Thời Báo Vietnamese Newspaper

Chích ngừa và khai trường

Bác sĩ Nguyễn Ý-Đức

Thế là các em học sinh lại trở về với trường ốc, sau mấy tháng nghỉ trong một mùa hè nóng bức.
Cha mẹ bận rộn lo sắm sửa quần áo đồng phục, sách vở cho con em. Đồng thời cũng không quên đưa con em tới phòng mạch bác sĩ để khám sức khỏe tổng quát, nhất là cập nhật hóa sổ chích ngừa các bệnh có thể ngừa được.
Nói tới chích là các em sợ, sợ đau. Mà các bậc cha mẹ đôi khi cũng e dè không tin tưởng ở công hiệu của chích ngừa hoặc ngại có phản ứng của thuốc chủng.
Nhà chức trách quan tâm tới vấn đề sức khỏe của dân chúng thì chặt chẽ hơn: Hầu hết các trường học đều đòi hỏi một số chích ngừa trước khi các em có thể đi học..
Câu chuyện ngừa bệnh này dường như cũng nêu ra nhiều khúc mắc, nên xin cùng tìm hiểu thêm.
Tính miễn dịch của cơ thể
Ngay khi còn nằm trong lòng mẹ, thai nhi đã được thiên nhiên trang bị cho một hệ thống phòng thủ, bảo vệ để chống lại bệnh tật, đó là “tính miễn dịch”.
Đây là một hiện tượng di truyền được tạo ra do một số tế bào đặc biệt trong máu và hạch bạch huyết sản xuất chất kháng thể để tìm diệt mầm gây bệnh. Ban đầu nó còn kém phát triển, nhưng trong thời gian mà cơ thể lớn lên, nó được tăng cường bằng những yếu tố phòng bệnh từ máu và sữa mẹ. Nhờ đó con người tự nhiên tránh được một số bệnh mà các động vật khác thường mắc phải.
Khi khỏe mạnh, cơ thể có thể ngăn chặn sự xuất hiện của bệnh, nhưng nếu vì lý do nào đó mà cơ thể yếu đi, mầm độc sẽ lấn át, gây ra bệnh.
Có điều đáng lưu ý là thường thường khi đã bị bệnh một lần thì lần sau sẽ được miễn nếu chẳng may tái nhiễm với cùng vi khuẩn. Lý do là cơ thể đã được kích thích để hệ thống miễn dịch tạo ra kháng thể chống lại bệnh. Đây cũng là nguyên tắc của việc tạo ra miễn dịch bằng sự tiêm chủng: gây ra một bệnh rất nhẹ để tạo ra sức đề kháng với tác nhân của bệnh đó.
Ngoài sự miễn dịch, lớp da bao bọc cơ thể cũng là thành trì chống mầm độc ngoại xâm từ môi trường chung quanh; chất acid chua trong bao tử có công dụng tiêu diệt vi trùng tình cờ còn lẫn trong thực phẩm; chất nhờn ở cơ quan hô hấp và tiểu tiện để đưa đẩy chất có hại ra khỏi cơ thể.
Nguồn gốc việc chủng ngừa bệnh
Sự chủng ngừa đã được dùng ở Trung Hoa, Ấn Độ, Hy Lạp từ ngàn năm trước khi họ tìm cách ngừa bệnh đậu mùa bằng chất liệu lấy từ người bệnh đưa vào người lành. Sau đó, nhiều y khoa học gia cũng lưu tâm khảo cứu thêm về vấn đề này.
Nhưng phải đợi tới năm 1796, sự việc mới được cụ thể hóa. Một y sĩ người Anh, Edward Jenner, nhận thấy là người vắt sữa ở những con bò có bệnh đậu mùa sẽ bị lây bệnh nhưng đồng thời họ đã tạo ra được tính miễn dịch với bệnh này. Ông ta bèn chủng đậu bò cho con người với hy vọng bảo vệ không bị bệnh đậu mùa trong những dịp tiếp xúc với mầm bệnh sau này.
Để chinh phục y giới về kết quả việc khảo cứu, ông ta chủng cho chính con trai của mình và đứa bé không bao giờ mắc bệnh. Bác sĩ Jenner đã thành công và đặt nền móng cho việc chế biến thuốc chủng an toàn chống bệnh nhiễm khuẩn ở các quốc gia Tây Phương.
Từ nước Anh, thuốc ngừa đậu mùa nhập cảng vào Hoa Kỳ. Được thông báo sự công hiệu của thuốc chủng, Tổng thống Thomas Jefferson bèn áp dụng cho thân nhân, gia đình, và cả bà con lối xóm nữa.
Cách bào chế thuốc chủng ngừa
Nhắc lại là để có thể gây ra bệnh truyền nhiễm, vi khuẩn cần được tăng gia sinh sản và gây tổn thương cho các cơ quan, bộ phận của cơ thể.
Trong thuốc chủng, mầm gây bệnh được chế biến để không có khả năng sinh sản hoặc sinh sản rất ít, không đủ mạnh để gây ra bệnh nhưng có khả năng tạo ra kháng thể chống lại với mầm bệnh về sau này.
Có loại thuốc chủng trong đó:
a-Gene của mầm độc đã được thay đổi khiến sự sinh sản tuy còn nhưng rất yếu
(bệnh sởi, quai bị, trái dạ, tê liệt loại uống).
b- Gene bị tiêu diệt hoàn toàn không còn sinh sản (thuốc chủng bệnh tê liệt loại chích).
c- Thuốc chủng chỉ dùng một phần của mầm độc, không có gene cho nên tri73 thành vô sinh (chủng ngừa viêm gan B, ho gà).
đ- Thuốc chủng mà độc tố của mầm độc đã bị vô hiệu hóa ( bệnh yết hầu, phong đòn gánh).
Ở bên Mỹ, sau khi được các viện bào chế sản xuất, thuốc được đưa cho cơ quan Thực Phẩm và Dược Phẩm Hoa Kỳ kiểm soát coi có an toàn và công hiệu không.
Rồi một ủy ban khác gồm các chuyên viên có tkiến thức cao về dịch học và bệnh trẻ em sẽ thảo luận về ích lợi, phí tổn của thuốc, đưa ra lời khuyến cáo nên dùng thuốc chủng như thế nào.
Giai đoạn cuối là các trường học thường đòi hỏi là trẻ em muốn nhập học phải có giấy chứng nhận đã chích ngừa một số bệnh. Tất nhiên, cha mẹ có thể từ chối sự chủng ngừa vì lý do tôn giáo, đạo đức, quan niệm sống hay chủng tộc.
Nhiều người không chấp nhận, ngần ngại chích ngừa vì một vài hiểu lầm cho là chủng ngừa không công hiệu, không an toàn, có thể gây ra tác dụng phụ hoặc gây ra bệnh.
Có người lý luận là cứ để tự nhiên có tính miễn dịch sau khi mắc bệnh hơn là chủng ngừa, vì chủng ngừa đôi khi làm suy yếu tính miễn dịch tự nhiên của trẻ em.
Thực tế cho hay không có thuốc ngừa nào an toàn 100%. Hơn nữa, khi kiểm điểm kết quả sự chủng ngừa với các bệnh trên thế giới ta thấy sự ích lợi quá to lớn so sánh với một số tác dụng phụ nhẹ nhàng, không nguy hiểm. Thuốc chủng ngừa bệnh đã là một trong mười kỳ công trong phạm vi y tế công cộng của thế kỷ 20.
Hữu hiệu của chủng ngừa
Giáo sư Nhi khoa Samuel Katz của Trung Tâm Y Khoa Duke University bên Mỹ, người có nhiều kinh nghiệm về chủng ngừa, đã quả quyết: “Sự tạo ra tính miễn dịch là phương tiện hữu hiệu duy nhất để làm giảm số bệnh tật và số tử vong ở trẻ em”.
Để thấy sự công hiệu của thuốc chủng, xin hãy coi qua vài thống kê sau đây về một số bệnh:
a-Bệnh tê liệt trẻ em: Trước khi có thuốc chủng bệnh này vào thập niên 50, có cả ngàn trẻ em bị bệnh, làm tê liệt hạ chi phải mang nạng, ngồi xe lăn; nhiều bệnh nhân bị liệt hô hấp phải nằm trong lồng phổi sắt để thở.
Từ năm 1997, không còn trường hợp tê liệt nào được báo cáo ở nước Mỹ và các nước ở Tây bán cầu. Năm 1994, một dịch tê liệt từ Ấn Độ xâm nhập Gia Nã Đại nhưng nhờ chích ngừa ráo riết nên đã chặn đứng được dịch này.
b- Bệnh sởi: Còn nhớ khi xưa ở bên nhà hầu hết trẻ con bị ban sởi với số tử vong cao vì các biến chứng như sưng phổi, viêm não, tổn thương não bộ. Đó là do không có chích ngừa đầy đủ. Cho nên các cụ ta khi đó thường nói là đừng tính có bao nhiêu con cho tới khi chúng sống sót sau bệnh ban sởi.
Ngày nay con cháu ta bên Mỹ này năm thì mười họa mới có em mắc bệnh sởi, nhờ chương trình chủng ngừa sởi ở đây rất chu đáo, hầu như bắt buộc ngay từ khi các em vào học lớp mẫu giáo. Trong nước thì việc chủng ngừa bệnh này cũng được khuyến khích mạnh mẽ.
Năm 1941, chưa có chủng ngừa, có gần 900.000 trường hợp bệnh sởi. Thuốc chủng được bào chế năm 1962 và năm 1997, chỉ còn trên 100 trường hợp.
c-Bệnh đậu mùa một thời đã làm thiệt mạng nhiều người trên thế giới, nay coi như đã bị xóa sổ; bệnh ho gà, bệnh yết hầu, bệnh phong chẩn đã giảm rất nhiều nhờ chủng ngừa.
Nếu ngưng chương trình chủng các bệnh có thể ngừa được thì chắc ta sẽ thấy bột phát trở lại những dịch chết người kinh khủng như vào đầu thế kỷ vừa qua.
Các bệnh nên chích ngừa
Hiện nay 10 loại chủng ngừa sau đây được khuyến cáo nên áp dụng vì công hiệu miễn dịch cao: yết hầu (Diphteria), uốn ván (Tetanus), ho gà (Pertussis), tê liệt (Polio), ban sởi (Measles), quai bị (Mumps), phong ban (Rubella), viêm gan B (Hepatitis B), viêm não B (H. influenza B), thủy đậu (Varicella).
Việc chủng ngừa thường bắt đầu thực hiện khi các em mới sanh hoặc sanh được 2 tháng. Tới khi chúng lên 2 tuổi thì hầu như 80% việc chủng ngừa đã được hoàn tất.
Thuốc chủng có thể gom chung với nhau cho tiện, chẳng hạn ngừa quai bị, sởi, phong ban với nhau, yết hầu, uốn ván, ho gà cùng một lúc.
Lịch trình chích ngừa:
a- Mới sanh : chích viêm gan B (Hep B) lần đầu.
b- Hai tháng: ho gà, uốn ván, yết hầu (DTaP), tê liệt (Polio), Hemophillus Influenza (Hib) lần đầu + Hep B lần thứ nhì;
c- 4 và 6 tháng: DTaP lần thứ nhì + Hib lần thứ nhì rồi thứ ba;
đ-12 tháng: thủy đậu, ban sởi, quai bị, phong ban (MMR) lần đầu + Hib lần thứ tư; Hepatitis A 2 lần cách nhau 6 tháng.
e- 15 tháng: Hep B lần ba + DTaP lần thứ tư;
g- 4 tới 6 tuổi: MMR lần thứ nhì + Polio lần thứ tư.
Thường thường tất cả các chích ngừa này được hoàn tất sau năm sáu lần tới phòng mạch bác sĩ.
Một câu hỏi thường được đặt ra là nếu mình quên một lần chủng ngừa theo lịch trình thì phải làm sao.
Xin thưa là không bao giờ quá trễ để chích ngừa. Khi lịch trình bị gián đoạn vì quên, ta không phải chích lại từ đầu mà chỉ cần chích từ lần đã ngưng.
Phụ huynh nhiều khi cũng bối rối không biết phải chích bao nhiêu lần để có miễn dịch hoàn toàn hoặc bao giờ phải chích bồi dưỡng, bổ túc. Đặc biệt là các em hay nghịch ngợm chạy nhẩy dễ té ngã trầy da, nguy cơ nhiễm bệnh phong đòn gánh gia tăng, cho nên cần chích tăng cường thuốc ngừa này mỗi mười năm.
Do đó, cần giữ sổ chích ngừa cẩn thận để ghi nhớ, theo dõi lịch trình chích ngừa đã được các nhà chuyên môn y tế ấn định, nhất là khi di chuyển sang địa phương khác, hoặc khi thay đổi bác sĩ gia đình…
Phản ứng phụ và trường hợp không chích ngừa
Tác dụng phụ của thuốc chủng cũng thường xẩy ra nhưng rất nhẹ: chỗ chích hơi sưng, hơi đau, ngưa ngứa, nhiệt độ hơi lên cao. Trong các trường hợp này, ta có thể cho con em uống một liều thuốc giảm sốt acetaminophen ( Tylenol). Nhớ là không nên cho thuốc Aspirin. Cho con em uống nhiều nước để hạ nhiệt; mặc quần áo thoáng nhẹ; chườm khăm tẩm nước ấm.
Hãn hữu lắm mới có phản ứng mạnh như khó thở, hạ huyết áp, nổi ngứa cùng mình, ngất xỉu ngay sau khi chủng. Khi bị phản ứng mạnh như vậy thì không được chủng ngừa với thuốc chủng đó nữa.
Khi các em có các dấu hiệu sau đây thì nên cho bác sĩ hay ngay:
a-Nhiệt độ đo ở hậu môn lên trên 105 độ F hoặc 39 độ C;
b-Nếu da xanh rờn và con em đi cà nhắc
c-Con em khóc liên tục cả mấy giờ sau khi chích ngừa;
d-Cơ thể con em run giựt.
Các em bị bệnh ung thư, bị bệnh liệt kháng AIDS cũng không được chủng loại thuốc trong đó mầm bệnh bị làm suy yếu, như thuốc chủng bệnh sởi, quai bị, phong ban, thủy đậu, tê liệt.
Trẻ em đang đau ốm thì tùy theo trường hợp: nặng với nóng sốt cao vì nhiễm trùng thì hoãn chủng ngừa tới khi bình phục. Khi các em chỉ bị đau nhẹ như viêm tai, ho, sổ mũi, tiêu chẩy thì đều có thể chủng ngừa được. Bác sĩ gia đình sẽ cho ta lời khuyên quyết định.
Kết luận
Bệnh tật không phải tự nhiên tan biến đi.
Mặc dù con người đã ý thức được những nguyên nhân gây bệnh, đã sống điều độ, vệ sinh hơn, y học đã cống hiến nhiều phương tiện trừ bệnh tật, nhưng bệnh tật vẫn còn luẩn quẩn đó đây chỉ chờ cơ hội thuận tiện là xâm nhập cơ thể ta.
Cho nên sự phòng ngừa bệnh, mà chủng ngừa là một, vẫn còn rất quan trọng.
Vả lại “An ounce of prevention is worth a pound of cure” hoặc “Phòng bệnh hơn chữa bệnh”.
Chỉ cần một sự quan tâm, dành ra một chút thì giờ để thực hiện sự phòng ngừa này là ta có thể tránh được những dịch bệnh gây tử vong cao như dịch cúm Tây Ban Nha năm 1918 giết gần 20 triệu người trên thế giới; giúp cả ngàn trẻ em tránh được khuyết tật bẩm sinh về tim, mắt, điếc và chậm trí do bệnh Rubella từ mẹ truyền cho con; cứu sống cả triệu trẻ em trên thế giới khỏi thiệt mạng vì bênh sởi.
Đấy là phần thưởng của mũi thuốc chích mang lại sức khỏe tốt cho con người. Chẳng lẽ ta lại bỏ qua những cơ hội phúc lợi mà xã hội đã ân cần cung ứng, hiến dâng.
Bác sĩ Nguyễn Ý-Đức

Comments are closed.

error: Content is protected !!