Thời Báo Vietnamese Newspaper

Chuyện bên nhà: Trường Sư phạm Qui Nhơn và Trịnh Công Sơn

ĐOÀN DỰ ghi chép

Trịnh Công Sơn qua lời kể của Nguyễn Thanh Ty, một người bạn rất thân cùng học tại trường Sư Phạm Quy Nhơn và dạy cùng một nơi, trọ cùng một nhà với Trịnh và mấy anh em khác ở Bảo Lộc (Blao). Chúng tôi hy vọng lời kể vể một quãng đời của Trịnh Công Sơn sẽ đem đến với quý bạn nhiều chi tiết rất thú vị có lẽ còn ít người biết nếu chúng ta không đặt câu hỏi Trịnh Công Sơn là CS hay không CS, bởi vì ngay chính những người bạn rất thân ở cùng nhà với Trịnh Công Sơn cũng không biết.
Vì lời kể này khá dài nên chúng tôi mạn phép phân làm hai kỳ. Kỳ I: Trịnh Công Sơn lúc học tại trường Sư phạm Quy Nhơn và khi đi dạy tại trường Sơ cấp người Thượng tại Bảo Lộc. Kỳ II: Trịnh Công Sơn với việc sáng tác, sau đó bỏ nghề dạy học và… trốn quân dịch. Xin mời quý bạn nghe câu chuyện của Nguyễn Thanh Ty để hiểu rõ về người nhạc sĩ nổi tiếng nhưng cũng có những tính chất khá đặc biệt này.
 

I. Hai năm tại trường Sư phạm Quy Nhơn (1962-1964)

Tôi học chung một khóa Sư phạm với Trịnh Công Sơn, khóa I, tức khóa đầu tiên được mở vào ngày 22- 4-1962 tại Quy Nhơn, tên gọi là khóa Thường Xuyên, 2 năm. Tiêu chuẩn thi vào là ít nhất phải có Tú Tài I. Tuy nhiên, khóa ấy đa số thí sinh đều đã có Tú Tài II, một số đã có 1 hoặc 2 chứng chỉ đại học. Trong số 300 giáo sinh được chấm đậu, đa phần đều là người Huế, chiếm khoảng 60%; 40% còn lại rải rác từ các tỉnh Bình Định, Phú Yên, Nha Trang, tới tận các tỉnh cao nguyên như Đà Lạt, Lâm Đồng, Pleiku, KonTum…
Đa số chúng tôi lúc ấy đều là con nhà nghèo, hoặc học hành dở dang, hoặc không đủ khả năng tài chánh để vào Sài Gòn hay ra Huế học đại học. Cho nên cố thi vào Sư phạm để chắc chắn sau hai năm sẽ có công ăn việc làm nuôi bản thân và giúp gia đình. Nhắc lại ở đây, lúc ấy Bộ Giáo Dục và Bộ Y Tế rất thiếu nhân viên, khóa nào vừa đào tạo xong là được bổ nhiệm liền, lương lại tương đối cao. Trong khi đó những ngành khác như Công chánh, Nông Lâm Súc, tốt nghiệp ra trường nằm nhà nhiều năm vẫn chưa được tuyển dụng.

Trường Sư phạm Quy Nhơn và các giáo sinh ngày ấy (niên khóa 1967-68)

Trịnh Công Sơn theo ban Pháp văn, tôi theo ban Anh văn. Những ngày mưa gió ủ ê, không đi ra ngoài được vì đất nhão, chúng tôi nằm khoèo ở nhà, Sơn kể cho tôi nghe về cuộc đời Sơn, nhiều chuyện vui buồn lẫn lộn. Chuyện gia đình Sơn là một trong những chuyện buồn. Cha mất sớm, gia đình khánh kiệt, má Sơn phải chật vật lắm mới nuôi nổi 8 người con, 3 trai, 5 gái, Sơn là anh cả. Sơn phải bỏ học, về lại Huế phụ giúp mẹ. Sư phạm Quy Nhơn là con đường ngắn nhất có thể giúp Sơn đạt được ý nguyện này. Đơn giản vậy thôi!

Hiệu trưởng trường là thầy Đinh Thành Chương. Trường Sư Phạm và trường Kỹ Thuật Quy Nhơn được ngân sách Mỹ tài trợ xây cất rất qui mô và tân kỳ, tọa lạc tại Khu Sáu, sát bờ biển, ở khoảng giữa con đường từ thành phố Quy Nhơn đến Ghềnh Ráng, nơi thi sĩ Hàn Mặc Tử an nghỉ ngàn thu. Đi một lúc nữa là đến trại cùi Quy Hòa, ở đấy có nhiều bà sơ tận tụy suốt đời chăm sóc cho các bệnh nhân mắc phải chứng bệnh nan y: bệnh phong cùi.

Lúc bấy giờ (khoảng năm 1962 – 63) thành phố Quy Nhơn hãy còn tiêu điều. Ngay con đường chính là đường Gia Long chạy từ Núi Một (chỗ ga xe lửa) đến bến Cảng hãy còn nhiều ngôi nhà xơ xác, đổ nát, vôi vữa hoang tàn trong chiến tranh, chưa có ai dọn dẹp. Đường Lê Lợi từ trung tâm thành phố chạy thẳng ra biển còn rất nhiều nhà tranh vách lá. Gợi lại một vài cảnh cũ để thấy chính phủ lúc đó có dụng ý khi cho xây hai ngôi trường đại qui mô (trường Sư phạm và trường Kỹ thuật), đào tạo hơn một ngàn giáo sinh và học sinh kỹ thuật mỗi năm là để vực dậy nền kinh tế sắp tới ở nơi đây.

Để giới thiệu và quảng bá rộng rãi cho nhiều nơi biết tiếng về trường Sư Phạm, ban giám đốc nhà trường cho thành lập Ban văn nghệ, sẽ trình diễn một chương trình độc đáo chưa từng có ở Quy Nhơn từ trước đến nay. Trịnh Công Sơn được bầu làm trưởng ban, chịu trách nhiệm tổng quát; Thanh Hải phó ban thứ nhất, chịu trách nhiệm về nhạc; Võ văn Phòng, phó ban thứ hai, chịu trách nhiệm một vở kịch thơ nhan đề “Tiếng cười Bao Tự”. Tôi được chọn phụ trách phần thổi sáo đệm cho thơ trong suốt vở kịch dài hơn 45 phút. Trong dịp này tôi mới biết và quen Trịnh Công Sơn. Buổi trình diễn được dự trù đúng vào ngày Song Thất năm đó (7/7/1962) chứ không phải đợi đến ngày mãn khóa như ông Đinh Cường đã nói.
Trong thời gian này,Trịnh Công Sơn sáng tác trường ca “Tiếng hát Dã tràng” hay gọi ngắn hơn là “Dã tràng ca” làm tiết mục mở màn mà cũng là tiết mục đặc sắc nhất, công phu nhất. Nhạc trưởng Trịnh Công Sơn với ban hợp xướng do anh tuyển chọn gần 50 người, khổ công trong ba tháng trời tập luyện đã thành công tuyệt vời trước sự ngạc nhiên đầy thích thú của quan khách và khán giả. Tôi không ở trong ban hợp xướng đó nên không thuộc bài “Dã tràng ca” này, chỉ nhớ lõm bõm câu được câu mất, xin ghi ra đây:

“Dã tràng…Dã tràng… Dã tràng…
Dã tràng xe cát biển Đông, Dã tràng xe cát hoài công.
Trùng dương ơi…Trùng dương ơi vỗ sóng vào bờ …
…Thôi còn gì nữa đâu, còn gì nữa đâu…Đời lên cơn đau…
Xuân , Hạ, Thu, Đông bốn mùa làm rét mướt…
Tôi gọi tên tôi giữa nước non ngàn.
..”

Cũng trong thời gian học Sư phạm, Trịnh Công Sơn còn sáng tác những nhạc phẩm khác như Biển nhớ, Nhìn những mùa thu đi, Nắng Thủy tinh và một số nhạc thiếu nhi cho chúng tôi sử dụng khi đi thực tập, dạy các em nhỏ. Những bản nhạc ngắn, dễ hát, dễ nhớ như Ông Tiên vui, Ông mặt trời, tôi xin ghi lại một bài tượng trưng:

Ông Tiên vui
“Ông Tiên vui,ông có cái râu dài.
Đêm ông về nằm yên trên đỉnh mây.
Hôm em lên ông chợt đi đâu vắng!
Lúc em về, em buồn đến ngẩn ngơ.
Ông Tiên vui ông có cái căn nhà,
trên ngọn đồi hằng đêm ông ghé qua.
Hôm em lên ông chợt đi đâu vắng!
Lúc em về, em buồn đến ngẩn ngơ…”.

Xin nhắc lại, Quy nhơn lúc ấy còn nghèo lắm. Cả thành phố có mỗi một quán kem duy nhất, vừa bán kem, vừa bán cà phê thuốc lá, bia, trà. Đó là quán Phi Điệp, nằm trên đường Phan Bội Châu, đối diện với hội trường Quy Nhơn, nơi chúng tôi đã trình diễn văn nghệ. Mỗi buổi chiều hoặc tối, anh chị em nào có tiền thì vào quán kêu một bình trà ngồi với nhau nhâm nhi, nghe nhạc. Khá một chút nữa thì kêu chai bia với một tô bò viên gân, ngầu pín, của ông ba tàu đậu cái xe phở trước cửa quán. Thế là sang lắm rồi. Còn những anh chị nào “bô xu” thì ra bờ biển ngồi ngắm trăng suông. Biển Quy Nhơn là biển bùn nên cát ở đấy màu vàng xỉn trông dơ dáy, không trắng như biển Nha Trang. Dọc theo bãi biển là một hàng dương, chạy dài đến bệnh viện Nguyễn Huệ là xóm chài. Tuyệt nhiên không có một lều quán hay kiosque nào bán cà phê, bia rượu gì cả. Trịnh Công Sơn và Tôn Nữ Bích Khê có hẹn hò ra đó với ông Đinh Cường thì cũng chỉ để ngắm trăng vàng vỡ vụn trên sóng biển mà thôi.

Một lớp trong trường Sư phạm Quy Nhơn (niên khoá 1964-65)

II. BA NĂM TẠI BLAO TỨC QUẬN BẢO LỘC

Sau hai năm, mãn khóa, chúng tôi tốt nghiệp ra trường. Tôi và Trịnh Công Sơn cùng bốn giáo sinh khác là Nguyễn Thị Ngọc Trinh (Huế), Nguyễn Văn Sang, Trương Khắc Nhượng, Đỗ Thị Nghiễn (Nha Trang), cùng được bổ nhiệm chung một Sự vụ lệnh đến nhận nhiệm sở sẽ do Ty Tiểu Học Lâm Đồng phân phối. Sự vụ lệnh mang số 961-GD/NV/38/SVL, tạm thời tuyển bổ, do ông Nguyễn Hữu Quyến, Xử lý thường vụ Hiệu trưởng Trường Sư Phạm Quy Nhơn ký ngày 4/8/1964.

Sau 2 năm đi dạy (gọi là tập sự), chúng tôi được điều chỉnh tuyển dụng bằng Nghị định mang số 596-GD/NV/BC/QĐ do XLTV Đổng lý Văn Phòng, Phụ tá chuyên môn Phạm Văn Thuật ký ngày 6/5/1966. Đến năm 1967, chúng tôi mới được chính thức bổ dụng bằng Nghị định mang số 687/GD/NV/3BC/NĐ kể từ ngày 1/9/1966 do TUN (thừa ủy nhiệm) Ủy Viên Giáo Dục Đổng lý văn phòng Huỳnh Ngọc Anh ký ngày 7/4/1967. Với chỉ số lương 320 cộng thêm phụ cấp đắt đỏ vùng cao lúc bấy giờ. Chúng tôi lãnh được 5.200 đồng, tương đương với 2,5 lượng vàng Kim Thành. Vật giá lại rất rẻ. Tiền ăn, ở mỗi tháng chỉ hết 600 đồng. Chai bia lớn Con Cọp 3 đồng. Một dĩa thịt bò lúc lắc 4 người ăn giá 7 đồng. Tô phở 3 đồng, cà phê loại ngon 1 đồng. Cơm bữa với ba món canh, xào, mặn: 6 đồng. Thời gian từ 1964-67 chúng tôi sống sung sướng, tiêu pha rộng rãi mà vẫn còn rủng rỉnh tiền.


Tôi từ Nha Trang lên theo đường Nha Trang – Đà Lạt rồi đến Bảo Lộc. Trịnh Công Sơn từ Huế bay vào Sài Gòn, rồi từ Sài Gòn đi xe đò lên Bảo Lộc. Không hẹn mà gặp lại nhau trên bến xe vắng vẻ, thưa thớt bóng người.

Blao (Bảo Lộc) là đây sao? Một phố quận vào chiều thứ sáu sao mà vắng lặng, buồn hiu hắt đến thế. Trời lại mưa lâm râm, lành lạnh. Hai chúng tôi, mỗi người một va ly quần áo nhẹ tênh, lang thang tìm người để hỏi thăm đường đến Ty Tiểu Học Lâm Đồng. Lúc bấy giờ, thị xã Đà Lạt còn biệt lập với tỉnh Lâm Đồng. Tỉnh Lâm Đồng chỉ vỏn vẹn có hai quận: Blao (Bảo Lộc) và Djiring (Di Linh). Trước năm 1960, Tòa Hành chánh tỉnh đặt ở Di Linh. Sau dời về Bảo Lộc mới mấy năm khi chúng tôi đến, nên trông nó như một thị trấn nhỏ vừa mới bắt đầu tạo dựng.

Chúng tôi tìm được tới Ty thì trời đã sụp tối mặc dầu chưa đến 6 giờ. Sương mù bốc lên từ mặt đất, bay là đà dưới chân. Ty chỉ cách bến xe non nửa cây số. May mắn, lúc ấy bác lao công đang khóa cửa chuẩn bị ra về. Khi biết chúng tôi là giáo viên mới được bổ đến, bác ân cần mời về ở tạm tại nhà bác qua đêm.
Đêm đó chúng tôi trải chiếu, chăn, nằm dưới nền nhà, 5 người bạn trẻ – trừ anh Lãng nằm trên giường – tuổi chỉ từ 24 đến 26, cùng nhau trao đổi những câu chuyện quê hương dần từ Sài Gòn ra đến Huế rồi thiếp vào giấc ngủ. Lúc bừng thức dậy là đã 9 giờ sáng.

Đến sáng Thứ Hai, trình diện tại Ty để chờ bổ nhiệm, chúng tôi gặp hầu hết các bạn khác từ các nơi cũng đã đến từ ngày Thứ Bảy hay Chủ Nhật. Dân Sư phạm Quy Nhơn gồm: Nguyễn Thị Ngọc Trinh, Đỗ Thị Nghiễn, Trương Khắc Nhượng. Sư phạm Sài Gòn gồm: Nguyễn Hảo Tâm, Nguyễn Văn Ba, Nguyễn Văn Tâm, Trần Văn Nghị và 3 nữ là các cô Nguyệt, Châu, Hải. Sư phạm Long An chỉ có một ngoe là “chàng” Ngô Thanh Bạch.
Trưởng ty đương thời là ông Trương Cảnh Ngôn, sắp về hưu. Tôi, Trương Khắc Nhượng, Đỗ Thị Nghiễn và Nguyễn Hảo Tâm được bổ về Trường Tiểu học Tân Bùi, cách Bảo Lộc 5km. Nguyễn Thị Ngọc Trinh được bổ về Trường Nữ Bảo Lộc ngay tại trung tâm phố quận. Nguyễn Văn Ba ở lại Ty làm phụ tá kế toán. Riêng Trịnh Công Sơn được biệt nhãn hơn, được bổ về một trường Sơ cấp đồng bào Thượng, ở cách Ty chừng non cây số, với chức… Trưởng giáo.

Xin giải thích ở đây, theo qui chế của Bộ Giáo Dục VNCH, một trường chỉ có 4 lớp trở xuống thì gọi là trường Sơ cấp, người đứng đầu là Trưởng giáo. Trường có từ 5 lớp trở lên gọi là trường Tiểu học, người đứng đầu là Hiệu trưởng và được phụ cấp 200$/tháng, nhưng nếu chỉ có 9 lớp trở xuống vẫn phải phụ trách một lớp, còn từ 10 lớp trở lên thì được miễn dạy. Riêng “Trưởng giáo” một trường Sơ cấp có 4 lớp trở xuống như Trịnh Công Sơn thì có danh hiệu là đứng đầu trường vậy thôi chứ không có phụ cấp chức vụ 200$/tháng như hiệu trưởng một trưởng tiểu học, và vẫn phải đảm nhiệm 1 lớp.

Ngạch của chúng tôi là Giáo học bổ túc tập sự (sau 2 năm mới được vào chính ngạch), chỉ số lương 320 tức 5.200 đồng/tháng, do ngân sách Bộ Giáo dục đài thọ như đã nói ở trên.
Sau khi phân bổ xong, chúng tôi được Ty cho phép nghỉ 1 tuần để lo thu xếp nơi ăn chốn ở, Thứ Hai tuần tới mới phải đi dạy.

Khi từ Ty về đến nhà trọ, chúng tôi lăn bò ra cười với cái chức “Trưởng giáo” của Trịnh Công Sơn, vì liên tưởng tới các chức Trưởng lão bốn túi, năm túi trong Cái bang hay Giáo chủ Ma giáo trong các truyện chưởng của Kim Dung.

Mấy ngày thong thả, chúng tôi đi dạo khắp nơi để tìm nhà trọ nhưng không nơi nào vừa ý. Nhất là nhà vệ sinh thì khiếp quá. Có ai đó mách chúng tôi, ở gần Ty Công chánh có ngôi biệt thự vừa xây xong, chủ nhà ngỏ ý muốn cho thuê, nhưng hơi đắt. Tôi và Sơn đến ngay. Nhà rất đẹp, tọa lạc trên một khu quang đãng, thoáng tầm nhìn. Chủ nhà là một bà trạc ba mươi tuổi, người mảnh dẻ, hiện là trưởng phòng kế toán của Ty Công chánh Lâm Đồng. Sau khi nói chuyện dăm phút, chúng tôi bằng lòng thuê toàn bộ căn nhà, chừa cho bà và đứa con gái nhỏ một phòng để ở, với giá 1200 đồng một tháng. Trên đường về nhà, Sơn lẩm bẩm: “Đàn bà mà tên là Phi, lại lót chữ thị: Thị Phi…Thị Phi !”. Sơn tủm tỉm cười một mình. Tôi biết Sơn đang nghĩ về bà chủ nhà, trẻ, đẹp, sống một mình.

Chúng tôi rủ thêm hai người bạn nữa để chia phòng cho đỡ tiền. Hai anh Nguyễn Hảo Tâm và Nguyễn Văn Ba đến xem nhà bèn đồng ý ngay. Tôi và Sơn có công tìm nhà nên được ưu tiên ở căn phòng phía trước, có cửa sổ quay ra mặt đường. Tâm và Ba căn phòng kế. Bà chủ cùng đứa con gái ở phòng sau cùng. Những ngày chúng tôi sống trong ngôi “biệt thự” của bà Trần Thị Phi thật là vui nhộn. Cũng chính trong căn phòng có khuôn cửa sổ ngó ra con đường đất đỏ trước mặt của căn nhà này, Trịnh Công Sơn đã sáng tác các nhạc phẩm: Chiều một mình qua phố, Lời buồn thánh, Vết lăn trầm và Ca khúc da vàng.
Ngày lãnh lương đầu tiên

Mới hôm nào vừa trình diện để nhận nhiệm sở, thoáng cái đã đến cuối tháng, được lãnh lương. Ngày lãnh lương đầu tiên, chúng tôi ai nấy đều háo hức đến Ty thật sớm để ký tên vào sổ lương, lãnh một món tiền lớn do chính mình làm ra, món tiền mà từ xưa tới nay cá nhân tôi chưa hề được cầm trong tay. Hai năm tôi trọ học ở Quy Nhơn, cha mẹ tôi phải khó nhọc lắm mới dành dụm được 600$ hàng tháng để gửi cho tôi chi tiêu. Có tháng chậm, tới ngày mồng 10 vẫn chưa nhận được tiền mà tôi cũng không dám viết thư về giục, vì tôi hiểu hoàn cảnh của mình là con nhà nghèo.

Lãnh lương xong, ra khỏi cửa, Sơn sải chân đi thật lẹ. Sơn vốn cao, chân dài. Tôi thấp, chỉ tới tai Sơn, chân ngắn, nên phải nhảy ba bước một, mới bắt kịp. Vừa thở, vừa kêu Sơn đợi. Sơn không đáp cứ cắm đầu đi thẳng. Vừa vào phòng, Sơn khóa ngay cửa lại. Tôi ngạc nhiên coi anh chàng làm cái trò gì đây. Sơn để nguyên quần áo, giầy vớ nằm vật ngửa ra đi văng, tay rút trong túi quần ra cái phong bì tiền lương lúc nãy, mở phong bì, nắm hết nắm tiền 5200$ gồm giấy 5$, 10$, 50$ tung lên trên trần nhà. Giấy bạc mới tinh, phát ngân viên Thành vừa lãnh từ kho bạc ra, rơi lả tả xuống người Sơn, rơi xuống đi văng. Sơn hốt lên, tung trở lại. Sơn cười sằng sặc. Sơn cười ha hả. Tiếng cười nghe là lạ. Nó pha lẫn niềm vui và nỗi phẫn hận. Rồi Sơn chửi thề: “Đù mạ mi! Đù mạ mi! Tiền! Tiền!”. Đó là lần đầu tiên tôi nghe Sơn chửi thề. Và cũng là lần duy nhất suốt ba năm sống chung với nhau. Tôi để mặc Sơn tự do trong những giây phút ấy. Tôi không muốn xen vào để quấy rầy Sơn đang đắm chìm trong thế giới riêng tư của anh. Tôi yên lặng đếm số tiền của mình một cách chậm rãi. Từng tờ, từng tờ. Tôi để mười ngón tay cảm nhận đầy đủ cái cảm giác sung sướng đang rung lên từng chập với tiếng kêu sột soạt của những tờ bạc mới chạm vào nhau. Cái âm thanh sao mà dễ thương đến thế. Cái mùi giấy bạc mới sao mà thơm đến thế! Đầu óc tôi phác họa mau lẹ một kế hoạch. Hãy trích 3000$, ra bưu điện mua ngay một cái măng-đa gửi về cho Má. Chắc Má mừng và vui lắm khi nhận được số tiền này do thằng con gửi về. Thằng con do một tay bà nuôi nấng chắt chiu, dành dụm từng đồng của gánh hàng đè nặng trên vai bà hàng ngày, để ngày hôm nay bà sung sướng và hãnh diện âm thầm không dám thổ lộ cùng ai. Con bà đã thành ông giáo!

Chiều hôm đó chúng tôi không ăn cơm nhà. Phải tự khao một chầu linh đình mới được. Tại nhà hàng Ngọc Hương (bấy giờ ông bà chủ quen mặt chúng tôi quá rồi) có mặt đông đủ những ông giáo trẻ vừa mới có được thành tích: một tháng công vụ. Đêm đó chúng tôi tưng bừng ăn uống, cười nói hả hê. Ra về lúc chín giờ, điện cúp. Bá vai nhau đi khệnh khạng, xiên xẹo giữa phố vắng dày đặc sương mù. Đến cuối dốc cầu, xếp hàng ngang, vạch quần,vừa đi vừa tè, vẽ thành rồng, rắn loang lổ trên mặt đường nhựa. Ôi! một thời tuổi trẻ vô tư, hồn nhiên.

Một thầy, một cô, một chó cái…

Tôi không hình dung được lúc ông Cao Bá Quát làm Giáo thụ ở phủ Quốc Oai cái cảnh nó ra làm sao mà ông tả oán bằng những câu thê thảm: “Một thầy, một cô, một chó cái. Học trò dăm đứa, nửa người nửa ngợm nửa đười ươi”.
Nhưng cái cảnh ông Trưởng giáo Trịnh Công Sơn dạy học ở ngôi trường Sơ cấp người Thượng thì thật là vừa bi vừa hài. Mỗi buổi sáng, cái hoạt cảnh ông đi dạy đã là buồn cười rồi. Tôi và Sơn có điểm giống nhau là không bao giờ đeo đồng hồ. Tôi dạy buổi chiều nên tha hồ nằm nướng trên giường. Sơn phải dậy sớm lúc 7 giờ để đến trường. Những ngày có mặt trời thì nhìn bóng nắng mà đi. Những ngày sương mù hay mưa dầm thì lắng nghe tiếng kèn nhà binh chào cờ ở một đồn lính nào đó rất xa vọng lại văng vẳng. Te te…Tò te…Tò te… Sơn xỏ vội chiếc áo ka ki màu vàng cụt tay (chiếc áo này tôi thấy anh mặc từ lúc còn ở trường Sư phạm), đôi giầy ba-ta màu nâu, nách trái kẹp cuốn vở soạn bài cuộn tròn, miệng ngậm ống vố, chân sải bươn bả đến trường. Trường không xa lắm, non nửa cây số, Sơn lội bộ hàng ngày trên con đường đất đỏ, càng lúc càng lên dốc. Ngày nắng thì bụi đỏ mù trời, ngày mưa thì dính nhèm nhẹp. Đi một lúc phải tìm chỗ nào có cây hay cục đá để gạt bớt đất nhão dính vào đế giày càng lúc càng nặng. (Ấy thế mà ông Trịnh Cung đã tưởng tượng ra cảnh Trịnh Công Sơn gò lưng đạp xe đạp đến trường xa 5 – 7 cây số!). Có hôm Sơn chờ mãi mà vẫn không nghe thấy tiếng kèn đồng giục giã tò te, tò te, cứ ngồi ôm đàn tìm nốt nhạc. Đến khi sương tan hết, mặt trời ló ra thì đã quá muộn. Ba chân, bốn cẳng Sơn vội vã như ngựa phi nước đại đến trường.

Một hôm tôi bỗng nảy ý định đến xem ngôi trường của ông “Trưởng giáo” nó ra làm sao. Leo hết con dốc ngắn, ngôi trường hiện ra trên một khoảng đất trống, xung quanh trơ trọi không có cây cối gì cả. “Trường” là một căn nhà tranh nhỏ bé, ngăn đôi thành hai lớp học. Mái tranh, vách đất, không cửa nẻo. Trong lớp, một bàn vuông cho thầy, sáu bộ bàn ghế dài cho trò. Trên vách treo một bảng đen ở giữa, màu đen bạc phếch chắc do đã trải nhiều năm tháng không ai buồn sơn lại. Bụi đỏ bám khắp nơi từ vách đất đến bàn ghế thầy lẫn trò. Tôi đến đấy khoảng lúc mười giờ. Học trò hầu hết là các em người Thượng, chỉ xen lẫn vài em người Kinh, có lẽ con của một vài gia đình lính đóng đồn gần đó. Tất cả đều bẩn thỉu. Có đứa ở trần, đánh độc chiếc quần xà lỏn. Có đứa cũng đủ quần áo nhưng màu đất đỏ đã nhuộm từ ống quần trở lên nên không còn nhận ra được màu nguyên thủy của nó là màu gì. Thầy Sơn đang ngồi tư lự, miệng ngậm ống vố, mắt nhìn lơ đãng về phía cánh rừng xa xa mặc cho đám học trò làm gì thì làm. Một đám đang gò lưng trên bàn, méo mồm méo miệng nắn nót viết theo bài trên bảng. Một đám đang bò lê bắn bi dưới đất. Cuối lớp, vài đứa đang dựa lưng vào vách, há mồm mà ngủ.
Thấy tôi đến, Sơn cười méo miệng:
– Tới đây làm chi, cha?
Tôi cười cười”
– Tới coi ông “Trưởng giáo” mần ăn ra sao cho biết. Còn ông già Thống đâu?
– Ông Thống dạy buổi chiều.
– Có mấy lớp tất cả, anh Sơn?
– Ba, tôi dạy lớp 3, ông già Thống dạy lớp 1 và lớp 2.
– Học sinh đông không?
– Ông thấy đó, bữa nào không đi hái trà thì được cỡ 20 đứa, bữa nào bố mẹ nó cần thêm nhân công thì mươi mười lăm đứa.
Những đứa học trò thấy có người lạ cứ trố mắt ra nhìn. Sơn gõ gõ cây thước lên bàn làm hiệu. Đám học trò ngưng hẳn cuộc chơi chờ lệnh thầy. Sơn nói:
– Bữa nay thầy có khách, cho các em về sớm.

Đám trẻ hớn hở ra mặt, vội thu xếp tập vở, ùa ra khỏi lớp. Trong giây lát, tất cả trở về yên lặng. Sơn ngồi trầm ngâm, nán lại thêm chút nữa, đảo mắt nhìn quanh một vòng rồi tặc lưỡi đứng lên.
Hai chúng tôi yên lặng xuống đồi. Trong thâm tâm có lẽ mỗi người đang theo đuổi một ý nghĩ khác nhau. Sơn nghĩ gì? Tôi thì nghĩ “May cho ông thi sĩ Cao Bá Quát ngày xưa, ngồi dạy học ở nơi khỉ ho cò gáy còn có một cô, một chó cái để an ủi. Ngày nay ông nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cũng ngồi dạy một nơi y như vậy nhưng không có gì bầu bạn ngoài một nỗi buồn cô quạnh”.

Trên đường về, tôi gợi ý với Sơn nên nhập buổi sáng với buổi chiều lại để có thêm ông già Thống cùng dạy cho vui. Sơn cho đó là một ý kiến hay…

(Xin xem tiếp Kỳ II: TCS xuất bản nhạc phẩm đầu tiên; bỏ dạy về học ĐH Văn Khoa và… trốn quân dịch)

Đoàn Dự

Comments are closed.

error: Content is protected !!