Thời Báo Vietnamese Newspaper

Chuyện bên nhà: Một quãng đời của Trịnh Công Sơn (Kỳ 2)

Đoàn Dự ghi chép

Chúng tôi hy vọng lời kể của Nguyễn Thanh Ty, một người bạn rất thân cùng học tại trường Sư Phạm Quy Nhơn và dạy cùng một nơi, trọ cùng một nhà với Trịnh và mấy anh em khác ở Bảo Lộc (Blao), về một quãng đời của Trịnh Công Sơn sẽ đem đến cho quý bạn nhiều chi tiết rất thú vị có lẽ còn ít người biết, nếu chúng ta không đặt câu hỏi Trịnh Công Sơn là CS hay không CS, bởi vì ngay chính những người bạn rất thân ở cùng nhà với Trịnh Công Sơn cũng không biết.
Trong kỳ I là chuyện Trịnh Công Sơn lúc học tại trường Sư phạm Quy Nhơn và khi đi dạy tại trường Sơ cấp người Thượng tại Bảo Lộc, có thể thấy Trịnh Công Sơn sinh năm 1939 tại Huế, gia cảnh khó khăn, cha mất sớm, bà mẹ phải tần tảo nuôi 8 người con – 3 trai, 5 gái - ăn học, Sơn là anh cả. Học tại Sài Gòn, thi rớt Tú tài II, Sơn trở về Huế rồi thi đậu vào trường Sư Phạm Quy Nhơn khoá đầu tiên, 2 năm, từ 1962đến 1964, tốt nghiệp, đi dạy lớp sơ cấp tại Bảo Lộc tức Blao, học sinh ở đó đa số là người Thượng.
Trong phần này,nhà giáo Nguyễn Thanh Ty kể chi tiết về những người đã một thời đi qua đời Trịnh Công Sơn như Tôn Nữ Bích Khê, Ngô Vũ Bích Diễm..., xin mời quý bạn xem xét

.

Sau khoảng vài tháng đầu niên khóa 64-65, ông Trưởng ty Giáo dục Trương Cảnh Ngôn về hưu, ông Lê Cao Lợi, thanh tra kỳ cựu, có tu nghiệp ở Mỹ một thời gian, được Bộ cử giữ chức vụ đó thay ông Ngôn. Đây là thời gian vàng son của Trịnh Công Sơn. Ông trưởng ty Lợi, trung niên, có tâm hồn văn nghệ, thích nhạc, thơ, nên đối với một người như Sơn ông dành cho nhiều ưu đãi. Đôi lúc ông nhắm mắt làm ngơ cho Sơn dùng thì giờ dạy học làm việc riêng của mình như về Sài Gòn liên lạc xuất bản nhạc chẳng hạn. Chuyện này khiến một số giáo viên già, lâu năm trong nghề so bì.
Khi chúng tôi đặt chân tới Bảo Lộc, trời đã vào thu. Những tháng đầu hãy còn lạ nước lạ cái, không biết đi đâu, làm gì để hết thì giờ vì mỗi ngày chỉ phải dạy có một buổi. Có những buổi chiều chúng tôi lang thang, cứ hết "những bước chân âm thầm" trong khuôn viên trường Nông Lâm Súc im lìm vắng lặng với những tàn cây sao, cây gõ, cây gụ cao vút tận trời xanh, lại đến đoạn đường Quốc lộ I chạy xuyên qua con phố Blao lèo tèo vài quán ăn dọc đường ngắn ngủn. Cũng có khi chúng tôi đi vòng bờ hồ cho đến khi chiều xuống hẳn, sương mù bắt đầu xuất hiện trên mặt hồ, ban đầu mỏng rồi dầy dần che khuất một chòm cây giữa hồ, chỉ còn thấy thân cây với những cành khẳng khiu vươn lên trơ trọi giữa khoảng trời mây. Đến lúc đó ai cũng cảm thấy mỏichân và muốn vào quán ngồi uống cà phê, hoặc uống bia, nghe nhạc, chờ tối để về nhà tìm giấc ngủ.

Trong cái không gian và thời gian đó, Trịnh Công Sơn cảm hứng sáng tác nhạc phẩm “Chiều một mình qua phố”. Cái lạ là suốt thời gian học tại trường Sư phạm Quy Nhơn, rồi gần 3 năm dạy học và làm nhạc tại Bảo Lộc, những tác phẩm như Lời buồn Thánh, Vết lăn trầm, Chiều một mình qua phố, và tập Ca khúc da vàng, mặc dầu đã có tiền nặng túi nhưng Sơn vẫn không có nổi cây đàn (hay Sơn không muốn mua?). Sơn dùng cây đàn ghi ta của cô Đỗ ThịNghiễn. Cây đàn này đã giúp Sơn ghi lại những nốt nhạc mà Sơn thai nghén trong những lúc đi dạy hoặc lang thang với chúng tôi. Tối về chúng tôi say sưa trong giấc ngủ thì Sơn ôm đàn dò lại các âm thanh đang chập chờn ẩn hiện trong đầu óc. Sau những đêm như thế, Sơn phờ phạc hẳn. Một giỏ rác đầy tràn những tờ giấy “ram”, thứ giấy người ta thường dùng để quay ronéo, có bán trong các tiệm sách, Sơn dùng để chép vội những dòng nhạc vừa xuất hiện trong đầu rồi chợt biến mất, vo tròn, vứt vào giỏ rác sau đó lại dò tìm. Sơn sợ làm ồn giấc ngủ của chúng tôi nên phải chận phím để tạo những âm thanh câm.

Nhạc phẩm đầu tiên được ấn hành

Mặc dầu trước đó, khi ở Quy Nhơn, Sơn đã có nhiều nhạc phẩm rất hay như “Ướt mi”, “Thương một người”, “Biển nhớ”, “Nhìn những mùa thu đi”… nhưng chỉ chuyền tay nhau hát trong các bạn bè, không có điều kiện hay vì lý do nào đó, Sơn chưa xuất bản để phổ biến rộng rãi. Đến khi ở tại Bảo Lộc và sau khi đã hoàn chỉnh nhạc phẩm “Chiều một mình qua phố” viết tại Blao, Sơn quyết định đem về Sài Gòn tìm nhà xuất bản và ở rịt tại Sài Gòn… gần ba tuần lễ!
Ông giáo già Thống chạy chiếc xe gắn máy Sach cũ kỹ, già nua không thua gì tuổi đời của ông, đến chỗ chúng tôi ở trọ, tìm Trịnh Công Sơn.

– Thầy ơi, thầy có biết ông Sơn ở đâu không? – ông hỏi tôi.
– Ông ấy về Sài gòn rồi, không nói gì với ông sao?
– Ối giời đất ơi, tôi chết mất, một mình phải ôm ba lớp suốt mấy tuần lễ nay. Thầy có biết khi nào ông ấy về không?
– Không thể biết được.
– Thế thì tôi chết.

Nói xong ông Thống thất thểu dắt xe ra ngõ. Tôi nhìn theo mà ái ngại cho tuổi già của ông. Vài năm nữa là về hưu nên ông cố đeo đuổi cái nghề này trong chốn đèo heo hút gió để mong được chút tiền hưu, an hưởng tuổi già. Tình trạng này sẽ còn đến với ông và ông vẫn phải ôm ba lớp rồi rên rỉ dài dài như mọi bận. Chúng tôi gọi đùa sau lưng, ông là “Con ngựa già của… trưởng giáo Trịnh”, nhái theo nhan đề một truyện ngắn trong nhóm Nhân Văn Giai Phẩm miền Bắc.

Mấy ngày sau Sơn về, phờ phạc, hốc hác. Tôi kể chuyện ông già Thống đi tìm, Sơn nói là sẽ xin lỗi ông sau. Xong, Sơn ngủ vùi suốt ngày hôm đó. Ngày kế tiếp, Sơn kể cho tôi nghe mọi việc về nhạc phẩm “Chiều một mình qua phố”.
Sơn nói:
– Mình bán cho thằng cha Duy Khánh. Thằng chả trả có 3.000 đồng. Mình nài thêm, chả nói nhạc của Phạm Duy là đắt nhất mà cũng chỉ tới 5.000 đồng là cùng, ông là nhạc sĩ mới, giá vậy là cao lắm rồi.
Sơn chậc lưỡi nói tiếp:
-Thôi cũng được, nhưng tiếc một điều là thằng chả làm hư bài hát của mình hết trơn. Mình bán bản quyền nên đâu có ý kiến chi được.
Tôi thắc mắc là hư thế nào, Sơn nói:
-Nhạc của mình êm dịu, nhẹ nhàng để diễn tả nỗi buồn trong những ngày lang thang trên phố vắng đìu hiu, vậy mà thằng chả cứ rống lên như bò rống: “Chiều một mình qua phố…ố…ố…ố. Âm thầm nhớ nhớ..ớ..ớ..ớ… tên em…”.
Sơn bắt chước giọng Duy Khánh khiến tôi không nín được cười. Từ đó Sơn giải thích cho tôi nghe về việc in ấn, tác quyền, đại lý, phát hành, gom tiền, v.v…, rất nhiều giai đoạn nhiêu khê, tác giả một nhạc phẩm hay một cuốn tiểu thuyết không thể nào tự mình làm được nên bị các nhà xuất bản bắt chẹt, đành phải bán bản quyền cho họ. Bấy giờ tôi mới vỡ lẽ ra chứ lâu nay tôi cứ ngỡ các ông văn sĩ, nhạc sĩ có sách, có nhạc được in, đem bán khắp nơi chắc là giàu lắm.

Trong dịp này Sơn kể cho tôi nghe về hai người bạn ở Sài gòn mà mỗi lần về Sơn thường ở chung, đi ăn, đi nhảy với nhau. Đó là Đinh Cường và Trịnh Cung. Đến giờ phút ngồi viết những dòng này, tôi vẫn chưa gặp và biết mặt Đinh Cường (trừ vài tấm hình trên Internet). Trịnh Cung thì tôi có thấy mặt một lần khi ông ta ghé Blao thăm Sơntại phòng chúng tôi đang ở, khoảng đầu năm 1965 thì phải. Hai hình ảnh của hai ông Trịnh thật tương phản. Ông họ Trịnh tên Công Sơn thì xuề xòa, giản dị trong chiếc áo kaki vàng ngắn tay bỏ vô quần tergal, với đôi giầy bata màu nâu muôn thuở (sau này có may thêm hai áo sơ mi, một nâu, một trắng bằng vải Nyl-france). Dạo ấy, Sơn có thêm một biệt danh do chúng tôi đặt là “Chàng nghệ sĩ nhứt y nhứt qưỡn”. Có lẽ một năm Sơn mới hớt tóc một lần, tôi nghĩ vậy, vì không bao giờ tôi thấy Sơn có đầu tóc mới. Vẫn mái tóc thưa, mềm, chạy dài xuống gáy. Hàng râu mép hung hung nâu, không phải râu, cũng không phải lông. Khi dài thì Sơn lấy kéo cắt bớt. Hàng râu cằm lại càng khiêm nhường. Từ sợi nọ sang sợi kia có thể mắc võng được, tôi hay đùa với Sơn như vậy. Còn ông họa sĩ họ Trịnh kia (thực ra Trịnh Cung tên thật là Nguyễn văn Liễu) thì đỏm dáng trong bộ veston thời trang lúc bấy giờ, cà vạt hẳn hoi, giầy da bóng láng.

Trở lại câu chuyện “Chiều một mình qua phố”. Sơn hỏi tôi “Ông Lợi (tức ông Lê Cao Lợi, trưởng ty mới) có nói gì không?” – “Tôi không biết, nhưng bạn đi lâu quá có lẽ cũng đã đến tai ông ấy rồi”, tôi đáp. “Làm thế nào bây giờ?”, Sơn hơi lo. Tôi trấn an: “Không sao đâu. Có lẽ chiều nay bạn nên lên Ty cười cầu tài với ông ấy một phát, nói vài lời xin lỗi, đưa lý do phải về Sàigòn lo việc in ấn rồi tặng ổng bản nhạc vừa mới xuất bản là xong ngay”.
Sơn thở phào nhẹ nhõm đoạn rút trong cặp ra hai bản nhạc mới in, ký tặng ông trưởng ty một bản, tôi một bản. Bản đặc biệt in trên giấy láng, hai lớp. Ngoài bìa màu nâu,vẽ chàng nghệ sĩ tay trái xách đàn, tay phải vắt áo trên vai đang lầm lũi đi xuống con dốc. Hình vẽ này chắc chắn không phải của Đinh Cường hoặc Trịnh Cung, tôi nhớ vậy, bởi vì nét vẽ đó chân phương, không lập dị thường thấy có gương mặt nhọn, người dài ngoẵng và hai tay thường kẹp vào đùi của hai ông. Sơn ký đủ cả họ tên dài ngoằng, cái gạch ngang chữ “T” trên đầu che hết cả ba chữ Trịnh Công Sơn (không có hình con cá như ông Đinh Cường đã nói).

Chiều hôm đó, ở Ty về, Sơn hớn hở khoe với tôi: “Lúc vô Ty, mấy nhân viên văn phòng ái ngại cho mình, chắc thế nào cũng bị ông trưởng ty quạt một trận tơi bời về tội bỏ nhiệm sở. Mình cũng hơi lo. Nhưng lúc gặp ổng trong văn phòng riêng, mình chìa bản nhạc ra trước và nói mấy lời phân bua lý do vắng mặt cùng lời xin lỗi. Ổng cầm bản nhạc chăm chú xem, không nói gì. Lúc đó mình cũng hơi yên tâm. Cuối cùng, ổng nói: “Cám ơn anh về bản nhạc.Nhưng từ rày về sau đừng bỏ trường nữa tội nghiệp ông Thống và tôi cũng khó đối xử với các giáo viên khác. Về âm nhạc mong anh thành công nhiều hơn”.

Cô nữ sinh tên Ngà -tiếng kèn đồng và “Lời buồn Thánh”

Khoảng đầu tháng tư năm 1965 chúng tôi đau buồn tiễn biệt Nguyễn Văn Ba – người bạn thân ở cùng nhà trọ với chúng tôi, cùng phòng phía trong với anh Nguyễn Hảo Tâm – về bên kia thế giới. Ba là người ngoan đạo. Mỗi buổi sáng, đúng 5 giờ, dứt hồi chuông là anh đã ra khỏi nhà để đến nhà thờ dự lễ nhứt, trong khi chúng tôi còn quấn kỹ trong chăn. Rất chăm chỉ, không sót một ngày. Hôm đó, anh về Sài Gòn để thăm gia đình, Việt cộng đắp mô ở đèo Madagui. Chưa có quân đội đến gỡ, anh tình nguyện xuống gỡ, thì mìn nổ giết anh chết ngay tại chỗ.

Cái chết của Nguyễn Văn Ba ấy thế mà lại giúp Sơn hoàn thành một bản nhạc bất hủ khác: “Lời buồn Thánh”. Số là trước đó, cứ trưa Thứ Sáu, sau khi dạy xong, sẽ được nghỉ Thứ Bảy, Chủ nhật, Sơn đi thẳng ra bến xe, mua vé về Sài gòn. Xe nhỏ Minh Tâm, chỉ bốn tiếng đồng hồ là Sơn đã tiếu ngạo ở thành phố Sài Gòn. Mười hai giờ trưa Chủnhật, Sơn lại leo lên xe đò, đánh một giấc. Năm giờ chiều đã có mặt tại bàn bi da của Cà phê Ngọc Trang. Sau cái chết của Nguyễn văn Ba, Sơn “rét”, không dám về Sài Gòn hằng tuần nữa. Những ngày buồn thiu tại nhà trọ, Sơn thường ngồi tư lự trước cái bàn viết duy nhất dành cho cả hai đứa trong phòng chúng tôi, soạn bài dạy và thỉnh thoảngnhìn ra con đường đất đỏ. Mùa này, hoa lau nở trắng khắp nơi dọc theo con đường dốc chạy dài từ trong buôn ra tới quốc lộ, băng ngang trước nhà chúng tôi. Buổi chiều, những cơn gió nồm thổi nhẹ từng cơn, lướt qua “rừng” hoa lau, xô chúng ngả nghiêng rồi chúng lại bật dậy, tạo thành những âm thanh xào xạc nhè nhẹ, đều đều, buồn buồn. Chiều xuống dần, những vạt nắng cuối cùng chiếu xiên trên các ngọn hoa lau, lấp lánh sáng ngời. Gió lắng dần, không gian trở nên im ắng, tĩnh mịch. Chợt tiếng kèn đồng xa xa vẳng lại, lúc được, lúc mất thật hiu hắt buồn. Đó là lúc cô nữ sinh hàng xóm – cô Ngà – đến giờ đi lễ. Chuông nhà thờ đang dồn dập từng hồi thúc giục con chiên đến giáo đường.

Thật đúng như tên đặt, da cô trắng ngà, người mảnh mai với mái tóc thề chấm ngang vai, gương mặt phảng phất như Đức Mẹ Maria. Rất dịu dàng trong dáng đi, mỗi buổi chiều cô đi lễ đều đi ngang nhà chúng tôi. Hai tay ấp quyển Kinh Thánh trước ngực, đầu hơi cúi xuống, lặng lẽ, khoan thai bước.

Đã bao lâu rồi cái hình ảnh rất đẹp ấy, cái mầu áo dài trắng nổi bật trên nền đất đỏ, thấp thoáng ẩn hiện trong đám lau trắng, đã đi ngang nhà chúng tôi bao nhiêu chiều rồi mà chúng tôi không hề hay biết. Thật uổng phí! Chẳng là, cứ ba giờ chiều là chúng tôi đã túc trực quanh mấy cái bàn bi da để dành chỗ rồi chơi cho đến khi tắt điện mới mò về, thì làm sao có thời giờ để biết bên hàng xóm có người đẹp. Cái tên “Ngà” mãi về sau, theo dõi, lắng nghe mấy đứa em cô gọi mới biết.

Từ ngày Nguyễn Văn Ba chết, chúng tôi buồn vì thiếu vắng một người bạn, nên không còn hứng thú trong những buổi lang thang nữa. Ngồi nhà suốt một tuần nên mới biết bên hàng dậu có người ngọc. Cả ba: Sơn, Tâm và tôi bắt đầu theo đuổi. Nhưng cả ba đều không thành công. Lý do: tuổi trẻ ham chơi nên không bỏ hết thì giờ để đeo đuổi, thứ nữa là sĩ diện, quan trên trông xuống người ta trông vào, thầy giáo mà đi chọc gái thì ê càng quá. Tuy nhiên với tâm hồn nhạy cảm của người nghệ sĩ, Sơn đã thành công khi đưa tất cả những âm thanh mơ hồ của ngàn lau,của tiếng kèn đồng, tiếng chuông nhà thờ cùng dáng yểu điệu của cô Ngà hòa nhập với gió chiều nhè nhẹ để cấu thành chất liệu tuyệt vời tạo nên nhạc phẩm “Lời buồn Thánh”:

…Chiều Chúa nhật buồn
Nằm trong căn gác đìu hiu
Nghe tiếng hát xanh xao của một buổi chiều
Bạn bè rời xa chăn chiếu
Cô đơn còn đến bao giờ…”

Xuất xứ vài nhạc phẩm và những mối tình “một thoángmây bay”
Ngoài những nhạc phẩm như “Biển nhớ”,” Nhìn những mùa thu đi”,”Dã tràng ca”…Sơn sáng tác ở Quy Nhơn lúc còn học trong trường Sư Phạm nên khoá 62-64, và các bản “Chiều một mình qua phố”, “Lời buồn Thánh”,”Vết lăn trầm”…Sơn làm tại Bảo Lộc thì tôi biết rõ xuất xứ và thời gian như đã nói qua ở trên, tôi còn biết thêm một vài nhạc phẩm khá hay liên quan đến những mối tình, mà anh gọi là “một thoáng mây bay” do anh kể lại, nay một chuyện, mai một chuyện. Thường thường những chuyện này được anh kể trong những buổi chiều trời mây u ám, mưa rả rích, dai dẳng. Hai anh em chúng tôi đem đàn, sáo ra hòa điệu. Rồi cũng chán. Lại cà phê. Khói thuốc mịt mù, mờ khuôn cửa kính. Anh kể chuyện hấp dẫn, có duyên, bất cứ chuyện gì anh kể tôi cũng đều thấy hay, có khi khôi hài, dí dỏm. Vừa nói anh vừa ra điệu bộ, làm cho câu chuyện rất sống động, thu hút người nghe từ đầu đến cuối.


Diễm của “Diễm xưa”

Ngô Vũ Bích Diễm

Hai chị em, người chị là Ngô Vũ Bích Diễm, người em là Ngô Vũ Dao Ánh, con gái của thầy Kh., giáo sư Pháp văn tại trường Đồng Khánh và Quốc học Huế. Sơn kể: “Hai chị em đều đẹp và quí phái, nhưng tôi theo đuổi cô chị. Mối tình học trò kéo dài từ khi tôi còn ở Huế cho đến khi tôi vào Sàigòn trọ học. Cha mẹ Diễm khó và không thích tôi. Nhưng tôi vẫn cứ đeo đuổi hình bóng của Diễm và Diễm cũng chưa tỏ vẻ gì là xa lánh tôi. Năm đó tôi thi trượt Tú tài II mà Diễm lại đậu rồi vào Sài Gòn họcĐại học Văn Khoa. Còn tôi thì từ Sài Gòn trở về Huế, bỏ ngang việc học vì gia cảnh. Phần buồn, phần vì tự ái, tôi không còn liên lạc với Diễm nữa và Diễm có lẽ thấy tôi lâu quá không thư từ, thăm hỏi, nghĩ rằng tôi đã quênnên cũng lơ luôn. Đâu biết rằng đó thời gian đó tôi rất khổ. Tôi đã cố nén mọi nỗi buồn trong im lặng.
Ngô Vũ Dao Ánh

“Sự đau khổ và nỗi nhớ nhung dày vò tôi từng đêm,tôi đã viết nên bản”Diễm xưa” để trút bớt niềm đau trong lòng. Nhưng lạ một điều là khi tôi viết xong nhạc phẩm này, lòng tôi lại nhẹ nhàng, thanh thản. Tôi cảm thấy vơi đi rất nhiều nỗi nhớ, và tình yêu trong tôi bây giờ chỉ còn lại một chút mong manh như sương như khói. Nó không còn nồng nàn,mãnh liệt như trước.

“Một dịp tôi vào Sài Gòn, tìm đến cư xá Diễm đang nội trú với ý định tặng nàng bản nhạc để làm kỷ niệm một thời thơ mộng của tuổi trẻ rồi thôi. Nhưng không gặp, tôi nhờ mấy người bạn gái đang đứng ở cổng trao lại giùm cho Diễm. Khi tôi đi được một quãng thì nghe tiếng Diễm từ trên ban công gọi theo “Anh Sơn! Anh Sơn!”. Nhưng tôi không ngoái lại. Tôi cắm đầu đi thẳng. Tiếng gọi anh Sơn, anh Sơn vẫn còn văng vẳng bên tai. Từ đấy đến nay tôi tự nhủ lòng sẽ không bao giờ gặp lại Diễm nữa”.

Tôn Nữ Bích Khê và “Biển Nhớ”

Nhóm học sinh Nha Trang khăn gói ra Quy Nhơn học Sư phạm có 11 người, 7 nam và 4 nữ. Các nữ giáo sinh gồm có Mân Thị Dưỡng (em gái của Mân Thiệu tức nhạc sĩ Thanh Châu,ác giả nhạc phẩm “Thư gửi người lính chiến”); Nguyễn Thị Tảo, Tảo học chung lớp Đệ nhất B3, Võ Tánh Nha Trang với tôi (tức Nguyễn Thanh Ty, người kể lại chuyện này- ĐD); Kiều Thị Đợi và Tôn Nữ Bích Khê.
Bích Khê có hai người em gái cũng tên Khê, đó là Tôn Nữ Thuần Khê và Tôn Nữ Cẩm Khê. Bích Khê dáng người nhỏ, tròn lẳn, nước da ngăm ngăm đen, thường đánh tóc rối thành một búi lớn ngược ra sau trên đỉnh đầu. Mang guốc cao gót, nhọn, hiệu Đakao, đi chân sáo.

Đứng xa nhìn Bích Khê đi trông giống như con sáo nhỏ đang ngảy nhót trong sân. Cái búi tóc nhảy tưng tưng theo nhịp bước, người ta có cảm tưởng có lúc nó sẽ kéo cô chủ của nó té ngửa ra đằng sau. Bích Khê không đẹp nhưng rất có duyên, quyến rũ. Bích Khê cũng ở trong ban hợp xướng. Người lĩnh xướng là Nguyễn Thị Ngọc Trinh…
Tôi không biết rõ chuyện tình của Sơn và Bích Khê bằng ông Đinh Cườngmặc dầutôi học chung 2 năm cùng lớp trong trường Sư Phạm Quy Nhơn với Khê. Bởi vì hầu như ngày nào cũng có nhiều cô đến nhà trọ của Sơn. Sau khi bản Biển Nhớ được sáng tác và tập dượt để ra mắt buổi văn nghệ thì giáo sinh sư phạm mới lưu ý tới Bích Khê và bàn tán, vì tình cờ hay cố ý, Sơn đã viết “trời cao níu bước sơn khê” trong lời nhạc. Về sau, 1970, tôi được thuyên chuyển về Nha Trang, gặp lại Bích Khê nay đã yên bề gia thất, chồng nàng tên Chương, thợ sửa máy lạnh, có cửa hàng muabán, sửa chữa, tại đường Quang Trung, đối diện với hiệu ảnh Photo Vỹ. Sau 1975, hai vợ chồng trở nên giàu có hơn xưa. Hồi ở Blao tôi có hỏi Sơn về sự liên quan giữa nhạc và người. Sơn nói chỉ là bạn như những người bạn khác, hai chữ sơn khê chỉ là tình cờ.


“Nhìn những mùa thu đi”

Bản “Nhìn những mùa Thu đi” cũng thuộc trường hợp tương tự. Trong lớp tôi đã có ba cô Thu rồi. Các lớp khác cũng hai hay ba Thu, nên không biết Thu nào đã đến với Sơn hay Sơn đã yêu Thu nào. Mỗi khi có cô Thu nào đi ngang qua, bọn chúng tôi hát ghẹo “Nhìn những lần thu đi, anh nghe hồn anh đau đớn…”. Mãn khóa, chia tay. Không ai có thì giờ để ý đến chuyện của ai. Chăm chú, hồi hộp đợi danh sách bổ nhiệmxem cuộc đời đưa đẩy số phận mình đến phương trời nào.

“Ca khúc da vàng”

Sau vụ bị rao tìm trên đài phát thanh Đà Lạt và bị quở trách tại Ty Giáo Dục Bảo Lộc, Sơn trở nên cần mẫn hơn, khuôn phép hơn. Sơn ít đi lại Sài Gòn, Đà Lạt. Thỉnh thoảng có đi thì cũng về kịp sáng Thứ Hai để đi dạy. Trong thời gian này Sơn nhận được rất nhiều thư. Phong nào cũng dày cộp. Sơn dạy buổi sáng, nên người nhận thư là tôi. Nhìn con dấu Bưu điện tôi biết thư được gửi từ Huế. Đấy là thư bạn của Sơn… Từ lúc đọc những lá thư dày cộp đó, Sơn bỗng nhiên thay đổi hẳn tâm tính. Lúc nào cũng có vẻ bồn chồn, lo lắng, ít đi lang thang những buổi chiều nữa. Có lúc anh ngồi trước bàn, thẫn thờ, mắt đăm chiêu nhìn qua cửa sổ hàng giờ, yên lặng với khói thuốc. Có khi điếu thuốc từ lúc châm đến lúc tàn chỉ rít một hai hơi. Chiếc gạt tàn đầy ứ, tràn ra bên ngoài. Sơn mua khóa về khóa chặt va ly để cất những thư ấy. Có cái Sơn đem ra sân đốt ngay sau khi đọc.

Sau đó, Sơn lại thường xuyên đi Đà Lạt hơn, khi thì 2 ngày, khi thì 3 ngày. Sơn kể tôi nghe về một trang trại ở Phim Nôm, gần Đức Trọng – một quận của tỉnh Tuyên Đức. Sơn ở đó với vài người bạn (Sơn không cho biết tên) bàn chuyện làm ăn. Có lần Sơn rủ tôi làm chung, mỗi tháng lương là 10 ngàn.

Hết hè, tôi vẫn còn luyến tiếc thời gian 3 tháng trôi qua quá mau. Trở về căn phòng ở Bảo Lộc, tôi rất đỗi ngạc nhiênkhi thấy Sơn đã có mặt ở đấy rồi. Căn phòng bừa bộn, bẩn thỉu. Toàn là tàn thuốc. Những vỏ gói thuốc lá Bastos xanh trống không vứt đầy chân tường, cao thành từng đám. Sơn nằm dài trên đi văng, mùng vẫn buông, ám khói vàng khè. Dưới gầm bàn, giỏ rác đầy ứ, toàn là giấy quay rô-nê-ô xỉn vàng, vo tròn, vứt đầy mặt đất. Bã cà phê khô đóng mốc xanhmốc trắng vương vãi, chổ này một nhúm, chỗ kia một tụm. Tôi nhìn Sơn mà ái ngại. Sơn xanh hẳn, gương mặt hốc hác, người đã gầy lại càng gầy thêm. Gầy rạc. Bộ đồ pyjama trở nên rộng thùng thình, đen xỉn, nhàu nát. Có lẽ ba tháng nay không giặt! Nhưng nét mặt lại lộ vẻ vui. Tôi vừa xếp dọn lại chỗ nằm của mình vừa trò chuyện với Sơn: “Ông làm gì mà nằm ép rệp ở đây đến mấy tháng hè lận? Không buồn à?”. Sơn phấn khích chìa tập nhạc ra khoe với tôi: “Công trình suốt ba tháng đó!”. Tôi cầm xấp bản thảo, liếc qua trang đầu có nhan đề “Ca khúc da vàng”, lật thêm mấy tờ bên dưới thì thấy những tựa đề rất lạ: “Gia tài của mẹ”, “Đàn bò vào thành phố”, “Người già em bé”, “Người con gái Việt Nam da vàng”… với những lời ca lạ lẫm, khác hẳn những lời trong tình ca đến 180 độ. Tôi ngờ vực có cái gì đó đã làm thay đổi con người của Sơn nhưng chưa xác định được rõ ràng nó là cái gì.

Tối hôm đó Sơn hát cho tôi nghe một vài bài tiêu biểu trong tập “Ca khúc da vàng”. Đến những đoạn như “Gia tài của Mẹ, một bọn lai căng. Gia tài của Mẹ, một lũ bội tình” hay như “đại bác đêm đêm dội về thành phố, người phu quét đường dừng chổi lắng nghe” hoặc như “Tôi có người yêu chết trận đêm qua, chết thật tình cờ…”, tôi bỗng nổi da gà. Lời ca thật xúc động, nó xoáy sâu vào tim người nghe rồi chuyền lên óc làm cho rúng động tâm can, tỏa lan dần khắp cơ thể khiến cho bải hoải tứ chi.

Dần dà trong bọn chúng tôi ai cũng biết Sơn vừa sáng tác một tập nhạc mới. Lại chia làm hai phe. Lúc đó đâu đã có từ “phản chiến” để chỉ loại nhạc này. Chúng tôi ngâm nga hát mỗi bài vài ba câu. Phe thích thì cứ “Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu, một trăm năm đô hộ giặc Tây,hai mươi năm nội chiến từng ngày…”, ca cẩm suốt ngày. Phe chê thì bảo “Xí, nhạc Việt cộng, cha nội Sơn theo Việt cộng rồi”. Tuy nhiên, sau đó quên lãng đi. Chúng tôi lại vẫn bù khú bi da, cà phê, xập xám, vui vẻ ồn ào như xưa.

Thời gian sau, Sơn rất bận rộn. Đi đi, về về Sài Gòn, Đà Lạt liên tục. Thường xuyên bỏ trường hơn trước, nhưng thời gian đi không lâu,có khi 2 ngày, có khi 3 ngày. Ông già Thống từ ngày được ông “trưởng giáo” Trịnh Công Sơn hào phóng cho 100 điểm nhận xét, há miệng mắc quai, đành ngậm bồ hòn làm ngọt.

Sơn cho tôi biết là đang chuẩn bị in tập “Ca khúc da vàng” và hé cho tôi nghe thêm là giới sinh viên thích lắm, họ đang yêu cầu có những buổi hát ngoài trời gọi là “du ca”. Sơn cũng nói đến một vài cái tên sinh viên này sinh viên nọ, sẵn sàng giúp Sơn thực hiện những buổi trình diễn đó. Những điều Sơn kể cùng những cái tên xa lạ không ăn nhập gì với đời sống đang tươi đẹp của tôi, nên từ lỗ tai này chạy qua lỗ tai kia, chỉ chốc lát là tôi quên hết. Những khi Sơn đi Sài Gòn hay Đà Lạt, tôi còn khối bạn bè để vui chơi. Nào Tín, nào Đạo, nào Bạch, nào Lãng, Tâm mập, Tâm lùn…, tuần này xuống Tân Hà, đến nhà ông hiệu trưởng Ngọc, hạ cờ tây (tức hạ cầy tơ), tuần sau kéo nhau vào ấp Lam Sơn, đến nhà ông Tề ngắm hoa phong lan, đánh chén thịt gà quay, gà nướng muối ớt. Lại có những lúc chúng tôi cùng các côdạo suối Đại Bình cách Blao chừng vài cây số. Cứ thế tuổi trẻ của chúng tôi,ngoài việc dạy dỗ các học sinh, đã trải qua những ngày tháng tươi vui, đáng sống ở cái quận lỵ bé nhỏ, mà mới ngày nào tôi gặp Sơn ở bến xe một buổi chiều cuối tuần đìu hiu có mưa rả rích,buồn đến thúi ruột.

Chia tay

Hè 1967, chúng tôi đang mỗi người một nơi nghỉ hè, bỗng đồng loạt nhận được điện khẩn của Ty Giáo dục Bảo Lộc nhắn lên gấp để nhận lệnh nhập ngũ. Phía dưới công điện còn có hàng chữ: “Nếu trình diện trễ hạn sẽ bị đưa ra trường hạ sĩ quan Đồng Đế Nha Trang”. Thế là chúng tôi không hẹn mà gặp nhau cùng một ngày tại Ty. Tay trái nhận lệnh động viên, tay phải nhận phong bì ứng trước một tháng lương để có tiền ăn đi đườngnhập ngũ. Không thấy Sơn đâu. Hỏi anh Thành phát ngân viên, anh cho biết Sơn đến hôm qua, lãnh lương tạm ứng xongđi ngay rôì. Sơn đi đâu, chúng tôi không biết.
Tối hôm đó chúng tôi gồm: Đạo, Hinh, Sang, Nghị, Nhượng, Bạch, Tâm lùn, Ngọc (Lãng đang sốt rét, Thao què giò được miễn) và tôi, uống một bữa thật say. Ai cũng ví mình là Kinh Kha bên bờ sông Dịch, một đi không trở lại. Chỉ tiếc không có ai là Cao Tiệm Ly thổi khúc sáo tiễn kẻ lên đường. Chúng tôi đang lúc ngà ngà, ôm nhau hát bài “Những ngày xưa thân ái” của Phạm thế Mỹ, cứ lặp đi, lặp lại điệp khúc “Chỉ còn tay súng nhỏ, giữa rừng sâu giết thù, những ngày xưa thân ái xin gửi lại cho nhau” rồi cùng nhau khóc, khóc như trẻ thơ, khóc tự nhiên không một chút xấu hổ. Sáng hôm sau tỉnh dậy chỉ còn lại vài mạng say quá chưa tỉnh nổi, còn bao nhiêu thì đã ra bến xe rồi. Tôi ra bến xe, nhìn lại quang cảnh, vẫn y như cũ, không có gì thay đổi, nhưng hôm nay sao thấy buồn quá đỗi. Cái gì cũng có vẻ xa vắng, bơ thờ.

Khi xe chạy ngang qua bờ hồ, tôi thì thầm: “Giã từ Bảo Lộc thân yêu! Biết bao giờ gặp lại!…”. Xe khuất dần, tôi cố ngoái lại lần chót , chỉ còn thấy ngọn cây khô chết giữa hồ. Nước mắt tôi lại ứa ra. (Nguyễn Thanh Ty).

Đoàn Dự

Comments are closed.

error: Content is protected !!