vụ bảo trì hay sửa chữa. Tony còn trẻ, khoảng chừng bốn mươi là cùng, nhỏ tuổi hơn người con út của ông nữa. Tony quen gọi ông già là babu, theo ngôn ngữ dân tộc Tigre ở xứ Eritrea có nghĩa là ba, tiếng người con gọi cha. Tony nói ông khách hàng già gợi nhớ hình ảnh của cha cậu còn ở quê nhà.
Nhờ lần đầu ông già mang xe đến đây sửa một ngày cuối đông, Tony thấy ông chống gậy. Tuy mặc áo khoác ngoài, ông vẫn co ro vì cái lạnh giữa Tháng Ba. Thấy ông đứng xớ rớ, Tony mời ông ngồi nơi chiếc băng nệm trong phòng đợi nhỏ hẹp có đặt một cái TV kiểu cũ.

– Babu bấm TV xem đi. Nhiều đài quốc tế đủ hết.
Nói xong, Tony còn cắm điện một cái lò sưởi điện nhỏ và kéo nó gần lại bên chân ông khách. Ông cám ơn và bấm nút cái hộp điều khiển tầm xa để bật thử TV. Hình ảnh hiện ra không rõ nét lắm, tiếng nói là thổ ngữ của một sắc dăn Phi châu nào đó. Ông bấm đổi qua nhiều đài khác nhưng chẳng có chương trình nào tạm cho là xem được cả. Ông tắt TV, nghe làn hơi ấm từ chiếc lò sưởi điện cá nhân bé tí tẹo lan tới ống chân. Những cọng lò xo điện trở sáng đỏ lên mấy giây rồi tắt mấy giây rồi lại cháy lên và cứ thế.
Cánh cửa phòng đợi đóng không đủ kín để ngăn tiếng động từ ngoài xưởng. Tiếng khua vỗ, tiếng va chạm các dụng cụ sửa xe, tiếng máy áp suất thổi hơi, tiếng người nói lớn giọng để đủ nghe qua khoảng cách chướng ngại là mấy chiếc xe nằm ụ. Mấy năm rồi vẫn vậy. Cuộc đời cơ cực với những bàn tay lem luốt lâu lâu cầm ly cà phê đưa lên miệng hớp để lại vết dơ. Cũng mấy ngón tay đó bốc lấy một chiếc bánh còng donut khi một khách hàng quen mở hộp đưa mời. Sức lao động đổ ra sáu ngày mỗi tuần làm quần quật để đổi lấy đồng lương, một phần trang trải chi tiêu phí tổn cho đời sống bên này, một phần gởi về nuôi thân nhân ở quê nhà lục địa đen xa tít.
Họ là những người thợ máy, yêu thích những chiếc xe đời cũ hơn. Chúng không quá tân tiến với những cơ phận điện tử rắc rối khó chẩn đoán nếu không đủ trình độ học vấn theo học các khóa kỹ thuật ở trường cao đẳng.
Sau khi mở cánh cửa sắt, Tony lo dời vài chiếc xe đậu trước tiệm và trong tiệm để lấy chỗ trống. Xong xuôi, hắn lái xe của ông già vào tiệm. Tony nhớ rồi; ông già khách hàng đó người Việt Nam vì ông thường đội cái nón có hình cờ vàng ba sọc đỏ. Hắn cũng biết sơ sơ về chiến tranh Việt Nam, phần nhiều qua lời kể của ông già này. Trao đổi đối thoại, hắn kể thân phận tỵ nạn chạy trốn chết chóc do chiến tranh triền miên nơi quê hương Eritrea của hắn, ông già nói ông thông cảm vì ông cũng từng trải qua chiến tranh.

Cậu thợ máy Wasam trẻ nhứt, có vẻ là đang học việc, tiếp tục công việc sửa chữa một chiếc xe khác còn dang dở, thỉnh thoảng hỏi vọng sang Tony xin lời hướng dẫn.
Ông già ngồi trên một cái thùng nhựa úp ngược tựa lưng vào tường. Ông nghĩ ngợi mông lung. Tiếng “babu” mà người thợ máy di dân xa lạ xưng hô với ông khiến cho ông tưởng nhớ tới 3 đứa con ruột của ông nhưng chúng đều ở xa cả, mỗi đứa một nơi. Sở dĩ hôm nay ông xách chiếc xe cũ đã 10 năm đi kiểm tra và thay nhớt là để chuẩn bị cho một chuyến đi xa mà ông nghĩ sẽ là chuyến cuối cùng tự lái xe một mình. Ông sẽ đi thăm người cô ruột, cư ngụ tận Florida, cách xa ông hai ngàn hai trăm cây số, lái xe mất nguyên một ngày. Ông dự định khởi hành sáng sớm và tới nơi sáng ngày hôm sau.
Cô ông là người cô út, chỉ lớn hơn ông sáu tuổi. Khi ông còn nhỏ ở quê nội, cô út là người trông giữ anh em ông trong khi mẹ ông và các cô lớn lo công việc sinh nhai khác. Hiện tại cô chỉ sống một mình vì chồng cô mất cũng đã lâu, các con đều đã lập gia đình sống riêng. Cô là người thân họ hàng duy nhất của ông ở hải ngoại. Cả hai cô cháu đều đã lớn tuổi, mỗi năm mỗi già yếu hơn, ông nghĩ nếu không thăm cô bây giờ thì e về sau sẽ không còn có cơ hội nữa. Lần đi thăm cô trước đây cũng đã hai năm.

Gần một tiếng sau, Tony đánh xe ra, hai bàn tay lấm lem, mặt lấm tấm mồ hôi mà vẫn nhe răng cười: “Tất cả xong rồi babu. Tui thay bằng dầu nhớt tổng hợp loại tốt, kiểm soát bốn vỏ bánh xe, kiểm bố thắng, thăm chừng mức dầu thắng, dầu hộp số, châm thêm nước rửa kính, mọi thứ an toàn.”
– “Cám ơn Tony. Tôi tin cậu luôn luôn làm việc cẩn thận. Cậu nghĩ chiếc xe nầy còn tốt hả?”
– “Quá tốt đó babu. Nó mới chạy có hơn một trăm ngàn cây số mà, gấp đôi như vậy nữa cũng còn được.”
Ông già ngắm nghía chiếc xe mười tuổi nhưng nó trông còn mới lắm; đầu xe bóng láng phản chiếu ánh sáng ban mai, bầu trời xanh mây trắng hiện rõ như gương. Ông tỏ vẻ hài lòng.
– Tôi thiếu cậu tất cả bao nhiêu?
– Bảy chục, babu.
– Như vậy có thiệt thòi cho cậu không?
– Không sao. Babu là khách hàng quen mà.
Ông già móc bóp lấy bốn tờ 20 đưa Tony:
– Cầm hết đi. Khỏi thối lại.
– Cám ơn babu. Babu đi đường bình yên nha.
– Bye Tony. Đừng làm việc quá sức nha.

Ông già chìa tay. Người thợ máy nói “Xin lỗi babu, tay tôi dơ” và khuỳnh cánh tay ra cho ông già nắm. Ông già lên xe, đóng cửa lại. Tony vỗ nhẹ lên mui chiếc xe như hiệu lệnh từ giã. Tony nghĩ ông già là một khách hàng trung thành, hiền lành dễ mến. Gần quanh vùng này có mấy tiệm sửa xe khác do người Việt làm chủ mà ông vẫn đem xe tới cho Tony sửa. Ngoài ông ra, Tony có thấy khách hàng người Việt nào khác đem xe tới đây đâu.
Nghĩ rằng giờ này chợ Tàu đã bắt đầu mở cửa, ông già lái xe đi chợ, làm bổn phận đối với gia đình. Nói vậy chớ gia đình ông chỉ có vợ chồng ông sống trong một căn nhà nhỏ, các con đã trưởng thành, đã đi xa lập thân và đã có gia đình riêng. Tiếng Anh có chữ “empty nest”, ổ trống, để chỉ những gia đình mà con cái đã ra riêng và chỉ còn có cha mẹ sống lẻ loi. Cái ổ của vợ chồng ông đã trống gần hai chục năm nay.
Chợ Tàu ngày thường lại vào buổi sáng nên thưa khách. Ông già thích như vậy vì ông đỡ phải bon chen. Ông bỏ đồng “loonie” để lấy một chiếc xe đẩy, vừa chứa đồ vừa làm điểm tựa cho đôi chân yếu của ông. Tuy ông có giấy phép đậu xe dành cho người yếu kém thể chất, từ ngữ mới lịch sự thay thế cho người tàn tật trước đây, nhưng ít khi nào còn chỗ trống cho ông đậu. Dường như xã hội này ngày càng có nhiều người già yếu bệnh tật như ông, những người lái xe hơi lạng quạng dễ cọ quẹt gây ra tai nạn nhỏ. Cũng vì thường xách xe đi chợ Tàu có bãi đậu xe chật chội lộn xộn này mà chiếc xe “Hun-đai Ê-lăng-tra” của ông trầy trụa móp méo lung tung. Ông nghĩ như vậy cũng hay vì cho dù lỡ ông quên khóa xe thì cũng chẳng có ma nào thèm lấy chiếc xe cũ đáng giá chẳng bao nhiêu này làm gì.
Đống đồ mua không nhiều lắm nhưng chuyển nhiều chuyến cũng làm ông thấm mệt. Từ kệ hàng bỏ lên xe đẩy, từ xe đẩy bỏ lên quầy tính tiền, bỏ đồ lên xe đẩy trở lại, đẩy ra bãi đậu xe, chất vào thùng xe, tới nhà lấy đồ ra xách vô nhà. Lắm khi cố cất đồ vào tủ lạnh xong, ông ra phòng khách ngã mình trên ghế sofa nằm thở. Ông nghĩ rồi mấy năm nữa khi ông đã yếu hơn nữa rồi sẽ ra sao, ông lo sợ và cảm thấy buồn.

Ông sợ một ngày ông không đủ sức lái xe nữa, chừng đó vợ chồng ông sẽ xoay sở ra sao. Ông đã soạn sẵn bản nháp di chúc nhưng chưa đưa cho vợ con xem. Ông bám lấy hy vọng là điều đó chưa cần thiết.
Ông hay nghĩ khi ông chết rồi thì vợ ông sẽ sống ra sao. Nhà chỉ có hai vợ chồng già sống nương tựa lẫn nhau. Sức khoẻ tổng quát vợ ông khá hơn, sức chịu đựng của bà bền bỉ hơn tuy bà có thân hình nhỏ nhắn và không có sức mạnh thể chất. Mỗi lần cần mở nắp lọ hũ thủy tinh có nén hơi, bà phải nhờ tới ông. Bà bị bệnh xốp xương, cổ tay yếu. Mỗi lần tưới mấy chậu hoa trong nhà, bà phải dùng bình tưới nhỏ một lít đổ lưng chưa đầy.
Vì có tính nhút nhát hay lo sợ đủ điều bất trắc và lại có thân hình nhỏ nhắn cân nặng chỉ khoảng 90 cân Anh, bà không bao giờ dám lái xe. Bà cũng rất ngại đi đường xa, dù chỉ có vợ chồng ông bà thôi. Ngược lại, ông là người thích lái xe đi chơi xa. Không rủ rê được bà cùng đi, ông đi một mình. Nhưng sức khỏe tuổi già mỗi năm mỗi tệ, ông hay nghĩ dại biết đâu đi chuyến xa này sẽ là chuyến chót. Điều ông sợ nhất là một ngày nào đó ông không được phép lái xe nữa. Mắt kém, đầu óc tính toán không còn nhanh nhẹn bén nhạy, phản ứng chậm chạp, chưa kể các tai họa có thể xảy đến từ các chứng bệnh cao huyết áp, tiểu đường, cao mỡ. “Bị rút bằng lái thà chết sướng hơn”, ông luôn bị ám ảnh bởi điều đó. Ông lệ thuộc vào chiếc xe đã quen rồi. Với ông, chiếc xe vừa là phương tiện di chuyển mà cũng vừa khẳng định cương vị của một người tự lập. Lái một chiếc xe, ông cảm thấy nhân cách vẹn tròn.

Chiếc xe này so ra còn phong độ hơn chủ của nó nhiều. Nếu thời gian hữu dụng trung bình của một chiếc xe là hai mươi năm hoặc hai trăm ngàn cây số, con ngựa chạy bằng xăng của ông chỉ mới nửa đời, mười năm, một trăm ngàn cây số. Nếu tuổi thọ trung bình của con người là 80 tuổi, thế thì xem như ông đang ở vào những năm tháng cuối đời. Có phần chắc đây sẽ là chiếc xe cuối cùng mà ông sở hữu và lái. Như một đôi bạn đồng hành hợp tính, nó và ông đã từng trải qua những chuyến đi xa thích thú. Nó luôn luôn ngoan ngoãn chuyên cần và bền bỉ. Có nó, ông yên tâm. Xa nó, ông sẽ tiếc và ngậm ngùi. Dù gì, nó đã từng chia xẻ cùng ông nhiều kỷ niệm. Những lần ông bất cẩn khi điều khiển và gây thương tích trên thân thể nó, nó âm thầm chịu đựng, chẳng phiền hà trách móc gì. Nó trầy xướt mang thẹo, ông xót xa cho nó, vợ ông thì có cớ để trách ông về cái tánh lái xe không cẩn thận. Ông tự bào chữa rằng thử hỏi lái một chiếc xe trên đường phố đông xe cộ suốt mười năm thì làm sao tránh khỏi những va chạm nhỏ, nhất là tại các bãi đậu khu chợ Tàu vừa chật chội vừa có nhiều di dân đậu xe bừa bãi bất chấp phép lịch sự.
Trong bữa cơm chiều, ông nói với bà:

– Sáng sớm anh khởi hành sớm nha em. Khoảng 6 giờ. Đồ đạc của anh thì chẳng có gì nhiều, đựng chỉ đầy một vali nhỏ cộng với cái túi mang vai, tất cả đều sẵn sàng hết rồi.
– Nếu sáng em dậy kịp thì em tiễn chào; bằng không thì mai anh đi bình yên. Nhớ chạy xe cẩn thận, lúc nào cảm thấy mệt thì ngừng lại nghỉ chớ đừng chạy cố. Nhớ passport, giấy bảo hiểm sức khỏe du lịch, thuốc men nhớ đem cho đủ.
Lời dặn dò của bà làm ông cười thầm vì cái tật chạy cố của ông nào có bỏ được đâu. Một khi đã đi thì bao giờ ông cũng muốn đi nhanh cho mau tới nơi, cứ như chạy đua để đoạt giải không bằng. Ông đã ăn giấy phạt về cái tội chạy quá tốc độ rồi mà vẫn chưa tỡn. Passport cất chung với bằng lái không thể quên; bảo hiểm cũng vậy, không có là nguy vì phí tổn nhà thương bên Mỹ mắc kinh khủng lắm.
Nôn nả bởi chuyến đi xa, mới bốn giờ sáng ông đã thức, tắm rửa cạo râu rồi xách hành trang xuống nhà. Bà đã ngồi nơi bàn ăn trong bếp. Bữa ăn sáng của ông đã sẵn trên bàn, hai lát bánh mì nho, một trái chuối và một ly sôcôla nóng. Kiểm lại hai ba lượt đủ các món phải đem theo xong, ông ra xe khởi hành trước sáu giờ khi cả xóm nhà còn im lìm lúc đèn đường chưa tắt. Bà im lặng nhìn theo.

Xe chạy bon bon trên xa lộ. Tại trạm biên giới vào nước Mỹ, ông chỉ được hỏi vài câu theo thông lệ: tới thành phố nào, để làm gì, ở bao lâu, có món gì phải khai quan thuế không. Thế là xong. Thông tin lưu trữ cho thấy ông già Á đông này vào nước Mỹ cả mấy chục lần suốt 40 năm nay rồi và chưa hề vi phạm luật lệ quan thuế biên giới. Chiếc xe 10 tuổi và người chủ hơn 74 tuổi lại thong dong lên đường suốt 3 giờ nữa rồi ngừng lại nạp năng lượng: xăng cho con ngựa bốn bánh và bữa trưa ăn nhanh cho người chủ già, cả hai nghỉ ngơi một lúc rồi lại lên đường. Lái đến khuya, ông tấp vào khu nghỉ ngơi “Rest Area” dọc xa lộ, bật ghế dài ra nằm nhắm mắt cho đỡ mệt. Nôn nóng muốn cho mau tới, ông nằm nghỉ không lâu, lại ngồi thẳng dậy rồ máy xe chạy tiếp.

Xa quê hương hơn bốn mươi năm chưa một lần về lại, ông xuống thăm Florida mà có cảm giác như một phần nào được về thăm quê nhà Chợ Gạo Mỹ Tho. Nơi vườn sau nhà Cô Tám, mấy cây đu đủ nhiều trái chín lần lượt chờ chủ hái ăn, mấy dây rau lang bò trên mặt đất nhổ lên là có củ, cây chanh cây ớt ra trái quanh năm. Con lạnh sau nhà lúc nào cũng có cá, cứ câu là được; sò ốc và cua xanh thì lái xe một đỗi tới vịnh mà bắt. Phần giống quê nhà hơn nữa là mấy con cắc kè xanh đỏ bò trên bụi cây bông giấy, mấy con cóc nhái từ vườn nhảy ra sân mỗi tối để kiếm ăn, rồi tiếng những con cò con vạc bay ngang nhà kêu buồn bã.

Ngoài phong thổ và khí hậu Florida nhắc nhớ quê xưa, đối với ông, tấm lòng nhân hậu và cách đối xử chân quê không thay đổi của người cô mới là điều ông trân quý hơn cả. Được ở bên cạnh cô, nói chuyện với cô, ông như tìm lại được một phần tuổi thơ của đời mình. Qua lời kể lại của cô, ông có thể tưởng tượng cảnh những buổi xế trưa ở nhà lồng chợ quận, khi buổi nhóm chợ sớm đã tan, nhà lồng chợ đã được quét dọn sạch sẽ để biến thành một nhà nghỉ thoáng mát, đám trẻ nhà quê tụ tập ở đó để vui chơi đùa giỡn giải trí. Cô ông, mười tuổi, nhảy cò cò, nhảy dây với mấy đứa bạn. Ông, bốn tuổi, bắn thun tạt hình. Em trai ông chưa đến thôi nôi, được cô ông đặt nằm trên thớt thịt nói o oe. Một lần nọ, xe camion chở một toán lính thuộc quân đội Việt Pháp dừng lại; vài người lính Pháp xuống xe đem một ít bánh kẹo phát quà cho đám trẻ.

Lái xe đường dài một mình, ông tha hồ nghĩ ngợi miên man, để tâm trí trôi về kỷ niệm trong dĩ vãng. Khi xe qua khỏi tiểu bang Georgia và bắt đầu vào địa phận Florida, ông bắt đầu nhìn thấy nhiều hàng cây hoa bằng lăng trắng, hồng, tím trồng hai bên đường; lòng ông dâng lên cảm giác nôn nao. Nhờ xe có gắn máy định vị toàn cầu và nhờ ông tương đối đã quen đường sá, ông đến nhà cô ông không trở ngại.
Ông nhấn chuông cửa, hồi hộp chờ đợi. Người cô bước ra, một tiếng reo sửng sốt: “Mầy hả Hoàng?”
Ông già dằn nỗi mệt nhọc: “Dạ, cháu đây cô! Cô Tám khỏe không?”
– “Lúc mưa lúc nắng mầy ơi. Còn mầy thì sao?”
– “Thì cũng như cô vậy, khi vầy khi khác.”
Hai mái đầu bạc kề nhau; hai vòng tay mở rộng; hai tâm hồn trôi về kỷ niệm dĩ vãng của thời gian và không gian xa lắc xa lơ. Chiếc xe cũ đậu ở lối đi, dửng dưng sau một chuyến đi dài.

Phan Hạnh

Comments are closed.

error: Content is protected !!