Thời Báo Vietnamese Newspaper

Chuyện bên nhà: Ngẫm chuyện ông Bùi Hiền

Đoàn Dự ghi chép
THƯA QUÝ BẠN, gần đây dư luận trong nước lại xôn xao về cái gọi là “cải tiến giáo dục, cải tiến ngôn ngữ” áp dụngcho trẻ em, tiêu biểu là bộ sách “Tiếng Việt lớp 1 Công nghệ Giáo dục” của GS Tiến sĩ Hồ Ngọc Đại.Tuy nhiên, theo chúng tôi hiểu, GS Hồ Ngọc Đại chỉ đưa ra phương phápdạy học mới so với cách dạy thông thường xưa nay mà thôi, ai muốn theo thì theo, không theo tùy ý. (Có khoảng hơn 70% phụ huynh học sinh đăng trên mạng xã hội đả kích nặng nề phương pháp của ông; khoảng 20% khen phương pháp đó tốt; còn gần 10% thì không có ý kiến vì họ nói họ không có con hay cháu nhỏ). Hơn nữa, ông Vũ Đức Đam, phó thủ tướngVN, mới tuyên bố:“Hiện nay nhà nước chưa có chủ trương cải cách giáo dục và phương pháp của GS Đại chỉ có tính cách cá nhân mà thôi”.

Từ chuyện ông Hồ Ngọc Đại chúng tôi lại nhớ tới một ông giáo sư khác nhiều người cho rằng ôngta đang “phá hoại” tiếng Việt nên chúng tôi trình bày một cách có hệ thống từ tiểu sử cho tới cách “cải tiến” tiếng Việt rất kỳ lạ của ông Bùi Hiền để quý bạn hiểu rõ. Xin mời quý bạn xem xét.

Tiểu sử
Bùi Hiền (xin đừng lầm với nhà văn Bùi Hiển, người Trung, tác giả truyện ngắn nổi tiếng “Nằm vạ” thời Tự Lực Văn Đoàn, quê quán tại tỉnh Nghệ An, còn ông Bùi Hiền là người Bắc, quê quán tại tỉnh Phú Thọ); ông sinh năm 1935, quê ở huyện Hạ Hòa, Phú Thọ, cách Hà Nội 90 Km, là một giảng viên tiếng Nga, một nhà nghiên cứu ngôn ngữ Nga và quản lý giáo dục. Ông có học vị phó tiến sĩ chuyên ngànhtiếng Nga, học hàm phó giáo sư Việt Nam, từng là hiệu phó của trường Đại học Sư phạm Ngoại ngữ (nay làtrường Đại học Ngoại ngữHà Nội). Năm 2017 vừa rồi, ông được biết đến với công trình cải tiến chữ quốc ngữ gây nhiều tranh cãi.
Ông mồ côi mẹ từ năm 6 tuổi, mồ côi cha năm 12 tuổi, sống tuổi thơ vất vả ở xã Vĩnh Chân, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ. Sau khi cha mất, 5 anh em ông sốngvới bà mẹ kế và bà rất tốt. Vì gia đình nghèo khó, làm không đủ ăn nên ông phải bỏ học 2 năm.

Đến năm 1948, 13 tuổi, ông được đi học trở lại lớp Đệ Nhất trung học (đổi tên thành lớp Đệ Thất sau này và là lớp 6 hiện nay) tại trường Hùng Vương,vì trường này vừa tản cư từ thị xã Phú Thọ về xã Vĩnh Chân, gần nhà ông. Buổi sáng ông đi học, buổi chiều phụ mẹ kế làm ruộng. Lúc đầu ông học kém và bị xếp hạng bét trong lớp do đã nghỉ học 2 năm, sau đó ông cố gắng học tập và tiến bộ rõ rệt, vươn lên đứng đầu lớp, giỏi các môn Toán, Lý, Hoá.
Tháng 8 năm 1953, 18 tuổi, ông cùng 19 người khác được nhà nước Việt Minh cử sang Trung Quốc học chuyên về tiếng Nga. Sau 2 năm học, năm 1955ông tốt nghiệp Đại học Ngoại ngữ, khoa tiếng Nga tại Bắc Kinh Trung Quốc rồi trở về nước. Tháng 10 năm ấy (1955), ở tuổi 20, Bùi Hiền được giao phụ trách ban tiếng Nga của trường Ngoại ngữ mới thành lập tại Hà Nội.

Năm 1958, trường Ngoại ngữ sáp nhập vào trường Đại học Sư phạm Hà Nội, trở thành Khoa Ngoại ngữ với bốn phân khoa: Anh, Pháp, Nga, Trung. Bùi Hiền tiếp tục phụ trách phân khoa Nga văn.

Cuối năm 1969, 34 tuổi, ông được nhà nước CSVN cử đi Liên Xô làm nghiên cứu sinh phó tiến sĩ chuyên ngành tiếng Nga. Ông hoàn thành luận án phó tiến sĩ với đề tài “Những danh từ đồng nghĩa cùng gốc trong tiếng Nga văn học hiện đại”, người hướng dẫn là giáo sư Sanxky, viện sĩ Hàn lâm viện Nga, và năm 1972 ông bảo vệ luận án này tại trường Đại học Tổng hợp Moskva mang tên Lomonosov với kết quả xuất sắc.

Sự nghiệp

Sau khi bảo vệ luận án phó tiến sĩ tại Nga năm 1972 lúc 37 tuổi, năm 1973ông trở về nước, tiếp tục công tác tại trường Đại học Sư phạm Ngoại ngữ Hà Nội và năm sau được bổ nhiệm giữ chức vụ hiệu phótại trường này.
Năm 1978 ông được chuyển về Bộ Giáo dục, phụ trách ngoại ngữ trong Hội đồng cải cách giáo dục. Sau đó, ông được bổ nhiệm làm Phó Viện trưởng Viện Nội dung và Phương phápdạy học phổ thông thuộc Viện Khoa học Giáo dục . Ông giữ chức vụ này cho đến khi nghỉ hưu năm 1993.Năm nay, 2018, ông 83 tuổi.

Ông kết hôn năm 17 tuổi (năm 1952).Vợ con ông hiện tại đang định cư ở nước ngoài.

Đề xuất cải tiến chữ quốc ngữbị chỉ trích dữ dội

Sự thực, công trình mang tên “Đề xuất cải tiến chữ quốc ngữ” là nghiên cứu cá nhân mà ông Bùi Hiền theo đuổi từ lâu. Hơn 20 năm trước, ông đã công bố đế xuất này lần đầu tiên trênbáo Giáo dục & Thời đại số 72,ra ngày 8/9/1995. Theo ông, mục đích của công trình này là:Thứ nhất, thống nhất và đơn giản hoá một số chữ viết cho các văn bản. Thứ hai, giúp người nước ngoài và đồng bào dân tộc thiểu số dễ tiếp cận với chữ viết trong tiếng Việt hơn.
Tuy nhiên, vì đăng trên báo, hơn nữa đời sống dân chúng lúc ấy con đang khó khăn nên đề xuất của ông gần như không được ai để ý.

Đến tháng 9 năm ngoái, 2017,trong một cuộc hội thảo về giáo dục tại TP.Quy Nhơn, ông đưa đề xuất này ra và được đăng rộng rãi trên báo chí cũng như các mạng xã hội, gây nênnhững cuộc phê bình, chỉ trích dữ dội về các điều khác lạ trong đề xuất mà tác giả Bùi Hiền đề cập. Sau đây là phần quan trọng nhất trong đề xuất cải tiến đó, chúng ta đọc kỹ mới hiểu tại sao dư luận phản đối dữ dội như vậy, nhiều người bảo ông là “khùng”, nhiều người nói ông “tâm thần”, thậm chí ông tuyên bố: “Họ dùng ngay chữ của tôi để chửi tôi, điều đó chứng tỏ chữ cải tiến của tôi rất dễ hiểu, họ tiếp thu rất nhanh, chỉ sau một đêm là có thể chửi”. Có “dễ hiểu” thật hay không, xin mời quý bạn xem xét.

Nội dung cải tiến chữ quốc ngữ của Bùi Hiền

Bản đề xuất của ông Bùi Hiền gồm 16 trang in khổ giấy A4, gồm 2 phần, đã được ông đăng ký bản quyền.
Theo ông, bảng chữ cái tiếng Việt hiện hành gồm 29 chữ cái: A Ă Â B C D Đ E Ê G H I K L M N O Ô Ơ P Q R S T U Ư V X Y. Những chữ cái kép gồm có 9 chữ: Ch, Tr, Th, Gh, Ph, Ng, Ngh, Nh, Kh.
Trong đề xuất cải tiến của mình, ông xóa bỏ chữ cái Đ, thêm một số chữ cái Latinh: F, J, W, Zvà thay đổi âm vị của một số chữ cái.

(Âm vị, phoneme, là đơn vị căn bản của ngôn ngữ học; phoneme is basic unit of phonology.- Hoặc nói khác đi, âm vị là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ. Ví dụ chữ cái “c”, tiếng Việt bây giờ đọc là “cờ”, tiếng Anh đọc là “xi” , đó là âm vị. Trong tiếng Anh, một từ ngữ như computerchẳng hạn, vì là đa âm nên có 3 âm (com + pu + ter) kết hợp với nhau tạo thành một tiếng. Rồi trong tiếng đó, như âm “com” chẳng hạn lại có 3 âm vị của 3 chữ cái c, o, m. Tiếng Việt đơn âm, mỗi tiếng chỉ có một âm mặc dầu tiếng đó có thể có nhiều âm vị. (Như tiếng “khuynh” chẳng hạn có 6 âm vị, tiếng “hướng” chẳng hạn có 5 âm vị). Như vậy, âm vị là cách phát âm một chữ cái hay một chữ cái kép trong tiếng Việt. (Ví dụ chữ cái “c” ngày trước chúng ta đọc là “xê”, bây giờ họ đọc là “cờ” ; chữ cái kép “ch” chúng ta đọc là “xê-hát”, bây giờhọ đọc là “chờ”). Điều này hết sức quan trọng để hiểu tại sao đề xuất cải tiến của ông Bùi Hiền bị chỉ trích dữ dội.

Đề xuất của ông Bùi Hiền:

Theo đề xuất của ông, chữ cái “C” thay choChvà Tr. Chữ cái “D” thay choĐ. Chữ cái “G” thay choG và Gh. Chữ cái “F” thay choPh. Chữ cái “K” thay choC, Q, K(cả 3 chữ cái C,Q,K đều đọc là “cờ”).Chữ cái “Q” thay choNg và Ngh. Chữ cái “X” thay choKh. Chữ cái “W” thay choTh. Chữ cái “Z” thay choD, Gi, R. Riêng âm vị Nh (đọc là “nhờ” ) chưa có chữ cái thay thế nên tạm dùng ký tự n’ thay vao. (Như vậy n’thay cho Nhvà đọc là “nhờ”).
Nói tóm lại, bảng chữ cái mới của ông Bùi Hiền có 33 chữ cái: A Ă Â B C D E Ê F G H I J K L M N N’ O Ô Ơ P Q R S T U Ư V W X Y Z. (Không có chữ Đ, thêm các chữ F, J, W, Z , và N’ ).
Vài ví dụ đơn giản:
Ngôn ngữ = Qôn qữ.Tiếng nói = Tiếq nói.Chữ viết = Cữ viết.Giáo dục = Záo zụk,…
Có một số trường hợp trùng hợp hoặc na ná với nhau như: “quốc” và “cuốc” đều là “kuốk”, “quả” và “của” đều là “kủa”.

Tuy nhiên, đề xuất của ông về một vài danh từ cũng giống như nó đang tồn tại hiện nay: “Đắk Lắk”, “KonTum” (Đắc Lắc, Công Tum) hoặc việc sử dung chữ F thay cho Ph.
Theo ông, chữ cải tiến giúp học sinh không còn viết sai chính tả, thuận lợi cho đồng bào dân tộc thiểu số và người nước ngoài khi học tiếng Việt. Ngoài ra nó còn giúp tiết kiệm được khoảng 8% giấy khi viết hoạc in ấn so với lối viết hiện hành.

Vài ví dụ cụ thể của PGS.TS Bùi Hiền:
– Viết bằng chữ Việt hiện hành:“Theo điều 7 của Luật Giáo Dục,tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức dùng trong nhà trường và các cơ sở giáo dục khác”.
– Viết bằng chữ cải tiến: “Weo diều 7 kủa Luật Záo Zụk, tiếq Việt là qôn qữ cín’ wứk zùq coq n’à cườq và kák kơ sở záo zụk xák”.
– Viết bằng chữ Việt hiện hành: “Ngoại ngữ quy định trong chương trình giáo dục là ngôn ngữ được sử dụng phổ biến trong giao dịch quốc tế”.
– Viết bằng chữ cải tiến: “Qoại qữ kuy dịn’ coq cươq cìn’ záo zụk là qôn qữ dượk sử zụq fổ biến coq zao zịk kuốk tế”.
– Chữ Việt hiện hành: “Việc tổ chức dạy ngoại ngữ trong nhà trường và các cơ sở giáo dục khác cần đảm bảo để người học được học liên tục và có hiệu quả”.
– Viết bằng chữ cải tiến: “Việk tổ cứk zạy qoại qữ coq n’à cườq và kák kơ sở záo zụk xák kần dảm bảo dể qười họk dượk họk liên tụk và kó hiệu kuả”.

Đố bạn đọc được câu đối “cải tiến” của ông Bùi Hiền

Những điểm bị phê phán:

Đề xuất của PGS Bùi Hiền đưa ra đã có nhiều điểm bị phê phán, như:
– Thay hai chữ cái kép Ch và Tr bằng chữ cái “c”, do đó tiếng “cha” (trong cha mẹ) và tiếng “tra” (trong tra cứu, tra tấn) đều viết là “ca” , không thể phân biệt được với nhau mặc dầu chúng có nghĩa khác hẳn nhau.
– Không phân biệt được R với Gi và D; S với X;Ch với Tr, ví dụ như đoạn văn: “Trẻ trâu ra sân giành trứng rán” mà viết theo chữ cải tiến: “Cẻ câu za sân zàn’ cứq zán”, ông nói là căn cứ theo giọng Hà Nội, mà giọng Hà Nội người ta nói là: “Chẻ châu da sân dành chứng dán” thì người miền Nam ở Sài Gòn hay người miền Trung ở Huế chẳng hạn sẽ hiểu câu trên của ông như thế nào?

– Chữ S (hiện nay đọc là “sờ”)là chính nó (S) đồng thời cũng thay cho chữ X, trong khi đó chữ X thay cho Kh (“khờ”). Vậy thì muốn phân biệt giữa các từ ngữ như xuất sắc, sắp xếp (suất sắk, sắp sếp) thì phân biệt như thế nào?
– Cả 3 chữ cái C, Q, K đều được thay bằng chữ cái K và đều đọc là “cờ”, khi viết các từ “cuốc” (cái cuốc) và “quốc” (tổ quốc) đều là kuốk thì phân biệt như thế nào?

Ý kiến không đồng tình của các nhà khoa học:

PGSBùi Hiền nói: “Đề xuất của tôi có nhiều nhà ngôn ngữ thấy hợp lý vì chữ viết mới có nguyên tắc thống nhất. Nhưng cũng có nhiều ý kiến phản bác vì cho rằng nếu cải tiến sẽ phức tạp, mang nhiều hệ lụy. Ví dụ kho tư liệu đồ sộ cũ chuyển sang chữ viết mới thì sẽ xử lý như thế nào. Và để thay đổi sẽ phải mất rất nhiều thời gian: thay đổi nhận thức, thay đổi cách học, cách dạy; sách giáo khoa cũng phải thay đổi, các văn bản, sách, báo, rồi lập trình chữ viết trên máy vi tính..vv..đều phải thay đổi. Nhưng nếu thay đổi từng bước một thì chỉ cần mất 1-2 năm là quen dần”.

Tuy nhiên, PGS-TS Nguyễn Hữu Hoành, Viện phó Viện Ngôn ngữ học Việt Nam,nói: “Không thể thay đổi được và cũng không nên thay đổi, vì chữ viết liên quan đến văn hóa, lịch sử và rất nhiều vấn đề khác. Ngay cả tiếng Anh, một ngôn ngữ phổ biến có nhiều chữ đọc và viết bất hợp lý mà cũng không ai nghĩ đến việc cải tiến. Đến nay, trải qua nhiều thế kỷ, tiếng Việt đã định hình và chữ quốc ngữ đã tồn tại cả thế kỷ với kho tư liệu đồ sộ từ lúc hình thành đến bây giờ, không nên thay đổi”.

GS-TS Bùi Khánh Thế, Phó Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo trường ĐH Ngoại ngữ-Tin học Sài Gòn,cho biết: “Có một số bất hợp lý, chẳng hạn ký tự Q thay thế cho Ngvà Ngh, ký tự Z thay cho Gi, ký tự C thay Tr, Ch… Ấy là chưa kể làm vậy sẽ mất đi sự tinh tế trong cách viết, cách đọc và cách phát âm của tiếng Việt. Từ lúc hình thành đến nay, tiếng Việt có nhiều âm đã thay đổi nhưng chữ viết vẫn giữ nguyên. Đó chính là sự bền vững cần có, chỉ những gì bất hợp lý mới mất đi”.

Theo GS-TS Bùi Khánh Thế, càng đổi mới thì càng bị rối. Đó là chưa kể, sẽ phải tốn rất nhiều thời gian, công sức và kinh phí để thay đổi. Vì thế, đối với chữ quốc ngữ, chỉ nên tìm cách khắc phục những cái khó, hơn là cải tiến.
Trả lời chính thức của Viện Ngôn ngữ học VN về cải tiến chữ quốc ngữ của PGS TS Bùi Hiền
Về đề xuất cải tiến chữ quốc ngữ của PGS TS Bùi Hiền, Viện Ngôn ngữ học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam đã chính thức có kết luận về nghiên cứu này.

GS TS Nguyễn Văn Hiệp – Viện trưởng Viện Ngôn ngữ học cho biết, Viện Ngôn ngữ học đã họp hội đồng khoa học mở rộng và khẳng định rằng, vấn đề cải cách chữ quốc ngữ đã từng được bàn đến nhiều lần, trên nhiều phương diện và đề xuất của PGS TS Bùi Hiền không phải là một ý kiến mới trong giới ngôn ngữ học.
Tuy nhiên, ngôn ngữ nói chung và chữ viết nói riêng là sản phẩm của cộng đồng và mang tính quy ước. Chính cộng đồng sẽ quyết định sự phát triển của chữ viết, chứ nó khó lòng bị chi phối bởi ý chí, nguyện vọng hay đề xuất của một cá nhân hoặc bị cưỡng bách thực thi bởi một mệnh lệnh hành chính. Chính vì thế, cho dù đã có những hội nghị về cải tiến chữ quốc ngữ với hàng loạt các đề xuất của các nhà ngôn ngữ học nhưng tất cả đều không được áp dụng vào thực tế.

Cho đến nay, đại đa số các ý kiến đều cho rằng, mặc dù có những nhược điểm như trên, chữ quốc ngữ vẫn là một loại chữ ghi âm rất tốt, và hiện nay vẫn đang thực hiện được chức năng là chữ viết thống nhất của nước Việt Nam.
Dĩ nhiên, nhằm giúp chữ quốc ngữ thực hiện được chức năng của nó, giới ngôn ngữ học hiện đang rất quan tâm đến vấn đề tiêu chuẩn hóa chính tả (tức quy chuẩn cách viết), cách viết tên riêng tiếng nước ngoài (đề nguyên dạng, phiên âm hay chuyển tự), tên riêng gốc ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Đây là những vấn đề mà việc giải quyết một cách triệt để đòi hỏi cần phải ban hành Luật Ngôn ngữ ở Việt Nam.
Phương án đề xuất Cải tiến chữ quốc ngữ mà PGS TS Bùi Hiền nêu ra rất lộn xộn, chắp vá và hoàn toàn không mang tính khoa học.

Nếu cải tiến chữ Quốc ngữ theo đề xuất của PGS TS Bùi Hiền sẽ làm vô hiệu hóa một kho văn liệu khổng lồ với các ấn phẩm đã được viết bằng chữ quốc ngữ, làm đứt gẫy sự liên tục văn hóa của cả một dân tộc. Nếu muốn lưu giữ và truyền tải khối tri thức, văn hóa của dân tộc cho các thế hệ sau, chúng ta sẽ phải tổ chức in ấn, chế bản lại. Đây là một việc làm hết sức tốn kém. Không chỉ có thế, sự thay đổi này còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến toàn bộ các hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh… do thay đổi toàn bộ hệ thống văn bản, giấy tờ, dữ liệu hiện hành đang được công nhận trên toàn thế giới.

Đề xuất cải tiến chữ quốc ngữ của PGS TS Bùi Hiền, như đã phân tích, là ý kiến của một cá nhân có thể có xuất phát từ mục đích tốt nhưng lại thiếu kiến thức chuyên môn; hiểu biết chưa toàn diện về ngữ âm học, ký tự học nên thiếu tính khoa học và thực tiễn, không có tính khả thi. Trong tình hình chữ quốc ngữ đang vận hành hiệu quả như hiện nay, Viện Ngôn ngữ học cho rằng hoàn toàn không nên và không cần thiết có bất kỳ cải tiến nào đối với chữ quốc ngữ. ■

Đoàn Dự

Comments are closed.

error: Content is protected !!