Thời Báo Vietnamese Newspaper

Chùa Túy Vân

Bài – ảnh: Trần Công Nhung

Những ngày còn đi học, các bạn thường kháo nhau về thắng cảnh Túy Vân (Huế). Nghe tên gọi cũng đã hình dung cả một vùng mây nước mộng mơ. Ðiều rất lạ là người ở xa nghe tiếng, lặn lội tìm, người ở gần thì như chưa hề biết. Càng xa quê hương, càng thấy rõ vẻ đẹp nơi chôn nhau cắt rốn. Về lần này, tôi thuê chiếc xe máy đi vãng cảnh Túy Vân.

Người bạn cũ trong Thành Nội, chỉ đường: Theo quốc lộ 1 về trụ sở xã Hương Thủy, rẽ trái Ngã Ba Tránh, con đường mới làm, tốt và an toàn, chạy thẳng qua cầu Trường Hà là đến Túy Vân. Ðơn giản thế mà không phải dễ. Ngày trước, nhà cửa ít, ranh giới nội thị ngoại ô phân biệt không khó, bây giờ đường mở rộng, phố xá liền căn, kéo dài tăm tắp, không biết đâu là đâu. Chốc chốc dừng xe hỏi đường. Ngã Ba Tránh là gì cũng không rõ, cứ lần mãi, hóa ra là ngã ba dành cho xe khách chạy Nam Bắc tránh không vào thành phố Huế. Ðây là cách giải tỏa giao thông mà ngày nay tỉnh nào cũng áp dụng. Ði qua nhiều nơi, có khi tôi đã phải xuống xe tại ngã ba khá xa trung tâm thành phố.
Con đường đi Túy Vân không rộng lắm, băng qua cánh đồng sau ngày mùa. Một vài nơi đã vào nước, có lẽ chuẩn bị cày cho vụ tới. Một đàn trâu đang gặm cỏ bì bõm. Trâu bò ngày càng mất dần, máy cày ngày một nhiều thêm, nhất là trong Nam, hầu như nơi nào cũng cày máy. Thời này đi kiếm một đàn bò chừng trăm con để chụp ảnh là chuyện khó.

Gió đồng lồng lộng, trời còn nắng nhưng không nóng. Cầu Trường Hà hiện ra trước mặt, chiếc cầu rất “hiện đại” bắc qua phá Tam Giang. Phá Tam Giang xưa kia nổi tiếng nguy hiểm khó qua, thế mới có câu:

Thương em anh cũng muốn vô
Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang

Ðến giữa cầu tôi dừng xe, chụp cảnh sông nước, cảnh thuyền chài tung lưới, phía xa là làng mạc, tất cả im lìm dưới nắng chiều còn gắt.
Nhường tay lái cho người bạn nhỏ, từ đây trở đi tôi đã có việc làm. Tôi ngồi sau, máy ảnh sẵn trên tay. Qua cầu, phía bên phải một cảnh đường làng khá đẹp. Tôi vỗ vai cho xe dừng. Từ trên lộ cao nhìn xuống, con đường đất chạy ngoằn ngoèo nổi hẳn giữa màu xanh cỏ cây, phía xa, một ngôi miếu nép bên đường. Thôn quê nơi nào cảnh trí cũng giống nhau, đồng lúa lũy tre, sông nước thuyền bè, nhưng thỉnh thoảng mới gặp một cảnh có nhiều yếu tố cho một bố cục nghệ thuật.
Tôi đứng ngắm con đường thật lâu. Con đường làng của nhà thơ Tế Hanh:

Tôi, con đường nhỏ chạy lang thang
Kéo nỗi buồn không dạo khắp làng,
Ðến cuối thôn kia hơi cỏ vướng,
Hương đồng quyến rũ hát lên vang

Tự thân con đường còn hát reo vang, mình lại không vui sao. Tôi đợi thêm một hai chi tiết cho tấm ảnh đang chờ trước mặt. Một người quang gánh vào làng, một con trâu đang gặm cỏ…Tôi bấm máy. Một bức ảnh đứng hay nằm đều đẹp. Cứ mỗi buổi đi, được một tấm như vầy là đủ sảng khoái, nói theo kinh doanh là đủ vốn.

Chạy tiếp đến ngã ba, rẽ phải, một bên nhà cửa, một bên nghĩa trang trên đồi cát, bên dương thế bên âm ty. Người sống thì ở trong những căn nhà tôn lụp xụp, có nhà nghèo xác nghèo xơ. Thỉnh thoảng điểm vài ba quán giải khát, trông tối tăm tồi tàn, cũng muốn dừng nghỉ một lúc song nhớ lời bạn dặn không nên vào, vì toàn “quán HIV”.

Mồ mả nghĩa trang cao ráo màu sắc sáng sủa. Có những mộ phần thành xây hai ba vòng, mái hai ba lớp, có cột rồng uốn lượn, thật “hoành tráng” đầy vẻ sang giàu. Rõ ràng nghịch lý, người sống khổ, người chết sướng. Hỏi ra mới biết, đa phần mồ mả ở đây đều là người thân của Việt Kiều. Thế cũng an ủi người quá cố, vượt biển, vượt biên không chỉ để sung sướng cho mình, cho người sống ở quê nhà mà cả cho người quá vãng. Ðạo lý thế là đẹp biết bao.

Qua hết khu nghĩa trang con đường rợp bóng mát, hai bên đường nhà cửa, cây cối um tùm, sợ mặt trời xuống nhanh tôi giục bạn tăng ga cho xe vọt. Ðoạn đường đến chợ Túy Vân có nhiều cảnh để chụp nhưng không dám dừng e không kịp giờ. Ðã về đến xã Vinh Hiền, nơi có ngôi chùa nổi tiếng xưa nay mà không thấy dấu hiệu gì của du lịch.

Hỏi dân buôn bán họ bảo xuyên qua chợ vòng ra một hòn núi, chùa trên ấy. Ðúng vậy, con đường đi như một bờ đê men theo biển, vài ba chiếc đò chụm đầu vào nhau, soi bóng rất sắc nét. Ngôi chùa nằm trên núi cao. Lên mấy chục bậc tam cấp mới đến cổng tam quan. Nhìn qua, chùa không có nét cổ như chùa Hải Ðức (Nha Trang), chùa Từ Hiếu (Huế), lại càng không có cái vẻ xưa cũ như chùa miền Bắc. Chùa khoác nét mới bây giờ.

Tôi đang chụp một vài ảnh thì có một chú tiểu bước ra.
– Xin chú cho biết, ngôi chùa được dựng vào thời nào?
Chú tiểu vui vẻ thân thiện nhìn tôi:
– Dạ, chùa có từ thời chúa Nguyễn Phúc Chu vào cuối thế kỷ 17. Năm 1826 vua Minh Mạng cho sửa lại, năm 1841 vua Thiệu Trị trùng tu, đến năm 1936 chùa được sửa sang lần nữa (1).
– Thưa chú, tại sao chùa có tên là Thánh Duyên mà dân lại gọi Túy Vân?
– Có lẽ do chùa nằm trên núi Túy Vân.
– Thưa chú, vùng này chỉ có chùa Thánh Duyên là nổi tiếng?
– Dạ đúng, chùa được xếp hạng 9 trong 20 thắng cảnh của Huế.
Tôi xin phép chụp một vài ảnh trong điện Phật.

Tòa điện Ðại Hùng mới được trùng tu, lộng lẫy và uy nghi màu sắc sơn son thếp vàng, bên phải điện Ðại Hùng có tòa nhà bia dựng lên để che tấm bia ngự chế của vua Minh Mạng. Tòa điện Ðại Hùng là một tòa nhà kép 3 gian 2 chái, làm theo kiểu cách Cung điện Huế, bên trong có nhiều pháp khí rất quý như bộ tượng Tam Thế, tượng Thập Bát La Hán, tượng Thập Ðiện Diêm Vương, chuông đồng đa số tượng đồng, tượng xi măng sơn son thếp vàng, nhiều câu đối chữ Hán…

Theo tôi cái đẹp của chùa là do vị thế chùa nằm lưng chừng núi, mặt nhìn ra biển đông, thoáng đạt, dưới chân núi lơ thơ thuyền chài, nước biển trong xanh, nhấp nhô sóng bạc đầu. Ngày chưa có cầu Trường Hà, qua Túy Vân phải đi đò, nay có cầu đi lại dễ hơn nhưng vì chỏe đường, ít ai đến. Du lịch Huế, khách thường đi chùa Thiên Mụ, chùa Thuyền Tôn, Từ Hiếu, Từ Ðàm.
Về chùa Túy Vân được cái thú rời xa thị thành đi sâu vào ngoại dã, sống với thiên nhiên, biết thêm đời sống dân nghèo. Vượt qua quãng đường 40km, khách được lên ngọn núi cao để hít thở bầu không khí trong lành, nhìn ngắm trời mây bao la, buông xả bao điều tục lụy. Ðến đây rồi, có lễ Phật hay không, tôi nghĩ không là vấn đề, chỉ ngưng lại giây phút những rối rắm sự đời để lắng nghe tiếng gió về trong tàng cây, nghe tiếng chim đâu đó sau đồi, thế cũng đủ cho khách đường xa bù đắp bao nhiêu hao mòn của tháng ngày qua…

Trần Công Nhung
_____________________

(1) Theo sử liệu: Chúa Nguyễn Phúc Tần trong một lần đi thuyền qua cửa biển Tư Hiền, thấy phong cảnh hữu tình, đã cho lập một ngôi chùa nhỏ đặt tên Mỹ Am Sơn để cầu phúc, an dân. Theo sách “Ðại Nam nhất thống chí”, chiến tranh loạn lạc, làm chùa trở nên hoang tàn đổ nát. Năm 1825, vua Minh Mạng đến du ngoạn ở cửa Tư Hiền đã cho trùng tu chùa và đổi tên núi thành Thúy Hoa. Năm 1836, nhà vua lại cho đại trùng tu chùa, sau chỉnh trang lớn này chùa trở thành một “quốc tự” mang phong cách kiến trúc cung đình đậm nét. Ðến thời vua Thiệu Trị, núi được đổi thành Thúy Vân. Dẫu vậy, người đời đến nay vẫn quen gọi là núi Túy Vân, chùa cũng gọi là chùa Túy Vân, nghĩa là núi Mây Say, chùa Mây Say.

Tin sách
Sách Quê hương qua ống kính bộ 16 tập (discount 50% 10 tập đầu) xin liên lạc tác giả:
NhungTran
PO.Box 163
Garden Grove, CA. 92842
Tel. (816) 988-5040
email: trannhungcong46@gmail.com

Comments are closed.

error: Content is protected !!