Thời Báo Vietnamese Newspaper

Chỉ Còn Trong Trí Nhớ

Tôi là kẻ mau quên! Tôi là quân bội bạc!
Cả tuần nay tôi mắng tôi như thế.
Vừa mới qua cái tuổi hai mươi, đời còn xanh như những luống rau sau vườn nhà thằng bạn học cùng lớp, hai chúng tôi không ngày nào mà không gặp nhau. Nếu không ở lớp học thì tôi cũng hay ghé nhà nó, bởi nhà nó gần trường hơn nhà tôi. Và ngồi với nhau trong túp lều có mái nửa tôn, nửa lá, chúng tôi có thể cùng ôn bài, cùng bàn luận chuyện thế sự, và cùng chia sẻ “kinh nghiệm” về những quan hệ nam nữ là thứ chiếm khá nhiều thời gian của những cậu học trò mới lớn.
Hai chúng tôi học cùng lớp. Khi thành phố mất tên, chúng tôi cùng bị chia chung vào một tổ. Người ta gọi đó là “Tổ Học Tập”. Mỗi ngày tôi rong ruổi đạp xe đến trường. Hết giờ học, nếu không quanh quẩn ở thư viện thì tôi sẽ về nhà nó. Lon ghi gô nén một nắm cơm trộn bo bo lẫn những củ sắn sượng với dúm muối vừng.
Những hôm trời nóng, chúng tôi ra ngồi khoảng hiên sau nhà, đón chút gió hiếm hoi mùa hạ, vừa nhai bo bo vừa lựa những hạt cơm cho con mèo nhà ai đó đến làm quen. Ba đứa chúng tôi – bạn tôi, chú mèo và tôi – ngồi ăn với nhau và tán nhảm chuyện đời. Chú mèo chỉ ngồi nghe, hai con mắt xanh biếc như khung trời mùa hạ của một Sài Gòn đã cũ.
Nỗi xôn xao lớn nhất mỗi ngày đem lại hứng thú cho hai đứa tôi là chờ đợi, là mong ngóng, là nghểnh cổ nhìn ra sân khi nghe tiếng dép loẹt quẹt trên thềm xi măng tróc lở. Nó và tôi cùng ngóng cổ chờ một người. Cái giọng đanh đá, sắc cạnh như lưỡi lam từ chiếc loa loa quang quác trên cây me ở đầu ngõ liên tục vọng vào nghe tiếng được tiếng không, như thể cái kẻ đang hùng hổ ngôn từ kia bị nghẹt mũi. Nhưng âm thanh ấy dù vang động, vẫn không làm khuất đi được tiếng dép quét lê trên bậc thềm. Bởi tai hai chúng tôi đã luyện đến thuộc lòng tiếng dép loẹt xoẹt trên thềm xi măng trầy trụa. Tiếng dép báo tin: mẹ bạn tôi về tới.
Quang gánh trĩu trên vai. Và hai đầu quang gánh là hai cái thúng rộng vành. Hai cái thúng đựng đầy niềm vui của hai chúng tôi. Mẹ của bạn tôi, mồ hôi đẫm lưng áo, nhưng nụ cười vẫn tròn đầy trên môi. Nụ cười làm tôi thương những bà mẹ Việt Nam bội phần. Hai cái thúng hạ xuống nền nhà. Hai đứa tôi chạy ra. Bà mẹ tháo quang gánh, dựng vào vách tường. Bát cơm nguội và ấm nước chè xanh hai đứa tôi dọn sẵn trên chiếc bàn gỗ cũ được che bởi cái lồng bàn lưới rách. Mẹ bạn tôi uống vội ngụm nước chè xanh để xua đi cơn khát. Chúng tôi thăm hỏi bà qua loa và xúm ngay vào hai cái thúng bà vừa đặt xuống thềm.
Chúng tôi, mỗi đứa một thúng, chúi đầu vào lục lọi. Hai cái thúng chứa đầy sách cũ, tạp chí, và giấy vụn. Cả một thế giới văn chương bạc phận lênh đênh kiếp trôi sông lạc chợ. Chúng tôi bới, chúng tôi lật, chúng tôi moi, chúng tôi lục lọi, tìm kiếm. Chúng tôi hí hửng như hai đứa trẻ tìm quà mẹ mua về sau phiên chợ. Tôi lật những chồng báo cũ bỏ ra ngoài. Tôi gạt những túm giấy vụn sang một bên. Những tờ giấy mềm nhũn, vàng ệch.
Có tiếng bạn tôi rú lên mừng rỡ. Tôi ngưng lục lọi, ngước lên chờ đợi một tin vui. Bạn tôi đang ôm một cuốn sách trong tay. Hai mắt bạn sáng tưởng chừng có thể soi rõ cả một khoảng vuông túp nhà lụp xụp, tăm tối. Cuốn gì thế? Tôi hồi hộp hỏi. Bạn tôi giơ cuốn sách lên cao. Hai mắt tôi mở lớn, vồ lấy hàng chữ in hai màu đen, đỏ trên cái nền trắng có khung viền hình chữ nhật màu đen ở chung quanh. Trúng một kho tàng rồi. Tiếng reo vui rộn rã trong lồng ngực. Tôi nín thở, nhìn những chữ màu đỏ. Không cần đọc hết tôi cũng biết. Cái tựa đề quen thuộc. Giờ Thứ Hai Mươi Lăm.
Bạn thân mến!
Chắc bạn hiểu được tâm trạng tôi lúc đó. Ở cái thời sách vở thuở trước đã bị cấm, bị tịch thu, bị đốt sạch… thì tìm lại được cuốn Giờ Thứ Hai Mươi Lăm – với chúng tôi lúc ấy – chẳng khác gì tìm thấy được một con hẻm quanh co nhưng lại là lối dẫn lên Thiên Đàng. Bạn biết cuốn sách ấy chứ? Cuốn sách của nhà ông nhà văn Linh Mục Constantin Virgil Gheorghiu xứ Romania ấy mà!
Bạn tôi tìm được báu vật. Chúng tôi chuyền tay nhau cuốn sách cũ. Tôi lật nhanh từng trang. Những trang giấy vàng ố. Những góc trang nhăn nhúm. Chờ lúc bạn tôi không để ý, tôi áp cuốn sách lên mặt, hít hà cái mùi giấy cũ. Thói quen không bỏ được. Mỗi lần cầm cuốn sách trong tay, trước khi đọc hàng chữ đầu tiên, tôi luôn luôn áp lòng cuốn sách lên mặt, hít hà.
Chắc bạn cũng quen cái mùi của những trang giấy mới trong lòng cuốn sách vừa mới mua về chứ nhỉ? Những cuốn sách xưa, mà thỉnh thoảng chúng tôi bắt gặp trong hai cái thúng mà mẹ của bạn tôi ngày ngày rong ruổi khắp hang cùng ngõ hẻm tìm mua giấy vụn, là những linh hồn lưu lạc, những linh hồn long đong, những linh hồn đang trên đường trốn chạy. Chúng tôi đón những kẻ lưu lạc ấy về. Chúng tôi giấu ở bất kỳ chỗ nào có thể giấu được. Chúng tôi giấu Giờ Thứ Hai Mươi Lăm và Kẻ Ăn Mày Phép Lạ của Gheorghiu trong lòng chiếc gối, giữa đám bông gòn cũ kỹ. Chúng tôi giấu Đài Tưởng Niệm Đen Của Bầy Diều Hâu Gẫy Cánh của Erich Maria Remarque, Chiến Tranh Và Hòa Bình của Tolstoi, Anh Em Nhà Karamazov của Fyodor Dostoyevsky, Hòa Bình: Nghĩ Gì Làm Gì của Nguyễn Mạnh Côn, Tầng Đầu Địa Ngục của Aleksandr Solzhenitsyn, Dải Khăn Sô Cho Huế của Nhã Ca, Điệu Ru Nước Mắt của Duyên Anh, Kinh Nước Đen của Nguyễn Thụy Long… – toàn những đời sách long đong – ở giữa lớp mái tranh chỗ có những tấm tôn chắn phía bên trên.
Rất nhiều lần tôi ngủ lại nhà bạn, nhất là những ngày mưa gió. Đường xa, chiếc xe đạp cũ kỹ, sợi dây xích cứ tuột ra hoài. Sửa tới sửa lui, về đến nhà thì hai bàn tay đã đen như bàn tay đứa trẻ mò niêu ăn vụng. Cả hai lối đi, về đều là những chặng gian nan. Ngủ lại nhà bạn sáng hôm sau đi học cho xong chuyện. Con ngõ hẹp đi vào nhà bạn đầy những vũng lội. Nhiều khi đạp xe mà gặp những tay chạy xe gắn máy hung hãn hay những chiếc xích lô máy vội vàng đón khách, áo quần sẽ lốm đốm bùn đất văng lên từ những vũng nước đầy trong lòng những ngõ hẻm quanh co.
Âm thanh làm ấm lòng và đem lại hy vọng ít nhiều là tiếng chuông giáo đường những buổi sáng tinh mơ. Tiếng chuông như lời dặn dò, như câu an ủi, như giọng trầm buồn của người cha nhắc nhở con mình vững niềm tin, như tiếng dịu dàng của người mẹ nhắc nhở con mình đừng bao giờ gục ngã.
Mấy mươi năm trước tôi gần như cư trú – không sổ đen sổ đỏ – trong khu xứ đạo yên lành. Mẹ của bạn tôi vừa đi mua giấy vụn, vừa lo chăm sóc khoảnh vườn rau xanh mướt sau nhà. Tôi, đứa sinh viên nghèo, dựa lưng con hẻm nhỏ, lớn lên cạnh những bữa cơm rau, trưởng thành qua những trang sách vùi lẫn giữa những chồng báo cũ và giấy vụn, reo vui cùng tiếng chuông giáo đường xứ đạo, miệt mài sách vở dưới ánh điện câu nhờ, và khi điện không đủ sáng thì nấp bóng ngọn đèn dầu, mong mỏi một điều gì đó không rõ nét.
Thế rồi tôi bỏ nơi ấy mà đi. Và tôi gần như quên bẵng đi rằng có một thời mình đã nương nhờ nơi ấy.
Cho đến khi khắp nơi rộn lên cái tin bọn cướp ngày cho lũ lâu la đến phá nát nhà cửa khu xứ đạo ấy, hai chữ Lộc Hưng mới lại thảng thốt vang vọng trong tôi, như tiếng chuông giáo đường ngân vang từng tiếng một mỗi khi có giáo dân trong xứ đạo thở hơi cuối cùng.
Những tiếng chuông gọi hồn!
Lộc Hưng, nơi tôi nương nhờ ngày xưa đã chỉ còn là những đống gạch, đá, cát, xi măng, gỗ vụn. Con mèo nào nằm chết cong lưng, bốn chân duỗi thẳng sao giống con mèo hàng xóm nhà bạn tôi ngày trước vẫn thường mon men làm quen với hai đứa tôi, khi chúng tôi ngồi bên hiên học bài và đón chút gió hiếm hoi mùa nắng hanh. Nếu bạn tôi đọc được dòng chữ này, chắc bạn tôi sẽ bảo tôi mê ngủ. Con mèo năm xưa làm gì sống thọ được tới ngày hôm nay. Chắc chắn không phải là con mèo ngày trước, nhưng thì cũng vẫn là con mèo ở Lộc Hưng. Con mèo chết oan vì bọn cướp ngày ủi sập nhà của chủ, con mèo không biết được cái ác của lũ cướp cạn nên thay vì chạy tuông ra ngoài, lại chui vào ẩn trốn dưới gầm bàn hay trong góc tủ.
Bố mẹ của bạn tôi ở đó từ cái thời xuống tàu Pháp di cư vào Nam năm 1954. Nhà họ dựng trên khu đất của Giáo Phận Sài Gòn. Và họ sống ở đó dù chật vật nhưng bình yên. Cho đến khi cả nước Việt Nam trở thành nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Cộng. Cái nước quái thai ấy cũng có luật pháp hẳn hoi. Này nhé điều 50 của Luật Đất Đai 2003 nước Việt Cộng phán rằng Nếu dân sử dụng đất đai ổn định từ ngày 15 tháng 10, 1993 trở về trước thì nhà nước phải công nhận, cho kê khai, rồi cấp Giấy Chứng Nhận cho dân, bất kể đất có phù hợp với quy hoạch hay không. Sau này nếu thu hồi để phục vụ quy hoạch thì phải bồi thường thỏa đáng cho dân.
Năm 1968, lợi dụng dịp hưu chiến cho dân chúng yên tâm ăn Tết, bọn Việt Cộng bất ngờ tổng tấn công trên toàn lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa, gây nên thảm cảnh có một không hai trong lịch sử. Năm 2019, cũng nhân dịp Tết sắp về, bọn cướp cạn lại tấn công bất ngờ, giật sập nhà, cướp đồ đạc, đuổi dân chúng ra khỏi khu vực họ đã cư trú gần cả một đời người để cướp đất đai của họ.
Chuyện kể rằng sau khi đập phá tan hoang nhà cửa, đồ đạc của người dân, bọn cướp cạn xua đuổi những người còn nấn ná bên đống đổ nát để giữ đồ đạc còn sót lại, chúng quát nạt rằng đây là chỗ chúng đang “thi công”, mọi người phải tránh xa.
Chuyện cũng kể rằng tay tướng cướp toang toác nói với lũ cướp cạn đàn em rằng phải nhanh chóng nối lại điện, nước cho “nhân dân”. Nhưng mà nhà cửa chỉ còn là những đống gạch đá vụn vặt thì điện nước nối vào đâu?
Chuyện cũng kể rằng tay tướng cướp quang quác nói với nạn nhân là cứ yên tâm, nhà nước sẽ thuê khách sạn cho đồng bào ở. Nhưng đêm ấy và những đêm sau nữa, người ta ngủ bên đống rác, giữa đống gạch vụn, bên lề con hẻm nhỏ, người ta túm tụm vào nhau như những hồn ma vất vưởng dưới chân tượng ông thánh Giuse, nương nhờ che chở.
Chuyện cũng kể rằng cả khu vực bị phong tỏa. Không người dân nào được phép bén mảng đến chỗ “thi công”. Hôm sau họ trở lại thì đồ đạc vung vãi ngày hôm trước đã mất sạch.
Không thời nào câu nói “màn trời, chiếu đất” lại đúng như thời này!
Không thời nào bọn cướp đường cướp chợ lại đông đảo như thời này!
Chuyện cũng kể rằng vào ngày thứ “n” của cơn cướp cạn, cái gọi là “Ban Tuyên Giáo Quận Ủy Tân Bình” gửi đến những nhà đã bị phá, bị cướp – trong đó hẳn có nhà của bạn tôi – một văn bản không ghi ngày tháng, cảnh báo người dân bằng câu này: “Trong thời gian thực hiện dự án, đề nghị bà con không mua bán, sang nhượng, xây dựng vi phạm pháp luật làm ảnh hưởng đến lợi ích của mình.”
Bé gái ngồi buồn bên ngoài hàng giậu khu giải tỏa. Chú mèo chết oan trong đống gạch đá vụn. Người nằm co giữa nền đất sần sượng. Người mù hai mắt cõng người cụt hai chân lang thang đầu con hẻm. Những hình ảnh ấy sẽ theo tôi đến cuối đời.
Tôi tự hỏi giả như bọn cướp ngày kia đọc được những dòng chữ tôi viết hôm nay, không biết chúng có trở lại đống đổ nát ở Lộc Hưng để bới, để tìm, để lùng bắt những cuốn sách đã một thời quăng vào mặt chúng toàn những sự thật khiến chúng không thể nào giả mù, giả câm, giả điếc mà phải truy lùng, tận diệt. Giả như anh bạn Lộc Hưng của tôi ngày xưa có đọc được bài viết này, chắc anh sẽ chỉ lắc đầu mà nói nhỏ cho tôi nghe rằng những đứa cướp đường cướp chợ ấy – nếu có biết đọc – thì cũng không có thì giờ để đọc, bởi chúng còn đang bận chia chác khu nào sẽ vào tay đứa nào; khu nào sẽ làm sân golf, khu nào sẽ làm resort, khu nào sẽ xây thành biệt phủ cho đứa đầu đảng trong bọn quan chức Đỏ.
Tôi là người vô tâm. Tôi là kẻ bội bạc. Bởi khi tôi nhớ đến Lộc Hưng thì Lộc Hưng đã thực sự chỉ còn trong trí nhớ.

Phụ chú: Bức tranh ở đầu bài viết này là của họa sĩ Trần Thế Vinh, được bán đấu giá để giúp (được chút nào hay chút nấy) những kẻ khốn cùng ở Lộc Hưng những ngày cận Tết Âm Lịch. Nhìn kỹ, bạn sẽ thấy bé gái ngồi co ro bên hàng giậu, bạn sẽ thấy con mèo chết co quắp bên đống gạch vụn, bạn sẽ thấy người thanh niên nằm sấp trước sợi dây xích của chiếc xe ủi đất, bạn sẽ thấy bao nhiêu là đổ vỡ, hoang tàn; như thể chiến tranh vừa mới qua chốn này!

Khúc An

Comments are closed.

error: Content is protected !!