Thời Báo Vietnamese Newspaper

Chuyện đi nghỉ hè của người Mỹ

Huy Lâm

Người Mỹ thường bị mang tiếng là dân tộc lười nghỉ phép. Trong nhiều năm, theo dữ liệu của Hiệp hội Du lịch Hoa Kỳ, hơn một nửa người lao động Mỹ không dùng hết những ngày nghỉ phép được trả lương của họ. Tuy nhiên, trong một cuộc khảo sát gần đây cho thấy có 71% người trả lời nói rằng họ dự tính sẽ đi nghỉ hè năm nay, tăng từ 58% trong năm ngoái – mà đây là nghỉ hè để đi chơi xa thật sự trong nhiều ngày chứ không chỉ là lấy một hay hai ngày nghỉ để làm những công việc quanh nhà hoặc đưa gia đình ghé chơi công viên giải trí qua loa rồi về.
Cái khái niệm cho rằng việc nghỉ phép đóng một vai trò quan trọng cho sức khoẻ và mang lại hạnh phúc cho cuộc sống là điều đã được chấp nhận từ hàng ngàn năm trước. Người Hy Lạp cổ có thể không phải là dân tộc phát minh ra ngày nghỉ phép nhưng họ đã hoàn thiện ý tưởng về địa điểm du lịch bằng cách cung cấp các tiện nghi cần thiết cho khách du lịch tại các lễ hội, nơi hành hương tôn giáo và suối nước nóng thiên nhiên mà nhiều người Hy Lạp ưa tới để nghỉ ngơi tĩnh dưỡng.

Người La Mã thì đi nghỉ phép theo một cách khác. Thay vì du lịch tới những thành phố ở ngoại quốc, người giàu La Mã thích đi nghỉ theo nhóm tại những thị trấn nghỉ mát như Pompeii, là nơi họ cho xây những biệt thự tráng lệ với nhiều khu giải trí rộng lớn. Tương truyền rằng bạo chúa Nero đang nghỉ ngơi tại lâu đài của ông ngay sát bờ biển Antium, nơi ngày nay gọi là Anzio, khi thành Rome bốc cháy vào năm 64 sau Công nguyên.
Thời trung cổ, người Âu châu lại thích lấy những ngày nghỉ phép để đi hành hương ở những nơi đất thánh. Thánh đường Santiago de Compostela ở miền bắc Tây Ban Nha, nơi tín đồ Ki tô giáo tin là có ngôi mộ của Thánh James, là một trong những địa điểm thu hút khách du lịch thời đó, chỉ đứng sau thành Rome. Và người đi hành hương thời đó được cung cấp đủ mọi dịch vụ, từ ăn uống tới vận chuyển, không khác gì khách du lịch thời nay đi chơi trên các tàu du lịch cruise vậy.

Đến cuối thế kỷ 17, nghỉ phép trở về với ý nghĩa nguyên thuỷ của nó khi giới quý tộc Âu châu tìm thấy lại những thú vui hưởng thụ trong những chuyến du lịch. Người ta tổ chức những chuyến đi ngoại cảnh qua các thành phố thời Phục hưng ở Pháp và Ý. Những thị trấn có suối nước nóng hồi sinh trở lại để những người bệnh và người hiếm muộn tới đó tịnh dưỡng. Những nhà tắm công cộng ở Anh trở nên nổi tiếng với cảnh tiệc tùng quy tụ rất đông khách du lịch.
Riêng với người dân Mỹ có thể nói là khá chậm chạp trong thú vui hưởng thụ này và lý do một phần có lẽ là vì còn trong thời kỳ chuyển tiếp từ thuộc địa qua một quốc gia độc lập với bao nhiêu chuyện phải lo toan thì còn thì giờ đâu cho việc đi nghỉ mát. Mặc dù vậy, khoảng đầu thế kỷ 19, một thị trấn có tên là Saratoga Spring thuộc New York trở thành nơi nghỉ mát nổi tiếng với những suối nước nóng thiên nhiên.
Nhưng khu nghỉ mát đó và một vài khu nghỉ mát sang trọng khác với những khách sạn hoành tráng và những nơi ăn chơi giải trí rất mắc mỏ chỉ dành cho dân có tiền. Những người dân Mỹ trung bình thời đó không bén mảng đến được nên chỉ quanh quẩn ở những nơi gần nhà.

Tuy nhiên, vào mùa xuân năm 1869 có thể xem như là khúc quanh trong lịch sử du lịch của người Mỹ khi một nhà thuyết giáo còn khá trẻ tên William H. H. Murray cho xuất bản một cuốn sách mỏng nói về một khu thiên nhiên hoang dã. Đó là khu rừng núi Adirondack Mountains rộng 9,000 dặm vuông với hồ nước, rừng rậm và sông ngòi nằm ở phía bắc của tiểu bang New York mà Murray mô tả trong sách và đưa ra ý tưởng vào thời ấy bị cho là kỳ quặc rằng một chuyến du ngoạn vào thiên nhiên hoang dã có thể là một điều kỳ thú.

Trước đó, hầu hết người Mỹ khi nói đến những khu vực thiên nhiên hoang dã thì đều xem những nơi ấy như là những vùng đất với những chướng ngại cần được chinh phục. Nhưng với cuốn sách hướng dẫn của Murray, có tựa đề là “Phiêu du vào nơi hoang dã” (Adventures in the Wilderness), lại cho rằng đi bộ, chèo thuyền và câu cá trong thiên nhiên hoang dã cũng giống như một liều thuốc bổ vạn năng cho những người dân sống ở thành thị mà thể chất bị làm cho suy nhược đi bởi những đòi hỏi của cuộc sống văn minh.

Quan niệm có vẻ như mới mẻ này thực ra đã được người dân Âu châu chấp nhận từ lâu rồi, nhưng với người Mỹ lúc đó vẫn còn trong thời kỳ vỡ lòng về cuộc sống hưởng thụ và ý tưởng đi nghỉ mát như trên vẫn còn khá xa lạ với công chúng. Năm 1869, sau những kinh hoàng của cuộc nội chiến và đang trong thời kỳ kỹ nghệ hoá của đất nước, cuốn sách của Murray bỗng trở thành một cuốn bán chạy như tôm tươi. Người đọc bị mê hoặc bởi lốinhìn của Murray về một khu vườn địa đàng thuần khiết ở Adirondacks, nơi có hàng trăm hồ nước nằm ẩn sâu trong rừng lấp lánh “như những viên đá quý … giữa tấm thảm nhung một màu xanh biếc.” Murray lập luận cho rằng cuộc sống thành thị mang bầu không khí bệnh hoạn và đầy áp lực tạo nên những căng thẳng dữ dội, bất thường có hại cho sức khoẻ. Ngược lại, tính chất hoang dã của thiên nhiên có khả năng phục hồi cả tinh thần lẫn thể xác. Rồi Murray chỉ ra cho người đọc thấy có một đường xe lửa vừa mới được khánh thành một năm trước đó, và như vậy có nghĩa là cái thế giới thiên nhiên huyền hoặc kia chỉ cách những thành phố như New York hoặc Boston 36 giờ di chuyển. Ý kiến đó đánh trúng vào tâm lý của đám đông, và cuốn sách của Murray đã in tới ấn bản thứ mười chỉ trong vòng bốn tháng.

Mùa hè đầu tiên của năm 1869 đó, khu vực Adirondacks tràn ngập những khách du lịch tương lai, mỗi người cótrong tay cuốn sách của Murray và một tấm bản đồ – và với dòng người cuồn cuộn đổ vào khu vực nên đã được báo chí gọi là “cơn sốt Murray”. Sau này có người mô tả lại cảnh người ta chen lấn nhau như một đàn cá đói ăn. Không may, mùa hè đó cũng là một trong những mùa hè lạnh và ướt át nhất trong lịch sử của Adirondacks, và cả khu vực hoàn toàn không giống như một nơi đầy thơ mộng như Murray đã tả trong sách. Trong đó nhiều người lại không chuẩn bị để mang theo mùng mền và những đàn muỗi đen kịt đã biến những người đến cắm trại thành những tảng thịt tươi ngon lành cho chúng. Một vài quán trọ cũ kỹ lúc trước chỉ phục vụ cho một số ít thợ săn thì nay không đủ chỗ chứa. Một quán trọ chật người đến nỗi người chủ quán tham lam thu tiền khách trọ tính theo giờ. Một số dân địa phương chưa từng có kinh nghiệm thì nay bỗng biến thành những hướng dẫn viên bất đắc dĩ cho đám khách thành thị, và để tăng thêm phần hỗn loạn bằng cách vô tình dẫn họ đi lạc, rồi cho cắm trại trên những khu đầm lầy tiêu điều ảm đạm.

Nhưng rồi mùa hè thảm hại đó cũng không ngăn người ta trở lại với Adirondacks. Và khi mùa nghỉ hè năm 1870 đến với khí hậu ấm áp và trong sáng, cả khu vực biến thành nơi nghỉ mát thu hút thật đông người.
Đến năm 1875, đã có 200 khách sạn và khu cắm trại được xây dựng và hoạt động, với những đoàn xe phục vụ đưa đón khách từ các nhà ga gần đó và những chiếc tàu hơi nước qua lại như mắc cửi trên các bờ hồ. Đến năm 1900, dân số Adirondacks vào mùa hè tăng từ 3,000 vào năm 1869 lên đến 25,000 người. Vì là nơi thiên nhiên hoang dã nên thu hút những khách du lịch mê câu cá và săn bắn đã đành, nhưng Adirondacks còn thu hút cả những đại gia thời ấy như Vanderbilt, Rockefeller, Carnegie, Huntington và rất nhiều những nhà tư bản giàu sụ khác đến xây những trại nghỉ hè thật lớn đủ chỗ ở cho cả đại gia đình của họ.

Kể từ đó những chuyến đi nghỉ hè của người Mỹ ra đời theo đúng ý nghĩa của nó. Dân thành thị sẽ bỏ trống căn nhà của họ ở những phố xá đông đúc để đi nghỉ tại những khu bờ hồ yên tĩnh mát mẻ vào mỗi dịp hè, và danh từ “đi nghỉ hè” (vacation) được người Mỹ thay thế cho danh từ “nghỉ lễ” (holiday) của người Anh trong những câu chuyện trao đổi khi trà dư tửu hậu.

Khởi đầu với chỉ một cuốn sách mỏng mà nay nơi ấy đã trở thành một khu vực hoang dã rộng lớn, trong đó có khoảng 3,000 hồ nước, được bảo vệ như một phần của công viên Adironbacks – trải rộng 6.1 triệu mẫu, lớn hơn các công viên quốc gia Yellowstone, Yosemite và Glacier cộng lại. Công viên được thành lập năm 1892 do các nhà bảo tồn thiên nhiên lo ngại khu vực hoang dã này có thể sẽ bị ảnh hưởng do việc đốn cây và một số ngành kỹ nghệ khác trong vùng. Quốc hội tiểu bang New York còn để riêng ra 680,000 mẫu để được bảo tồn trong tình trạng hoang dã mãi mãi. Và hiện nay mỗi năm công viên tiếp đón hơn bảy triệu khách viếng thăm.

Chỉ vài thập niên sau khi cuốn sách của Murray được xuất bản, những dịp đi nghỉ hè đã trở thành một truyền thống của người dân Mỹ. Năm 1910, Tổng thống William Howard Taft đề nghị với quốc hội làm luật để tất cả những người lao động ở Mỹ được hưởng từ hai đến ba tháng nghỉ phép ăn lương mỗi năm. Tuy nhiên lời đề nghị này đã bị ngâm tôm, và đến năm 1919, Pháp trở thành quốc gia đầu tiên thông qua đạo luật bảo đảm người lao động Pháp được nghỉ phép có lương. Kể từ đó, hầu hết các quốc gia phát triển đều công nhận quyền được nghỉ phép ăn lương của người lao động. Riêng nước Mỹ cho đến nay vẫn chưa có luật nghỉ phép này mặc dù hầu hết các hãng xưởng đều trả lương nghỉ phép như một phần phúc lợi của nhân viên.

Kể cũng lạ, nước Mỹ đi tiên phong trong nhiều lãnh vực, nhưng riêng chuyện hưởng thụ để đi du lịch nghỉ mát thì lại chậm hơn hết.

Huy Lâm

Comments are closed.

error: Content is protected !!