Chử Đồng Tử

Bài và ảnh: Trần Công Nhung

 

Tuổi thơ là tuổi thích chuyện Thần Tiên, đến trường chỉ muốn thầy cô kể chuyện thần thoại, trí óc không muốn nhồi nhét chuyện khó khăn toán tính, mà thích chuyện lạ, chuyện không có ở đời, càng phiêu lưu huyễn hoặc càng thích. Một trong những huyền thoại về văn chương làm cho học trò say mê thích thú là chuyện Chử Đồng Tử. Không mê sao được, một anh chàng nghèo không khố che thân mà lấy được nàng Tiên làm vợ rồi được bao nhiêu vàng bạc châu báu… làm gì có ở cõi đời này! Tuổi thơ đầy thơ mộng tha hồ thêu dệt thêm bao nhiêu lạc cảnh bằng thích.

tcn 226

Chuyện kể:

Thời Hùng Vương thứ 18 có một người con gái nhan sắc tên là Tiên Dung. Tiên Dung tự nguyện không lấy chồng, chỉ thích ngao du sơn thủy, thường du lịch khắp nơi trong nước. Được vua cha nuông chiều, cứ mỗi độ xuân về, Tiên Dung ngồi thuyền ngoạn cảnh, say mê quên cả thời gian.

Thuở ấy ở xã Dạ Trạch, huyện Khoái Châu (Hưng Yên ngày nay) có người tên Chử Cù Vân (Chử Trưng) và con trai tên là Chử Đồng Tử. Hai cha con thương nhau rất mực. Đồng Tử biết nói thì mẹ mất. Sau không may nhà lại bị cháy, của cải khánh kiệt, trong nhà chỉ còn mỗi chiếc khố. Hai cha con phải thay phiên nhau mặc mỗi khi ra ngoài. Lúc người cha bệnh nặng sắp mất, dặn con: “Giữ khố lại để mặc, cứ chôn cha xác trần”. Chử Đồng Tử không nỡ để cha trần truồng, dùng chiếc khố độc nhất liệm cha rồi lo mồ mả chu tất. Từ đó Chử Đồng Tử không có gì che thân, đợi đến đêm đi câu cá, ban ngày thì dầm nửa người dưới nước, đến gần thuyền để bán cá hoặc xin ăn.

Một hôm, thuyền Rồng chở công chúa Tiên Dung đi qua, nghe tiếng chuông trống, đàn sáo lại thấy nghi trượng, cờ quạt, quân hầu như một đám rước, Chử Đồng Tử hoảng sợ, chui vào bụi lau ở bãi sông, lấp mình dưới cát. Thuyền Rồng ghé vào bờ, Tiên Dung lên chơi trên bãi, thấy cảnh đẹp trời trong, sai người hầu quây màn ở bụi lau để làm nơi cho mình tắm.

Lúc Tiên Dung dội nước lên mình, cát trôi để lộ thân hình trần truồng của người trai lạ. Nàng ngạc nhiên hỏi chuyện mới rõ sự tình. Nghĩ ngợi một lúc rồi bảo Chử Đồng Tử: “Tôi đã định không lấy chồng, nay tình cờ gặp chàng thế này, chắc do Trời xui khiến. Anh dậy mà tắm rửa đi!”

Tiên Dung trao quần áo cho Chử Đồng Tử rồi dẫn chàng xuống thuyền. Tiên Dung tin là duyên tiền định, ngõ ý kết làm vợ chồng. Chử Đồng Tử xét phận mình thấp hèn, không dám nhận lời, Tiên Dung nói: “Đây là do Trời tác hợp, sao anh lại từ chối”? Thế rồi hôn lễ giữa nàng công chúa với Chử Đồng Tử cử hành ngay trên sông.

Tin đưa về kinh đô,Vua Hùng giận dữ nói với triều thần: “Con gái ta không kể danh tiết, hạ mình lấy kẻ nghèo hèn, còn mặt mũi nào mà trông thấy ta. Từ nay nó không được về cung nữa”. Tiên Dung biết vua cha tức giận, sợ không dám về, bèn cùng chồng lập chợ, buôn bán sinh sống với dân gian. Lâu dần mở mang thành chợ lớn, gọi là chợ Hà Thám, có phố xá khách buôn nước ngoài lui tới giao thương ngày càng phồn thịnh, ai cũng kính thờ Tiên Dung-Chử Đồng Tử làm chúa (Theo “Việt sử Giai Thoại” của Nguyễn Khắc Thuần -NXB Giáo dục). Một hôm có người bày cho cách ra ngoài buôn bán nhiều lãi, Tiên Dung nói với chồng: “Chúng ta nên vợ chồng là do trời định, cơm áo cũng do trời cho. Vậy việc này âu cũng là trời xui khiến, chúng ta nên làm”. Chử Đồng Tử bèn theo khách buôn đi khắp ngược xuôi. Một hôm qua ngọn núi giữa biển tên Quỳnh Tiên, thuyền ghé lấy nước ngọt, Chử Đồng Tử vui chân lên chơi, thấy cái am nhỏ có một đạo sĩ trẻ tên Phật Quang. Chuyện trò ý hợp tâm đầu, Chử Đồng Tử theo lời Phật Quang giao vàng nhờ khách buôn đi mua hàng còn mình ở lại học đạo.

Lúc thuyền trở lại, Chử Đồng Tử theo về đất liền. Khi từ giã, Phật Quang tặng Chử Đồng Tử một cái gậy, một cái nón lá và bảo: “Đây là vật thần thông”.

Về đến nhà Chử Đồng Tử truyền đạo lại cho vợ. Tiên Dung giác ngộ, bỏ việc buôn bán cùng chồng tìm thầy học đạo giúp đời. Vào một đêm tối trời, hai vợ chồng đi đã mệt mà chưa thấy nhà cửa đâu, bèn dừng chân cắm gậy che nón nằm nghỉ. Khoảng nửa đêm, tự nhiên chỗ ấy nổi lên thành quách, cung điện bằng châu ngọc và kho tàng đầy đủ của cải, màn gấm chiếu hoa, không thiếu một thứ gì. Lại thêm tiên đồng ngọc nữ, tướng sĩ lính hầu, rộn ràng quanh hai vợ chồng. Chử Đồng Tử và Tiên Dung nghĩ đây có lẽ là phước báu Trời ban, bù đắp công lao khó nhọc lâu nay của hai vợ chồng.

Sáng hôm sau, dân chúng đều lấy làm kinh ngạc, mang lễ vật đến cúng bái. Họ vào thành, thấy các quan văn võ, lính tráng bèn dâng hương hoa quả ngọt đến xin làm bầy tôi. Từ đấy chỗ đó phồn thịnh, sung túc tấp nập như triều đình của một nước riêng.

Vua Hùng hay tin, cho là con gái làm loạn, vội phái quân đi đánh. Đoàn quân nhà vua gần tới nơi, bộ hạ Tiên Dung xin ra chống cự, nàng cười mà bảo rằng: “Tất cả mọi việc đều do ở Trời chứ không phải tự ta. Ta đâu dám cự lại phụ vương. Sống hay chết đều nhờ ở Trời, dẫu ta có bị phụ vương giết cũng không dám oán hận”.

Trời đã tối, quân của Hùng Vương không kịp tấn công, dừng lại đóng ở bãi Tự Nhiên bên kia bờ sông. Nửa đêm, trời bỗng nổi bão, sóng gió cuồn cuộn, nhổ cây cối, làm bay cả lều lán doanh trại, đại quân nhà Vua rối loạn. Trong phút chốc, thành quách cung điện và bộ hạ của hai vợ chồng Tiên Dung đều bay về trời. Sáng hôm sau, người ta thấy bao nhiêu đền đài đã hóa thành một cái đầm lớn thuộc phủ Khoái Châu (Hưng Yên). Nhân dân cho đó là điều linh thiêng, bèn lập miếu thờ, bốn mùa cúng tế, và gọi đầm đó là đầm Nhất Dạ Trạch (Đầm Một Đêm), bãi cát đó là bãi Tự Nhiên hoặc bãi Màn Trù và chợ đó là chợ Hà Thị.

Về sau, Triệu Quang Phục chống quân nhà Lương, lấy đầm này làm chỗ ẩn nấp để đánh nhau trong mấy năm trời. Đêm đêm quân của Quang Phục ngồi thuyền độc mộc tiến ra đánh úp làm cho quân giặc mỗi ngày một hao tổn. Một hôm Quang Phục lập đàn cầu thần phù hộ, bỗng thấy Chử Đồng Tử(1) cỡi rồng giáng xuống hứa giúp diệt giặc, rồi trao cho Quang Phục một chiếc móng rồng bảo gắn vào mũ để làm bùa thiêng. Trận đó Quang Phục giết được tướng nhà Lương, quân giặc tan vỡ. Họ Triệu tự lên ngôi, tức là Triệu Việt Vương.

Từ những hình ảnh của một thời non trẻ, nay có dịp cận kề vùng đất linh ứng, tôi lên ngay lịch đi thăm đền Chử Đồng Tử (Đa Hòa). Đường đi có hai cách, qua cầu Chương Dương ra đường 5 đi Hải Phòng như lần về Phố Hiến(2). Hoặc chạy xe trên đê Sông Hồng về Khoái Châu. Theo đường đê hẳn là có nhiều thú vị, trên đê nhìn xuống sẽ có biết bao cảnh đổi thay theo lòng sông ngoài đê và sinh hoạt đời thường trong đê. Mùa này nước cạn, có nhiều chỗ để chụp ảnh. Chỉ nghĩ thế thôi mà đã thấy náo nức trong lòng.

Chuyến đi này không chỉ thăm đền Đa Hòa, đền Hóa Dạ Trạch, mà còn luôn một vòng qua Hải Dương, về Hải Phòng tìm cây đa 13 gốc, qua Phà Rừng tìm đền Vua Bà, bãi cọc Bạch Đằng, ra Hạ Long thăm khu Tuần Châu, lượt về qua Vĩnh Bảo (Quảng Ninh) thăm đền Trạng (Nguyễn Bỉnh Khiêm). Một “tua” như vậy thật lý thú nhưng cũng vất vả vô cùng.

 

Trước tiên phải xem lại con ngựa sắt, máy móc dầu mỡ, nghỉ một buổi để sắp đặt cụ bị các thứ vật dụng cá nhân, thuốc men phòng ngừa cùng bao thứ linh tinh cho một chuyến đi xa.

(Kỳ sau: Đền Đa Hòa)

Bài và ảnh: Trần Công Nhung

————-

(1) Phố hiến trang 11 QHQOK tập 13

(2) Tứ Bất Tử là tên gọi chung của bốn vị thánh bất tử trong tín ngưỡng Việt Nam, đó là Tản Viên Sơn thần, Phù Đổng Thiên vương, Chử Đồng Tử, Liễu Hạnh công chúa.

  1. Tản Viên Sơn Thánh, hay Sơn Tinh, là vị thần núi Tản Viên (Ba Vì), núi tổ của các núi ở Việt Nam. Tản Viên tượng trưng cho ước vọng chinh phục tự nhiên, chiến thắng thiên tai.
  2. Thánh Gióng, hay Phù Đổng Thiên Vương, tượng trưng cho tinh thần chống ngoại xâm.
  3. Chử Đồng Tử, (còn được gọi là Chử Đạo tổ), tượng trưng cho tình yêu, hôn nhân, và sự sung túc giàu có.
  4. Liễu Hạnh, hay Mẫu Thượng Thiên, tượng trưng cho cuộc sống tinh thần, phúc đức, văn thơ.

Trong bốn vị trên, ba vị nam thần đầu tiên theo truyền thuyết có từ thời Hùng Vương, và đã được thờ ở rất nhiều nơi từ rất lâu. Riêng Mẫu Liễu Hạnh là phụ nữ duy nhất, mới được đưa vào hệ thống thần thánh từ đời Hậu Lê.

Thực sự về mặt lịch sử thì có thể Chử Đồng Tử cũng là một trong những đệ tử đầu tiên của Phật giáo cổ ở nước ta. Truyền thuyết cũng khẳng định đạo Phật cổ đã du nhập vào nước ta từ thời Hùng vương khoảng 200-300 năm trước Công nguyên. Truyền thuyết cũng cho thấy ban đầu cũng có xung đột chính trị giữa tín ngưỡng đạo Phật và tín ngưỡng cổ Văn Lang, giữa Phật giáo cổ và giới cầm quyền của các vua Hùng.

More Stories...