Chiến hữu!

Đoàn Xuân Thu

Chiều cuối năm, quê người, buồn như dế kêu!
Nhưng có tin vui giữa giờ tuyệt vọng là: Nguyễn Bằng Dương, cùng khóa 4/72 Thủ Đức, từ Sydney bay xuống Melbourne họp Hội Cựu Quân nhân toàn Úc Châu; vì Dương là dân chức sắc.
Chờ cho Dương họp hành xong, về… thì cái đám chiến hữu ở Melbourne họp lại tại nhà tui để dàn chào ‘đàn em’ Nguyễn Bằng Dương bằng một thùng beer và một chai Jack Daniel’s.

Em yêu, vốn là vợ lính, nghe chiến hữu của chàng đến thăm tệ xá bèn tất tả ra chợ Footscray, vác về con vịt quay để làm mì vịt đãi mấy ‘thằng chả’ nhậu!

Nghe tui giới thiệu sơ sơ là chiều nay lúc 6 giờ, sẽ có 4 Đại tá ghé nhà ta:
Nguyễn văn Rạng, (Trung đội 222, sau về Trinh sát Dù (không bọc); Nguyễn văn Luyến (Trung đội 231) và Phùng Ngọc Thái (Trung đội 224 sau về Kỵ binh Thiết giáp… (đứt xích).
Thái còn có cái nick name là Cóc, vì ít nói. Nhưng mở miệng ra là gầm; đất trời Melbourne mưa tuôn xối xả. Nhưng em yêu của tui ‘gầm’ còn to hơn Thái!

Nghe giới thiệu 4 ngài Đại tá sẽ viếng thăm tệ xá, nhà ta, em tròn xoe con mắt biếc, hỏi rằng: “Năm 75, anh mới Thiếu Úy là hết mức! Sao chiến hữu của anh, ai cũng đeo lon Đại tá hết vậy hả?”
Tui bèn từ tốn và khiêm tốn (bằng bốn lần làm phách), cắt nghĩa để cho em yêu thông suốt như vầy:
“Em nói đúng! Lúc đó là Thiếu úy, giờ lên Đại tá vì mấy ‘giả’ ba gai, từng bị nhốt dài dài, làm tù trưởng ở đồn Quân cảnh 301 đó!

Bằng không chắc đã lên Tướng lâu rồi! Bốn chục năm rồi còn gì? Lên lon như vậy là chậm!”
Tiện đây tui cũng khoe dùm huynh trưởng Nguyễn văn Rạng một cái!
Năm 91, Rạng và ’em yêu’ của Rạng đang bán milk-bar, có thằng Úc cà chớn, vác cây short-gun, kê vào đầu em yêu tính cướp.

Huynh trưởng Rạng tay không cướp được súng thù! Nó hoảng kinh hồn vía, bỏ chạy… như giông.

Báo chí Úc, chơi tin trên trang nhứt, ngã nón cúi chào: “Lính Trinh sát Nhẩy Dù Việt Nam Cộng Hòa rất đáng kể; vì là rất đáng nể!”

Đúng 6 giờ chiều, Nguyễn Bằng Dương bước vào; theo sau là ba sĩ quan tùy viên cho ông Tá.
Chu choa Melbourne, chiều mùa Hè, khoảng 16 độ C, nóng vậy mà bạn hiền tui than lạnh. Đúng là dân Sydney có khác.

Melbourne 4 mùa trong một ngày! Sáng nắng, chiều mưa, trưa hiu hiu gió và đêm về thì… bão!
Lột cái kết trên đầu ra. “Chu choa! Sao tóc ông không còn một cọng… Sói dữ nha!”
“Thì ông cũng sói như tui thôi, tóc cũng đâu còn cọng nào!”
“Không ông sói hơn tui! Vì đầu ông bự hơn đầu tui! He he!”

Giỡn chơi hơi quá hốp! Xin huynh trưởng Dương chín bỏ làm bù, đừng trùm poncho mà dọng… để ‘đàn em’ biết thế nào là lễ độ!
Bạn lính mà, chung Tiểu đoàn 2, khăn tím, khóa 4/72 nhưng khác đại đội nên gặp nhau… cũng kể như lần đầu.

Và tiệc lính nhậu nào cũng na ná như nhau! Như nhà thơ Cao Tần nhậu với mấy chiến hữu của mình năm nào vậy thôi!

“Chuyện binh lửa anh em chừng cũng ớn/Dọn tinh thần: cưa nhẹ đỡ ba chai/
Rừng đất khách bạt ngàn màu áo trận/ Xong hiệp đầu mây núi đã bâng khuâng”
Thưa! Nhớ xưa! Từ Trung tâm Huấn luyện Quang Trung, hàng chục chiếc GMC xúc các chàng tuổi trẻ (như con gà chết) đổ xuống Vũ Đình Trường trên đồi Tăng Nhơn Phú, nơi các siêu huynh trưởng khóa 1/72 (khăn đỏ) đang chờ sẵn, dàn chào siêu đàn em để bắt đầu tám tuần huấn nhục.
Chạy, hít đất, nhẩy xổm, móc giò lên giường, máu chảy về tim, trình diện dã chiến, hay làm tù trưởng 301 (dành cho mấy huynh trưởng hỏng giống ai, hơi ba gai một chút) là chuyện thường ngày ở trường Bộ Binh Thủ Đức.

Lâu dần đời mình sẽ quen! Chân cứng đá mềm, cần cổ đen thui như sơn dầu hắc là xong kiếp nạn Tân Khóa sinh.

Quỳ xuống đứng lên; với con cá trên vai để bắt đầu con đường ‘ăn hiếp’ đàn em như các huynh trưởng khóa trước đã đi!

Đời mà! Kiến ăn cá! Và con cá nầy ăn con kiến khác… Luật bù trừ là như vậy đó bà con ơi!
Lên Sinh viên Sĩ quan là được đi phép. Sau hai tháng, xa cái mùi mắm kho của em yêu nay trở về sao thèm quá xá!

Ngày đi một bước ho khan! Ngày về sờ thử thấy chàng ‘cứng’ ghê!
(Sờ đây là sờ hai con chuột trên bắp tay rắn rỏi của anh chàng Sinh viên sĩ quan khóa 4/ 72 đó nhe bà con! Xin phụ đề thêm cho nó rõ nghĩa!)
Thưa còn tuần nào hỏng được đi phép vì bị cấm trại là phải ra tuyến B hay tuyến A để gác!
Xin lỗi bà con xứ Quảng quê mình, “En không en! Tét đèn đi ngủ!” đừng rầy là: “Chửi cha không bằng pha tiếng!”; thì tui mới dám thuật lại chuyện huynh trưởng Luyến, vốn là dân Bắc Kỳ 54, kể tui nghe!
Gác tuyến là phải biết mật khẩu như cái password của máy vi tính bây giờ vậy mà.
Bất kể quan to hay quan nhỏ… Phải đáp trúng mật khẩu, là giở cổng cho qua. Bằng không thì cây AR 15 lên cò nghe cái rốp.

Nửa đêm, có chiếc xe jeep từ từ bò vào cổng, ngừng lại.
Huynh trưởng xứ Nẫu quê mình hô khẩu lịnh: “Tét đèn”
Tay tài xế xe jeep tắt đèn.
Huynh trưởng hô mật khẩu: “Bẹt đèn!”
Tay tài xế lại bật đèn lên!
Huynh trưởng lùi lại, hô: “Tét đèn!”
Tay tài xế xe Jeep lại tắt đèn.
Huynh trưởng lại hô mật khẩu: “Bẹt đèn!”
Tay tài xế nổi quạu lên: “Tắt đèn! Bật đèn hoài vậy cha nội!”
Hỡi ôi! Bẹt đèn nầy không phải là Bật đèn mà là Bạch Đằng! Tiếng Quảng quê mình là như vậy đó bà con ơi!

Thưa còn tui thì lại nhớ ngày đầu tiên ra bãi bắn Long Thạnh Mỹ.
Chui xuống hầm bia để chờ huấn luyện viên trên đài tác xạ ra lịnh: Bia lên! Là đưa lên. Bia xuống là kéo xuống!

Thay cái hình VC bị bắn lỗ chỗ nầy bằng cái hình VC khác… để đếm lỗ mà tính điểm bài thi bắn súng trường ba tư thế đứng, ngồi, nằm.

Hai đứa cùng nhiệm vụ, tui ‘bỏ nhỏ’ cho huynh trưởng Lê Trung Tuấn giơ bia lên; kéo bia xuống. Còn tui nằm phè, dựa lưng vào vách hầm, hút thuốc vặt và nghe đạn AR 15 bay véo véo trên đầu.
Lại nhớ tới bài thơ của Nguyên Sa: Sân Bắn!

“Bia lên ta thấy thân người/ Thấy ta thấy địch, thấy đời lãng du
Thấy tay dư, thấy chân thừa/ Thấy tai nghễnh ngãng, mắt mù óc không…
Một đời phơ phất hình nhân/Thấy còn thấy hết, sau cùng thấy đau
Bia lên thấy mẹ u sầu/Giấy bồi tơi tả cúi đầu trong ta
Trời cao ngó xuống thịt da/ Bia lên trông cũng vật vờ cỏ xanh
Bia lên tìm chỗ ta nằm/ Non cao duỗi cẳng em còn thấy đâu
Hầm bia buồn đến mộ sâu/ Nghìn cây nến thắp trên đầu đạn bay…

Rồi những bài học về chiến thuật trung đội phòng thủ, trung đội tấn công, trung đội tao ngộ chiến, trung đội phản phục kích…

Những ngày đi bãi! Đồi 31, đồi Bác sĩ Tín (dầu khuynh diệp), bãi Nhà Sập, cầu Bến Nọc…
Đầu năm 73, tháng Giêng, tình hình chiến sự biến chuyển dồn dập. Hiệp định Paris bốn bên ký xong chưa ráo mực, là hầu hết các khóa sinh viên Sĩ quan Thủ Đức năm 72 lên đường đi chiến dịch.
Tui về xã Tân Phú Trung, quận Bình Đại, tỉnh Kiến Hòa.

Buổi chiều, giáp Tết năm 73 đó, chân mây ráng đỏ màu máu. Ngồi trên nóc hầm truyền tin của đồn nghĩa quân ấp Tân Định, lần đầu tiên mới biết uống rượu đế.
Khề khà vài ly với mấy ông Nghĩa quân. Mắt ngóng về Mỹ Tho nơi có Má, có em chỉ chừng 40 cây số, ngược dòng sông Mỹ Tho, sao mà xa xôi quá đổi…

Bốn tháng chiến dịch trở về, mang theo mấy câu thơ!
“Phố chợ Tân Phú Trung buồn như mưa/ Tạ ơn quán em cho bình toon rượu/
Nếu không có em, đìu hiu phố chợ/ Không rượu chiều nay lấy gì ta say?”

Thưa nãy giờ làm mới có 5 lon, sao buồn quá mạng khi nhắc tới chuyện xưa nên huynh trưởng Luyến thay đổi không khí buồn bã nầy bằng cách ‘chơi’ bài Lục Quân Việt Nam cho nó hăng lên mới được:
“Đường trường xa muôn vó câu bay dập dồn/Đoàn hùng binh trong sương lướt gió reo vang/ Đi đi đi lời thề nguyền tung gươm thiêng thi gan tài/

Đời hùng cường quyết chiến đấu đoàn quân ra đi…”
Nhớ xưa! Khi di hành trong khuôn viên nhà trường mà gặp đại đội bạn đi ngược chiều, thế là đua! Mạnh ai nấy rống! Coi ai rống lớn hơn ai?
Thay vì: Đường trường xa muôn vó câu bay dập dồn lại thành: Đường trường xa con chó nó tha con mèo!
Thưa chiến tranh không phải là một trò đùa. Nhưng đùa được là cứ đùa! Vì tụi tui lúc đó chừng 20, 21 tuổi (có đứa mới đậu Tú tài Một là đăng đi lính ngay như Nguyễn Quang Mẫn, gốc Huế, chỉ mới vừa 18 tuổi).

Cười cái đã! Biết ra sao ngày sau?

Bài học cuối cùng là Hành quân Dã trại trước khi mãn khóa để anh quỳ xuống đứng lên thành Chuẩn úy.
Từ Alpha, con cá thêu trên ve áo đổi thành hai cái quai chão để chiên xù… hai con cá!
Đã lưng chừng đêm, trời đổ trận mưa to. Từ đồi 31 trở về, trùm pocho, đi âm thầm, lặng lẽ như một đoàn quân ma, qua những con đường mòn, những ngọn đồi thấp, những chồi cây. Giọt mưa theo triền nón sắt. Lấy tay che gió, mồi điếu thuốc Bastos xanh từ cái hột quẹt Zippo leo lét cháy, hít vài hơi, khói lửa 30 giây, cho đỡ lạnh.

Thưa đêm áp lễ ngày mãn khóa là: đêm bồng súng gác Trung Nghĩa Ðài.
Mặc đồ tiểu lễ, dây biểu chương, găng tay trắng, nón caskette có quai vòng quanh cằm, súng trên tay áp vào ngực vào vai, lưỡi lê chọc thẳng lên trời, như hai cái tượng đứng canh thức cho những huynh trưởng đã bỏ mình vì tổ quốc.

Ðêm càng sâu, gió càng lạnh; thổi bập bùng những ánh đuốc!
“Hồn tử sĩ gió ù ù thổi. Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi…”
Ngày trọng đại cuối cùng đã tới! Quân phục đại lễ!
“Quỳ xuống các Sinh viên sĩ quan! Đứng lên các tân Sĩ quan!”
Giương cung, tên bắn bốn phương trời! Chí tang bồng hồ thỉ!
Về Nhảy dù, Thủy quân Lục chiến, Biệt động quân, Sư đoàn, Tiểu khu. Đủ cả!
Trên 800 chàng chuẩn úy sữa, rải từ Quảng Trị tới An Xuyên (Cà Mau)
“Thương em/dải miền Trung, chưa mưa đã lụt!/ Quân anh đi/tầm tã em sùi sụt,
trong gió Lào/ bỏng cháy, rát làn da!
Thương miền Trung “mô, tê, răng, rứa”/Đêm cùng em hẹn lần, hẹn lữa..
hỏi ngày về, vời vợi : “Biết chi mô!”

Mai tiểu đoàn anh ra tuyến lửa/ theo anh hoài câu hát thiết tha:
“Răng chừ nước ráo Đồng Nai/ Sông Gianh hết chảy mới phai lời nguyền”
Thương người lính, miền Trung ở lại/ Mãi mãi không về được chốn quê,
Thân là lính, thét roi cầu Vị/ Chết chiến trường, da ngựa bọc thây.
Thủy quân lục chiến! Thủy quân lục chiến!/ Chết chiến trường, thây bọc chiếc poncho…”
Sau cuộc biển dâu đó! Chưa tới ba năm sau là miền Nam sụp đổ. Đi tù…
Rồi vượt biên, vượt biển!

Đêm nay may mắn gặp lại các chiến hữu sau 43 năm trời dài đăng đẳng!
Thưa các huynh trưởng! Biệt danh của tui là: Đoàn Vô Kỵ! Nghĩa là không kỵ gì hết ráo. Bia, rượu mạnh, rượu rắn, rượu tắc kè… Uống vô tui cũng khè… như ai!
Nên! Lần sau lính mình nhậu, nhớ hú tui với nhe!

Xin Chúc mừng năm Con Khỉ! Bính Thân!

Mừng vì không còn phải trần thân… lai khổ nuốt trợn trắng trợn dọc cơm nhà bàn, toàn là cá mối, ăn từ độ ấy còn ‘ớn’ tới tận bây giờ!

Đoàn Xuân Thu
Melbourne

More Stories...