Bình Luận – Thời Báo Newspaper http://thoibao.com The Vietnamese Newspaper Canada Fri, 22 May 2020 19:27:08 +0000 en-US hourly 1 https://wordpress.org/?v=5.2.6 Nước Úc ‘thoát Trung’ thời viêm phổi Vũ Hán. http://thoibao.com/nuoc-uc-thoat-trung-thoi-viem-phoi-vu-han/ Fri, 22 May 2020 19:27:08 +0000 http://thoibao.com/?p=286333 Nguyễn Quang Duy Thời gian qua các nhà ngoại giao Trung cộng hung hăng tấn công bất cứ nước nào nghi ngờ về sự minh bạch và thành công của Trung cộng trong xử lý đại dịch do virus corona gây ra. Thủ tướng Úc ông Scott Morrison lại đề nghị tiến hành điều tra […]]]>

Nguyễn Quang Duy

Thời gian qua các nhà ngoại giao Trung cộng hung hăng tấn công bất cứ nước nào nghi ngờ về sự minh bạch và thành công của Trung cộng trong xử lý đại dịch do virus corona gây ra.

Thủ tướng Úc ông Scott Morrison lại đề nghị tiến hành điều tra về nguồn gốc và cách thức các quốc gia xử lý đại dịch, nên nước Úc lãnh chịu phản ứng hung bạo nhất, nhưng chính nhờ vậy người Úc mới thức tỉnh đồng lòng “thoát Trung”, một bài học đáng giá để chúng ta học hỏi.

Thế giới đồng thuận…

Theo báo The Australian, vào ngày thứ hai 18/5/2020 trong Hội Nghị của Hội Đồng Y tế Thế giới (WHA), Úc cùng 136 nước khác trong số 194 các nước thành viên cùng đệ trình một Bản Dự Thảo Nghị Quyết mở cuộc điều tra.

Bản Dự Thảo đã không bị bất cứ quốc gia nào phủ quyết, một việc chưa từng xảy ra trong bang giao quốc tế, nó nói lên sự chính đáng để có một cuộc điều tra về nguyên nhân gây ra đại dịch, cách xử lý của từng quốc gia và rút ra bài học tránh thảm họa cho nhân loại.

So với ý tưởng ban đầu của Thủ Tướng Scott Morrision, Bản Dự Thảo có đôi chỗ thay đổi.

Úc đề nghị tiến hành một cuộc điều tra hoàn toàn độc lập với Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO), còn Liên Minh Châu Âu đề nghị cuộc điều tra sẽ do WHO chịu trách nhiệm, nhưng việc đầu tiên là phải điều tra cách xử lý đại dịch của chính cơ quan WHO.

Mặc dù Chủ Tịch Trung cộng Tập Cận Bình đồng ý tiến hành cuộc điều tra, nhưng Đại sứ Trung cộng tại Úc, ông Thành Cảnh Nghiệp tuyên bố cuộc điều tra “hoàn toàn khác” với những gì mà Chính phủ Úc mong muốn, nếu Úc xem kết quả tại Hội Nghị Hội Đồng Y tế Thế giới (WHA) là minh chứng cho lời kêu gọi mở cuộc điều tra thì “chẳng khác gì một trò đùa”.

Trung cộng không biết đùa…

Vào cuối tháng 4/2020, Đại sứ Trung cộng ông Thành Cảnh Nghiệp đe dọa nếu Úc tiếp tục muốn điều tra, “nhân dân” Trung cộng không xem Úc là bạn hàng tốt, không uống rượu vang Úc, không ăn thịt bò Úc, không du lịch nước Úc và không cho con cái đến Úc du học.

Ông Nghiệp ám chỉ Trung cộng sẽ tẩy chay hàng hóa Úc, sẽ cấm dân uống rượu vang Úc, cấm dân ăn thịt bò Úc, cấm dân đi du lịch Úc và cấm dân cho con cái sang Úc du học.

Để chứng minh Trung cộng không biết nói đùa, tuần rồi họ tuyên bố ngưng mua thịt bò từ bốn hãng thịt của Úc, đồng thời đánh 80% thuế lên lúa mạch nhập cảng từ Úc, và hăm dọa ngưng nhập cảng nhiều mặt hàng khác.

Ông Hồ Tích Tiến, chủ bút Hoàn Cầu Thời Báo, hôm 21/5/2020, nêu quan điểm cuộc điều tra “hoàn toàn khác” với những gì mà Chính phủ Úc mong muốn, và tiếp tục đe dọa “Trung cộng có đủ sức mạnh để làm tổn thương đến kinh tế Úc”.

Trung cộng từ chối trả lời đề nghị đàm phán thương mại từ phía Úc, một hành động được Dân biểu đảng Quốc gia George Christensen đánh giá:

“…với Úc buôn bán là thương mại còn với Trung cộng mọi thứ đều là chính trị.”

Người Úc đồng lòng…

Trước hành động bạo ngược của Bắc Kinh, Thủ tướng Úc tuyên bố quan hệ ngoại thương giữa hai nước là quan hệ hổ tương hai bên cùng có lợi, Úc luôn tôn trọng Trung cộng, vì thế Úc đòi hỏi Trung cộng cũng phải biết tôn trọng Úc.

Bà Ngoại Trưởng Marise Payne kêu gọi Trung cộng không nên mang thương mại vào cuộc tranh cãi ngoại giao, cần tôn trọng lẫn nhau, Bà Payne nhắc nhở:

“…nhưng trên hết, người Úc sẽ luôn bảo vệ lợi ích của nước Úc.”

Ngày 19/5/2020, được Sky News phỏng vấn Lãnh tụ đối lập Anthony Albanese cho biết đảng Lao Động ủng hộ nỗ lực của Chính Phủ để mở cuộc điều tra:

“Liên minh hai đảng Tự Do – Quốc Gia và đảng Lao động đã là một, chúng tôi đã có cùng quan điểm về vấn đề này và cùng chia sẻ trách nhiệm”.

Vận động điều tra nguồn gốc phát sinh virus corona chủng mới rõ ràng là chính sách nước Úc, không có tranh cãi giữa các đảng chính trị là một điều hiếm thấy trong sinh hoạt chính trị tại Úc.

Trước hành động bạo ngược của Bắc Kinh các hãng truyền thông Úc nhanh chóng đưa tin, giải thích và bình luận nhằm minh bạch lập trường chính phủ Úc.

Nhờ thế đại đa số dân chúng Úc đều ủng hộ chính sách của Chính Phủ đối phó với đại dịch và đồng thuận tiến hành cuộc điều tra về nguyên nhân gây ra đại dịch.

Ảnh hưởng Trung cộng tại Úc

Ba thập niên qua, Trung cộng là bạn hàng quan trọng nhất của Úc, chiếm đến hơn 1/3 hàng hóa Úc xuất cảng ra thế giới, Trung cộng mua một số lượng rất lớn quặng mỏ và sản phẩm nông nghiệp Úc.

Trung cộng hiện đang nắm giữ 9 triệu mẫu đất, một số hầm mỏ, một số trang trại sản xuất điện, phi trường Merrendin Tây Úc, cảng Darwin và nhiều cơ sở hạ tầng chiến lược khác.

Theo ước tính nếu GPD Trung cộng gỉam 2% thì GDP Úc bị ảnh hưởng giảm đến 1%.

Bởi thế đã có nhiều lo ngại về sự lệ thuộc nặng nề của Úc vào mô hình tăng trưởng của Trung cộng.

Ngoài tầm kiểm soát…

Như hầu hết các quốc gia trên thế giới, đại dịch do virus corona đã khiến Úc phải đóng cửa biên giới, hơn 7 ngàn người nhiễm bệnh, hằng trăm người chết và phải ngừng hầu hết các hoạt động kinh tế.

Tuần trước Tổng trưởng Ngân Khố Úc Josh Frydenberg cho biết tỉ lệ thất nghiệp tại Úc sẽ lên đến trên 10% và tỉ lệ GDP sụt giảm ở mức độ 6% so với năm trước.

Ước tính được cho là khá lạc quan trong một thế giới đầy bất trắc, nhiều quốc gia trên thế giới đang lúng túng kiểm soát đại dịch, có thể làn sóng đại dịch thứ hai, rồi thứ ba kéo tới cho đến khi nhân loại có khả năng đề kháng với chủng loại virus corona mới này.

Chưa tính việc Trung cộng tẩy chay hàng hóa và dịch vụ của Úc, kinh tế Úc sẽ chịu thiệt hại nặng nề và lâu dài hơn, nhưng không phải vì thế Úc chịu đầu hàng trước áp lực của Trung cộng.

Không “thương chiến” với Trung cộng

Được ABC Australia phỏng vấn một nông gia trồng lúa mạch cho biết việc Trung cộng đánh thuế là một điều ông chưa bao giờ nghĩ đến, nhưng ông tin rằng giá sản xuất lúa mạch tại Úc khá thấp, lúa mạch Úc lại có phẩm chất tốt và nguồn cung cấp khá ổn định nên cũng dễ cho ông tìm đến các bạn hàng mới tại Á châu và Âu châu.

Theo Bộ trưởng Thương Mại Úc Simon Birmingham, Úc sẽ không đeo đuổi chiến tranh thương mại với Trung cộng, vì như thế không mang lại lợi ích gì cho nước Úc, nhưng Úc xem xét khiếu nại hành động của Trung cộng lên Tổ chức Thương mại Thế giới.

Úc phải “thoát Trung”

Theo Dân biểu đảng Quốc gia George Christensen, có quá nhiều rủi ro khi phải buôn bán với các nước độc tài cộng sản như Trung cộng, vì thế Úc phải mở rộng ngoại thương với nhiều quốc gia, nhất là các quốc gia có chung giá trị dân chủ, biết tôn trọng quan hệ ngoại thương.

Ông quan tâm về việc Úc phải nhập cảng các hàng hóa chiến lược như trang thiết bị y tế, dược phẩm từ Trung cộng, trong khi Úc có thể sản xuất được.

Ông tin rằng Úc phải duyệt xét lại, phải thay đổi chiến lược đầu tư, sản xuất và ngoại thương để thoát khỏi ảnh hưởng của Trung cộng, thì mới giữ được chủ quyền quốc gia.

Kết luận

Gần nửa thế kỷ qua, người Úc tin rằng có thể mở rộng làm ăn buôn bán với Trung cộng, và kỳ vọng thay đổi kinh tế sẽ dẫn đến thay đổi chính trị tại nước này.

Nhưng ngược lại nhờ kinh tế phát triển Trung cộng mạnh lên, nhà cầm quyền Bắc Kinh càng ngày càng bạo ngược, bắt nạt người Úc, ảnh hưởng đến chính sách của nước Úc.

Cách cư xử “lang sói” của Trung cộng đã đi ngược với văn hóa Úc, thức tỉnh các đảng chính trị, mọi giới, mọi người Úc đã đoàn kết đặt quyền lợi và lòng tự trọng quốc gia bên trên, đồng lòng cùng Chính Phủ mở cuộc điều tra.

136 Chính Phủ các quốc gia khác trên thế giới, trong đó có 57 các quốc gia Phi Châu, nhiều nước từng bị Trung cộng đối xử bạo ngược, càng nhún nhường thì Trung cộng càng lấn áp, nên đã quyết định ủng hộ cuộc điều tra.

Về ngắn hạn nước Úc và thế giới đang xem xét lại chiến lược ngoại thương và bang giao với Trung cộng.

Nếu nước Trung Hoa có tự do, đã sớm thông tin về virus corona, thế giới đã trách khỏi thảm họa đại dịch, nên về lâu dài một Trung Hoa tự do tôn trọng bang giao quốc tế sẽ mang lại rất nhiều lợi ích cho nước Úc nói riêng và cho thế giới nói chung.

Nguyễn Quang Duy

Melbourne, Úc Đại Lợi

22/05/2020

]]>
THA THỨ http://thoibao.com/tha-thu/ Fri, 22 May 2020 16:51:18 +0000 http://thoibao.com/?p=286066 Theo định nghĩa của trang mạng Psychologytoday.com chuyên về tâm lý: tha thứ là buông bỏ sự oán hận hoặc tức giận đang mang trong lòng; nhưng tha thứ không có nghĩa là hòa giải. Nói vậy thì sự tha thứ như ở trên thực sự chưa hoàn toàn. Theo thiển ý, đã là tha […]]]>

Theo định nghĩa của trang mạng Psychologytoday.com chuyên về tâm lý: tha thứ là buông bỏ sự oán hận hoặc tức giận đang mang trong lòng; nhưng tha thứ không có nghĩa là hòa giải. Nói vậy thì sự tha thứ như ở trên thực sự chưa hoàn toàn. Theo thiển ý, đã là tha thứ thì nên cần kèm theo sự hoà giải vì hoà giải mới có thể mang lại sự bình an trong tâm hồn và lúc đó những nỗi bực tức, oán hận trong lòng mới có cơ hội giải thoát.
Như câu chuyện dưới đây của cô Kristen Simpson hiện đang sống tại Fayetteville, Georgia.
Khi biện pháp đóng cửa bắt đầu được thực hiện trong nỗ lực ngăn chặn sự lây lan của đại dịch Covid-19, cô Kristen Simpson bỗng nghĩ về người cha mà cô hầu như chỉ biết rất mơ hồ.
Ông này ly dị mẹ cô khi cô còn là một hài nhi, và sau đó chẳng mấy khi đến thăm cô, thậm chí cả sau khi người mẹ qua đời. Ông là người nghiện ngập và đã từng phải ngồi tù. Cô Simpson kể rằng khi cô mới lớn, có lần ông tìm cách liên lạc để nối lại tình phụ tử nhưng cô đã một mực từ chối vì nỗi oán hận ông đã bỏ bê mẹ con cô.
Mười ba năm sau, trận đại dịch bùng phát làm cô suy nghĩ lại mối quan hệ cha con giữa họ. Nay ông là người thân duy nhất còn lại của cô, và ngược lại, và nếu chẳng may có mệnh hệ gì cho một trong hai người thì cô không muốn thấy người thân duy nhất kia vắng mặt. Cô lo sợ sẽ không có đủ thời gian để có thể hoà giải lại với cha trong khi con vi khuẩn corona vẫn đang tiếp tục hoành hành vì biết rằng ông bắt buộc phải rời nhà mỗi ngày và làm việc trong môi trường không được an toàn.
Cô cũng được biết người cha của cô từ lâu đã không còn nghiện ngập nữa và hiện đang làm công việc giao bánh pizza tại Florida. Sau một thời gian ngắn lưỡng lự cuối cùng cô đã lấy can đảm gọi cho ông để nói lời xin lỗi vì trước đây đã từng cự tuyệt ông.
Cô sợ ông sẽ từ chối cô nhưng ông đã nhấc máy. Qua màn hình FaceTime, cô nhận thấy nụ cười của ông thật rạng rỡ và cô cười đáp lại. Hai nụ cười như soi gương cho nhau. Đó là một cuộc trò chuyện đầy tốt đẹp và thú vị giữa hai cha con sau nhiều năm vắng mặt.
Những sinh hoạt, tiện nghi trong cuộc sống trước đây tưởng như rất đỗi bình thường thì nay bỗng dưng bị lấy mất đi trong cơn khủng khoảng Covid-19 đã khiến nhiều người phải suy nghĩ, cân nhắc và xem xét lại những gì được cho là quan trọng nhất trong đời sống. Và nhiều người đã kết luận rằng sự an toàn và tình cảm của gia đình là tối quan trọng, ngay cả khi mối dây liên lạc chỉ là ở đầu này và đầu kia của đường dây điện thoại hoặc là trò chuyện qua màn hình của thiết bị điện tử. Do đó, một số cá nhân từ lâu bị gia đình thờ ơ, lạnh nhạt thì nay đã tìm về và cố gắng tìm cách để hòa giải và tha thứ, hay ít ra là đang cân nhắc để hàn gắn lại mối quan hệ.
Tâm lý chung, khi người ta cắt đứt liên lạc với một thành viên trong gia đình thì tự trong thâm tâm người ta nghĩ rằng nó sẽ là vĩnh viễn. Nhưng trên thực tế không có điều gì là vĩnh viễn cả, và khi một biến cố nào đó xảy ra, như đại dịch Covid-19 lần này, sẽ khiến người ta động lòng, suy nghĩ lại và tự hỏi mình sẽ có cảm giác ra sao nếu ngày mai tìm cách hoà giải với người thân đó.
Có nhiều lý do người ta trở nên lạnh nhạt với nhau, và từ lạnh nhạt lâu dần sẽ thành xa lạ. Có người tự cắt quan hệ với người thân trong gia đình vì bị chê bai về một điều gì đó – chẳng hạn cuộc hôn nhân không được tán thành, hay bị chê trách về cách dạy con cái, hoặc bất đồng trong việc chọn bạn. Đôi khi vì cha mẹ đã tỏ ra quá khó khăn và những đứa con trong nhà muốn có sự độc lập và tìm cách tách rời với cha mẹ. Và thêm điều này nữa là chủ nghĩa cá nhân hiện nay đang rất thịnh hành – đặc biệt là ở những người trẻ – và nó làm bào mòn đi sự gắn bó truyền thống với gia đình.
Cho đến gần đây các nhà nghiên cứu xã hội nhận thấy có rất ít sách vở hay nghiên cứu mang tính cách hàn lâm về tình trạng bất hoà giữa các thành viên trong gia đình. Đây là một vấn đề thường bị che giấu vì tâm lý chung chẳng ai muốn vạch áo cho người xem lưng. Tuy nhiên, một cuộc khảo sát mới đây với 1,300 người được thực hiện bởi Karl Pillemer, giáo sư ngành phát triển con người thuộc Đại học Cornell, cho thấy có khoảng một phần tư người Mỹ trưởng thành có những bất đồngvà trở nên xa lạ với người thân trong gia đình. Một loạt các cuộc phỏng vấn theo dõi sau đó với khoảng 300 người được lựa ra không có chủ đích và thấy rằng có khoảng 100 người trong số đó đã nối lại quan hệ, trong khi 200 người khác thì vẫn chưa hòa giải được với phía bên kia.
Cũng theo giáo sư Pillemer, mối bất hoà đó nếu càng để lâu thì lại càng khó khởi sự cho một cuộc hoà giải. Nhưng trận đại dịch lần này đã mang lại một cơ hội mới. Đây chính là lúc thích hợp nhất để đưa bàn tay mình ra nắm lấy bàn tay của người kia để làm một cử chỉ tha thứ và hoà giải.
Đấy là trường hợp về câu chuyện hoà giải của cô Daniela Dawson.
Năm 2007, khi còn ở độ tuổi 20, Dawson đã cắt đứt quan hệ với gia đình cô. Cô kể lại rằng lớn lên trong một gia đình bị kẹp ở giữa một người anh lớn và một người em trai, và thường có những lời qua tiếng lại bóng gió. Dần dà cô bắt đầu cảm thấy rất khổ tâm và có cảm giác như luôn bị xét đoán bởi những thành viên khác, đặc biệt là với người anh lớn.
Trong nhiều năm, cô đã không nói chuyện hay liên lạc với người anh trai, và cô nghĩ cho đến chết cô cũng sẽ không nói chuyện với người anh này. Cho đến khi trận đại dịch Covid-19 bùng phát, trong một lần nói chuyện với mẹ và bà có nhắc người anh lớn có hỏi thăm cô và muốn biết cuộc sống của cô ra sao, có bình an hay không trong cuộc khủng hoảng y tế. Lời thăm hỏi đó làm cô cảm động và cô đã gọi cho anh.
Lần đầu nói chuyện lại với nhau, họ bắt đầu bằng những chuyện vu vơ, về những điều họ đã bỏ lỡ, và ngay lập tức, cả hai cùng nhận ra rằng mối bất hoà giữa họ là điều hết sức ngớ ngẩn và trẻ con. Rồi cả hai cùng cười vang và dường như quên hết chuyện cũ. Tiếng cười vang đó phải chờ mất nhiều năm mới có cơ hội oà vỡ ra.
Cũng phải nói, nhờ người mẹ và người em trai đã kiên trì khuyến khích cô nối lại quan hệ với người anh. Nhưng điều đó sẽ không thể xảy ra nếu như cô hoặc người anh không tỏ thiện chí là với cánh tay mình ra để nối lại tình anh em đó.
Những người đã từng có kinh nghiệm tha thứ và hòa giải với người khác thường cho biết là sau khi làm việc này họ có cảm giác như vừa trút đi được một khối nặng luôn đè lên người họ và cảm thấy nhẹ nhàng thảnh thơi hơn. Kinh nghiệm tha thứ và hoà giải cũng là một bài học cho chính bản thân họ và giúp họ thăng tiến trong những mối quan hệ khác, kể cả những mối quan hệ về tình cảm. Tha thứ và hoà giải còn giúp cho cá nhân của họ trưởng thành hơn. Sự vượt qua được thử thách lớn đó đã trang bị cho họ có thêm tinh thần để có thể vượt qua những giới hạn khác.
Sau khi đã làm hoà với người anh, cô Dawson cho biết nay cô mới nhận ra là các thành viên trong gia đình cô không hề độc ác hay cố tình làm tổn thương cô như cô từng nghĩ. Nhưng chính nỗi bất an tuổi trẻ đã như bóng ma vô hình thúc đẩy cô đi đến quyết định cắt đứt quan hệ với gia đình thay vì nói rõ cho họ biết về nỗi bất an của cô và trực tiếp giải quyết vấn đề cho ổn thoả. Nhờ lòng chân thành từ gia đình và thiện ý hoà giải của cô mà tình gia đình êm ấm trở lại, mọi người lại được gần gũi và quan tâm cho nhau trong khi đang phải đối phó với những điều bất trắc của dịch bệnh Covid-19 có thể xảy ra bất cứ lúc nào cho bất cứ ai.
Tha thứ giúp ta kiểm soát cảm xúc để tránh nỗi đau nội tâm không cần thiết. Là người có lý trí, ta có thể lựa chọn sống như một nạn nhân hay một người trưởng thành. Ở lựa chọn sau, ta có thể thừa nhận và cảm nhận toàn bộ nỗi đau của những gì đã xảy ra với ta nhưng không để bị mắc kẹt trong trạng thái mà ta như có cảm giác là nó vẫn đang xảy ra. Ta có thể cảm nhận rằng cảm xúc về nỗi đau vẫn còn nhưng không để nó chiếm đoạt và tiếp tục ngự trị trong lòng mình.
Đối với đa số, lòng tha thứ không phải là thứ có sẵn mà phải luyện tập. Không biết tha thứ thì có thể chính bản thân mình là người phải chịu thiệt thòi nhất. Chấp nhận tha thứ nghĩa là ta mang sự bình an, hy vọng, lòng biết ơn và niềm vui không chỉ đến cho tha nhân mà còn cho chính ta nữa. Và thêm điều này là tha thứ sẽ khiến cho đời sống ta thăng hoa về thể xác, tình cảm và tinh thần.

Huy Lâm

]]>
Tự do của tôi thời Cô Vi http://thoibao.com/tu-do-cua-toi-thoi-co-vi/ Tue, 19 May 2020 10:17:41 +0000 http://thoibao.com/?p=283458 Chu Văn Trong cố gắng tự túc và chạy theo cao trào “hữu cơ”, ngoài cây trái nhiệt đới và rau xanh đủ để có “mùa nào thức ấy”, tôi còn nuôi 5 chị gà mái. Nói theo ngôn ngữ nhà đạo của tôi, mấy chị gà mái này tuy đẻ trứng liên tục, nhưng […]]]>

Chu Văn

Trong cố gắng tự túc và chạy theo cao trào “hữu cơ”, ngoài cây trái nhiệt đới và rau xanh đủ để có “mùa nào thức ấy”, tôi còn nuôi 5 chị gà mái. Nói theo ngôn ngữ nhà đạo của tôi, mấy chị gà mái này tuy đẻ trứng liên tục, nhưng vẫn thuộc loại “trọn đời đồng trinh sạch sẽ”. Không biết từ thuở nào, cái thiên chức làm mẹ của mấy chị đã bị tước đoạt. Hội đồng thị xã của tôi lại cấm nuôi gà trống. Nhưng thỉnh thoảng tôi cũng xé rào thả một chú gà trống vào vui chơi với mấy chị một thời gian ngắn. Chị nào cũng hí ha hí hửng. Có chị hễ thấy chú gà trống xáp lại là nằm rạp xuống trong tư thế hiến dâng trọn vẹn. Trông thật tội nghiệp! Nhưng dù sao, mấy chị gà mái của tôi vẫn có đủ một không gian thông thoáng vừa đủ để đi bộ và bới móc. So với cậu chó nhà tôi, các chị gà mái dường như vẫn tỏ ra bằng lòng với số phận làm gà “đi bộ” của mình hơn!

Cậu chó nhà tôi, vốn là thú cưng cho nên được cưng tới bến. Đồ ăn thức uống lúc nào cũng đầy đủ. Mỗi tuần nhà tôi tắm cho cậu một lần. Thỉnh thoảng cậu còn được đưa đến “viện thẩm mỹ” để được làm đẹp. Phía sau nhà tôi là cả một khu rừng vắng. Mỗi ngày cậu được tự do leo đồi xuống núi để săn đuổi mấy con gà lôi rừng (bush turkey) mắc dịch chuyên phá hoại vườn tược của tôi. Mỗi buổi chiều cậu còn được nhà tôi dẫn đi dạo một vòng. Đây là lúc tôi thấy thương cậu chó nhà tôi nhứt: dù có được săn sóc và cưng chiều cỡ nào, cậu vẫn cảm thấy cô đơn. Mỗi ngày cậu ngồi buồn bã trong căn nhà nhỏ của cậu và trông ngóng từng giây từng phút để được có người đến hỏi chuyện hay dắt đi chơi. Mà đi chơi thì có được tự do đâu: cậu phải bị tròng vào cổ một sợi giây và đi theo chủ! Tôi tin chắc là cậu rất buồn khi phải làm kiếp thú cưng, thui thủi một mình suốt ngày. Ngoài ra, đáng thương hơn cả là cậu chó nhà tôi không được sống trọn vẹn cái kiếp chó của mình. Không rõ từ lúc lên mấy tháng tuổi, cậu đã bị người chủ cũ bắt phải làm “hoạn quan” suốt đời. Nếu so với giống chó cỏ được nuôi ở quê tôi, thì quả thật, cậu chó cưng nhà tôi khốn khổ hơn nhiều. Chó ở nhà quê tôi được thả chạy rong, đi dạo chơi suốt ngày từ nhà này sang nhà khác để “giao lưu” với bạn bè hàng xóm. Mỗi tháng Bảy về thì khỏi nói: các cô cậu chó trong xóm tôi họp quần lại để liên hoan thâu đêm suốt sáng và nhờ vậy dòng dõi nhà chó mới được truyền tử lưu tôn. Dù không được nuôi dưỡng đầy đủ, các cô cậu chó ở quê tôi xem ra có một cuộc sống xứng với “phẩm giá” của chó hơn!

Tôi không ghi danh vào bất cứ hội tranh đấu cho thú quyền nào cả. Nhưng cứ nhìn theo quan điểm của những nhà tranh đấu cho thú quyền thì quả thật việc tôi cướp đoạt thiên chức làm mẹ của mấy chị gà mái và nhứt là cưỡng bách cậu chó nhà tôi phải suốt đời sống cô đơn và độc thân thì đây hẳn phải là một hành động vi phạm thú quyền. Với tôi, nếu đi cho đến tận cùng của lý luận thì vừa tranh đấu cho thú quyền vừa nuôi thú cưng là một hành động đầy mâu thuẫn!

Thú vật mà còn được tranh đấu cho để được tôn trọng trong thú quyền thì huống chi là con người. Trong các quyền con người thì dĩ nhiên quyền sống là căn bản và quan trọng nhứt. Ngày nay tại một số nước Tây Phương, nhứt là tại Hoa Kỳ, tranh đấu cho quyền sống và chống phá thai đã trở thành một lá bài ăn khách trong sinh hoạt chính trị. Chính trị gia nào hô hào tranh đấu cho quyền sống và chống phá thai có nhiều may mắn để kiếm phiếu từ những cử tri có tôn giáo và bảo thủ hơn các chính trị gia khác.

Theo dõi các cuộc xuống đường đòi hỏi chính quyền của một số tiểu bang ở Mỹ phải hủy bỏ lệnh đóng cửa trong thời đại dịch, tôi thấy rùng mình khi nhìn thấy hình ảnh của súng ống và một số khẩu hiệu vốn dễ làm cho một người tỵ nạn công sản như tôi bị dị ứng. Có nơi người ta giơ cao hiệu lệnh “Hãy giải phóng” (Liberate) của Tổng thống Donald Trump. Đã nếm mùi “giải phóng” của mấy ông cộng sản Việt Nam, hễ nghe nói đến “giải phóng” là tôi run. Có nơi, đoàn người biểu tình còn giương cao khẩu hiệu bằng tiếng Đức “Arbeit macht frei” nghĩa là “Lao động giải phóng” được Đức Quôc Xã cho treo lên ở cổng của các trại tập trung. Thế giới vừa kỷ niệm 75 năm Đệ nhị Thế chiến kết thúc. Thảm kịch của 6 triệu người Do Thái và vô số nạn nhân khác bị Đức Quốc Xã tàn sát không thể không hiện về trong ký ức tập thể của nhân loại. Với riêng tôi, khẩu hiệu “Lao động giải phóng” còn gợi lại câu thần chú “Lao động là vinh quang” mà mấy ông bà cộng sản Việt Nam đã tụng niệm để đẩy bao nhiêu người lên vùng kinh tế mới cho chết dần chết mòn với đói khát và đủ mọi thứ bệnh tật.

Khẩu hiệu “Lao động giải phóng” được giương cao trong các cuộc biểu tình đòi hỏi phải mở cửa kinh tế bằng mọi giá ở Mỹ không thể không gợi lại cho tôi chủ trương độc ác vô nhân đạo và giả nhân giả nghĩa của Đức Quốc Xã là: tiêu diệt những thành phần yếu kém và dễ bị tổn thương nhứt trong xã hội! Với những người biểu tình đòi mở cửa kinh tế bằng mọi giá ở Mỹ, khẩu hiệu ấy có nghĩa là: phải hy sinh một số thành phần yếu kém trong xã hội để cho người khỏe mạnh được sống! Vô tình hay hữu ý, người ta lập lại câu nói nổi tiếng trong quyển tiểu thuyết giả tưởng “Trại súc vật” (Animal Farm) của nhà văn Anh George Orwell: “Tất cả mọi thú vật đều bình đẳng, nhưng có một số thú vật bình đẳng hơn”.

Trong các chính trị gia Mỹ đứng đàng sau những cuộc biểu tình đòi hỏi phải mở cửa kinh tế bằng mọi giá, ngoài Tổng thống Trump, tôi đặc biệt chú ý đến dân biểu Trey Hollingsworth, đại diện cho một đơn vị ở Tiểu bang Indiana. Ông dân biểu này nổi tiếng là người tranh đấu cho quyền sống và chống phá thai. Năm 2017, ông đã tuyên bố rằng thai nhi là “quà tặng của Thượng Đế” và cam kết bẳng mọi giá “sẽ tiếp tục tranh đấu cho sự thánh thiêng của sự sống con người”. Nhưng trong các cuộc biểu tình đòi hỏi phải mở cửa kinh tế bằng mọi giá thì ông lại chủ trương vì kinh tế của đất nước và vì lợi ích của phần lớn người Mỹ, cần phải hy sinh những thành phần yếu kém và dễ bị tổn thương nhứt trong xã hội. Chủ trương như thế thì đâu có khác gì vừa tranh đấu cho thú quyền vừa nuôi thú cưng! (1)

Sự sống của con người là thánh thiêng. Tôi luôn tin như thế. Thánh thiêng từ lúc xuất hiện trong lòng mẹ cho đến lúc chết tự nhiên. Sự sống của thai nhi trong lòng mẹ thánh thiêng bao nhiêu thì sự sống của những thành phần yếu kém và dễ bị tổn thương nhứt trong xã hội cũng thánh thiêng bấy nhiêu.

Trong thời đại dịch này, tôi đặc biệt nghĩ đến sự sống của những người nghèo khổ và cách riêng những người già cả trong các viện dưỡng lão. Trên toàn nước Úc, tính đến nay con số người bị nhiễm Covid-19 chỉ trên dưới 7000 người. Trong số này có đến 90 phần trăm đã bình phục và số người thiệt mạng cũng chỉ suýt soát 100 người. Chính phủ Úc có đủ lý do để hãnh diện vì đã thành công trong việc đối phó với cơn đại dịch. Nhưng cho tới nay tôi chưa thấy có nhà lãnh đạo nào trong chính phủ Úc khoe khoang về thành tích này. Riêng Thủ tướng Scott Morrison cũng chẳng phải họp báo mỗi ngày để khoe mẻ. Duy có một lần ông làm cho cả nước xúc động khi nói rằng ông không cầm được nước mắt khi chứng kiến cảnh người dân Úc không được đến gần người thân trong những giây phút cuối đời và tiễn đưa họ đến nơi an nghỉ cuối cùng. Tôi chưa từng nghe thấy một giọt nước mắt nào như thế nơi Tổng thống Trump. Báo The Washington Post đã phân tích hơn 13 giờ họp báo của ông về đại dịch Covid-19 tại Mỹ. Ông chỉ bỏ ra một phần trăm của thời lượng ấy để chia buồn với các nạn nhân của đại dịch. Toàn bộ các cuộc họp báo, ông dành để khoe thành tích và vận động bầu cử (2).

Thủ tướng Morrison không phải là một nhà lãnh đạo được đa số dân Úc ủng hộ. Nhưng ít ra nơi ông tôi vẫn còn nhìn thấy được một trong những đức tính quan trọng nhứt của một nhà lãnh đạo. Đức tính đó là sự đồng cảm. Trong thời đại dịch, mỗi cái chết là một thảm kịch chớ không phải là một con số để đo lường sự thành công của một chính phủ. Trong thời đại dịch, cái chết nào cũng là một thảm kịch và thảm kịch lại càng đau đớn hơn khi đó là cái chết của một người nghèo khổ vô phương tự vệ, nhứt là những người già trong các viện dưỡng lão, những người đã đóng góp cả một đời cho xã hội. Họ xứng đáng hưởng một cuối đời an bình và thanh thản.

Với tôi, sự đồng cảm phải là căn cước của một nhà lãnh đạo. Nhưng không riêng các nhà lãnh đạo quốc gia hay trong bất cứ lãnh vực nào, sự đồng cảm cũng phải là nền móng để xây dựng nhân cách của mỗi người, bất luận họ chiếm giữ địa vị nào trong xã hội. Thiếu sự đồng cảm con người khó có thể sống cho ra người tử tế.

Đồng cảm, nhứt là trong thời đại dịch này, có nghĩa là biết ra khỏi vỏ ốc ích kỷ của mình để cảm thông với những người đang đau khổ. Đồng cảm là biết tự khước từ, bởi lẽ, như tác giả Nguyễn Thế Tuyền đã ghi nhận một cách chỉ lý trong một bài viết trên báo mạng ethongluan.org: “Người biết tự khước từ là người tử tế, khôn ngoan” (3).

Đồng cảm cũng có nghĩa là biết hy sinh những thứ mà mình cho là quyền và tự do của mình, bởi lẽ chẳng có quyền và tự do nào là tuyệt đối. Ai đó đã nói một cách chí lý: quyền tự do của bạn chấm dứt khi nó chạm đến mũi của tôi.

Chu Văn

18/5/2020

1. https://edition.cnn.com/2020/04/23/us/reopening-country-coronavirus-utilitarianism/index.html

2. https://www.psychologytoday.com/au/blog/mind-the-manager/202005/whatever-happened-empathy-in-leadership

3. https://ethongluan.org/index.php/doc-bai-luu-tru/4642-khu-c-t-nguy-n-th-tuy-n

]]>
Cuộc sống sẽ thay đổi http://thoibao.com/cuoc-song-se-thay-doi/ Fri, 15 May 2020 23:32:19 +0000 http://thoibao.com/?p=280844 Trong khi cả nhân loại vẫn đang tiếp tục chiến đấu với con vi khuẩn corona thì dường như ngày càng có nhiều bằng chứng để chúng ta có thể tin rằng khi có đủ thời gian và bình tĩnh nhìn lại, trận đại dịch của năm 2020 – cũng giống như sự kiện 9/11 […]]]>

Trong khi cả nhân loại vẫn đang tiếp tục chiến đấu với con vi khuẩn corona thì dường như ngày càng có nhiều bằng chứng để chúng ta có thể tin rằng khi có đủ thời gian và bình tĩnh nhìn lại, trận đại dịch của năm 2020 – cũng giống như sự kiện 9/11 và vụ sụp đổ tài chánh 2008 – sẽ là thời điểm khi mà thế giới xung quanh ta thay đổi một cách đột ngột và sâu sắc. Nó sẽ ảnh hưởng tới mọi khía cạnh trong cuộc sống – từ không gian nơi chúng ta sống và làm việc đến cách chúng ta liên lạc và giao tiếp với người khác.

Điều này không có nghĩa là thế giới hậu đại dịch sẽ trở nên quá khác lạ đến độ ta không còn nhận ra nữa. Nhưng cuộc sống sẽ thay đổi và những sinh hoạt cũng sẽ không còn như trước đây nữa. Thời gian chúng ta nhìn vào màn ảnh của máy vi tính, của điện thoại thông minh có thể sẽ tăng vọt cùng với sự phụ thuộc vào Zoom, FaceTime và những kỹ thuật kết nối hình ảnh video khác – là những phương tiện giúp chúng taliên lạc với người thân và bằng hữu, giao tiếp và làm việc với đồng nghiệp chung sở làm.

Nhưng cũng không hẳn những thay đổi thời hậu đại dịch hoàn toàn có thể dự đoán được. Dịch cúm năm 1918 đã làm đảo lộn thế giới và tàn phá một phần dân số Hoa Kỳ. Và những tưởng sau khi trải qua những kinh nghiệm đau thương thì người dân Mỹ sẽ có cuộc sống nghiêm túc hơn, nhưng hoá ra lại là một thập niên sống phung phí, buông thả và được các nhà nghiên cứu đánh giá cho đó là một trong những thời đại nông cạn nhất trong cuộc sống của người dân Mỹ.

Nhưng thông thường khủng hoảng luôn đưa tới thay đổi tất cả những gì thuộc hiện tại. Nó mở ra cơ hội cho những ý tưởng mới, những gì không chịu thích nghi với xu hướng mới sẽ bị nó bỏ lại phía sau và những trở ngại trong quá khứ sẽ bị đẩy sang một bên.

Nếu có một điều gì đó mà đại dịch Covid-19 gần như chắc chắn sẽ làm cho thay đổi thì đó là những hoạt động trực tuyến trên mạng của người dân trên khắp thế giới.

Một trong những thay đổi rõ ràng nhất đang xảy ra tại Hoa Kỳ trong khi dịch bệnh vẫn còn đang hoành hành là khi nhiều chục triệu người đang cố gắng làm quen với những lối sinh hoạt mới. Những lớp học ảo nay đang là một phần của chương trình giáo dục cho hầu hết trong số hơn 124, 000 trường học ở Mỹ bị ảnh hưởng vì phải đóng cửa do dịch bệnh. Trước đây, nhiều hệ thống trường học đã từng chống lại kế hoạch mở rộng việc học trực tuyến hoặc loay hoay không biết phải làm gì để có thể dung hợp việc học trực tuyến vào trong các bài học truyền thống đã có. Bây giờ thì họ không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc phải chấp nhận học trực tuyến vì sự an toàn của mọi người.

Trong khi đó thì dịch vụ khám bệnh trực tuyến cũng đang bùng phát. Hiện nay, các bác sĩ vẫn còn gặp khó khăn với những câu hỏi căn bản như việc chăm sóc sức khoẻ trực tuyến phù hợp thế nào với công việc của một bác sĩ hiện nay. Nhưng trong tương lai, sự hợp tác giữa các bác sĩ và các tổ chức y tế chắc chắn sẽ được mở rộng và đa dạng hơn. Với kỹ thuật trí thông minh nhân tạo ngày một tinh vi, trong tương lai, bệnh nhân sẽ không cần phải tới văn phòng bác sĩ mà chỉ cần nói chuyện qua màn hình và bác sĩ có thể kê toa cho bệnh nhân.

Với sự phát triển ngày càng nhanh của kỹ thuật số, các công ty kỹ thuật ngày càng đóng một vai trò quan trọng hơn đối với an ninh quốc gia. Nếu coi thời điểm trận đại dịch hiện nay cũng tương tự như những thời kỳ chiến tranh khác trong lịch sử, thì những công ty kỹ thuật như Microsoft, Amazon, Google, Facebook và Twitter sẽ ngày càng nổi bật lên như những thứ vũ khí mới của nền dân chủ, giống như công ty GM, Ford và Chrysler đã từng làm trong thời Đệ nhị Thế chiến.

Công ty Amazon nay đang là cột xương sống của dịch vụ giao hàng của nước Mỹ. Facebook đóng vai trò trung gian và là phương tiện liên lạc cũng như cập nhật tin tức trong một xã hội cô lập. Nước Mỹ đang khi không bị tấn công bất ngờ bởi mối đe dọa sức khỏe cộng đồng mà mức độ nghiêm trọng và ảnh hưởng của nó đối với xã hội có thể nói không có bất kỳ cuộc khủng hoảng nào có thể so sánh bằng kể từ Đệ nhị Thế chiến. Các cấp lãnh đạo trong chính quyền từ tiểu bang đến liên bang, với một vài trường hợp ngoại lệ, đã tỏ ra lúng túng trong khi phải giải quyết một vấn đề quá lớn như vậy. Sự sụp đổ xảy ra ở mọi lãnh vực kinh tế, trong đó những ngành kinh doanh hàng không, khách sạn và nhà hàng là bị nặng nhất. Tuy nhiên, chỉ một lãnh vực duy nhất không nhữngthoát khỏi mà lại có thể còn phát triển mạnh hơn nữa: kỹ thuật.

Một điều quan trọng khác cũng cần nhắc tới là cuộc cách mạng kỹ thuật số vẫn đang tiếp diễn hiện nay sẽ khiến nhiều người bị bỏ lại phía sau. Máy vi tính cá nhân và dịch vụ kết nối Wi-Fi đến nay vẫn còn khá mắc mỏ; nhiều gia đình với lợi tức thấp không thể kết nối vào mạng internet để có thể làm việc từ xa hoặc tham gia vào các lớp học ảo. Theo một phúc trình nghiên cứu gần đây của Broadband Now Research, có khoảng 42 triệu người Mỹ, và một phần tư dân số sống ở vùng nông thôn, không truy cập được vào mạng internet tốc độ nhanh nên gặp rất nhiều trở ngại trong một xã hội ngày càng lệ thuộc vào kỹ thuật.

Sau đại dịch, cuộc sống ở các thành phố trong nước Mỹ có thể sẽ không giống như trước nữa. Ít nhất, những sinh hoạt bình thường trước đây sẽ không trở lại trong một thời gian dài.

Nhiều khu vực đô thị trong nhiều thập niên qua đã ngày một co cụm lại trong khi dân số thành phố tiếp tục di chuyển ra khu vực ngoại ô và xa hơn. Rất có thể trận đại dịch lần này sẽ khiến cho sự di chuyển trên nhanh hơn nữa là vì người dân muốn sống trong một không gian thoáng đãng rộng rãi để có cảm giác được an toàn hơn, thay vì một không gian chật hẹp trong thành phố.

Các doanh nghiệp nhỏ cũng sẽ nhìn rất khác trước, với bàn ăn trong nhà hàng được xếp cách xa nhau hơn, ghế trong tiệm hớt tóc sẽ không còn san sát nhau như trước nữa mà phân tán mỏng thành từng ô riêng biệt, v.v…

Trẻ em sẽ trở lại trường học trong một môi trường hoàn toàn khác với trước khi có đại dịch, với bàn kiểm tra thân nhiệt được đặt ngay ở cửa trước và quy định giữ khoảng cách xã hội trong phòng ăn cũng như trong lớp học. Một số những thay đổi khác được dự đoán sẽ xảy ra khi các thành phố cho mở cửa để hoạt động kinh doanh trở lại là các phi trường, các trung tâm hội nghị và nhiều cơ sở hạ tầng khác sẽ cho kiểm soát gắt gao sức khoẻ của mọi cá nhân trước khi bước vào những nơi này.

Khoảng một phần ba lực lượng lao động toàn nước Mỹ đủ khá giả để có khả năng sử dụng dịch vụ giao thực phẩm và những nhu yếu phẩm khác mà không phải đi tới các siêu thị, và thường là nhóm người này được làm việc tại nhà. Một phần ba khác là những người lao động tay chân với những công việc như sắp xếp hàng lên kệ, lái xe giao hàng, bán hàng, v.v… sẽ phải chấp nhận nguy cơ bị lây nhiễm trong khi làm việc tại những tuyến đầu. Một phần ba cuối cùng là những người nghèo không có lựa chọn nào khác ngoài việc là phải ở trong nhà và tránh đi ra ngoài.

Vụ khủng hoảng Covid-19 chắc chắn sẽ mang mọi người gần lại với nhau hơn, bằng cách nào đó, nhưng cũng đẩy nhiều người xa nhau ra.

Kỹ thuật giúp mọi người phương tiện để giữ liên lạc với nhau – ít ra là với những ai có thể kết nối vào mạng internet tốc độ cao và muốn duy trì sợi dây liên lạc với người thân và bằng hữu. Những kỹ thuật như Skype, Zoom, Google Hangouts là nơi để gặp gỡ, giao tiếp qua không gian ảo. Chúng giúp cho cuộc sống cách ly bớt cô độc hơn. Người sử dụng có thể phải lập ra một thời khoá biểu với những cuộc hẹn được sắp đặt trước: hôm nay là để gặp gỡ bạn bè, ngày mai là dành cho người thân trong gia đình tụ họp, hôm sau nữa là họp mặt với đồng nghiệp. Đó là chưa kể những phương tiện kỹ thuật này còn là nơi tổ chức hàng triệu buổi họp nhân viên của các công ty trong khi họ phải làm việc ở nhà. Có thể nói người ta chưa từng chứng kiến một sự quần tụ đông đảo trong hoàn cảnh cách ly như vậy.

Nhưng những cuộc gặp gỡ, họp mặt trên mạng cũng có thể dễ làm người ta chán nản. Nói cho cùng, những sinh hoạt trên không gian ảo khó có thể nào mang lại cảm giác như trong không gian thật được. Kỹ thuật cho dù tinh vi đến đâu vẫn có những giới hạn của nó. Kỹ thuật sẽ không thể nào thay thế được những trải nghiệm cá nhân như trong đời thực.

Và khi trận đại dịch kết thúc, hy vọng mọi người có thể bước ra khỏi dễ dàng và không bị vướng mắc vào trong thế giới ảo của kỹ thuật, nhưng công bằng mà nói, hiện nay chúng ta lại đang rất cần đến kỹ thuật này để giúp cho các hoạt động trong cuộc sống còn được tiếp tục duy trì thay vì ngưng lại hoàn toàn. Đừng để kỹ thuật thống trị và điều khiển chúng ta. Nếu có thể rút ra được bài học gì qua trận đại dịch thì đó chính là chúng ta cảm thấy trân quý hơn cuộc sống, kể cả những điều nhỏ nhặt tầm thường nhất mà trước đây chúng ta chẳng hề quan tâm tới.

Huy Lâm

]]>
NGÀY TÀN CỦA HỌ TRUMP http://thoibao.com/ngay-tan-cua-ho-trump/ Fri, 15 May 2020 23:32:19 +0000 http://thoibao.com/?p=280850   Tạp chí The Atlantic hôm 13 tháng 03 cho chạy một bài báo có tên The Trump Presidency Is Over do tác giả Peter Wehner viết. Chuyện này hư thực ra sao xin được phân tích hầu chuyện cùng quý vị sau đây. Liệu ngày tàn của họ Trump đang từ từ kéo đến. […]]]>

 

Tạp chí The Atlantic hôm 13 tháng 03 cho chạy một bài báo có tên The Trump Presidency Is Over do tác giả Peter Wehner viết. Chuyện này hư thực ra sao xin được phân tích hầu chuyện cùng quý vị sau đây. Liệu ngày tàn của họ Trump đang từ từ kéo đến.

Có lẽ đây là nhận định còn quá sớm để nói trước. Với nước Mỹ, đại dịch Covid-19 và giá cổ phiếu giảm mạnh, hơn hai chục triệu công dân Mỹ xin tiền thất nghiệp, kinh tế Mỹ quý I năm 2020 giảm gần 5%… là những quả chùy nặng giáng xuống đầu vị nguyên thủ quốc gia Hoa kỳ. Từ Á đến Âu, từ Bắc Mỹ đến Nam Mỹ, ai cũng khốn đốn, dĩ nhiên Tổng thống Trump, thuyền càng to sóng càng lớn, không thể là một ngoại lệ bởi đây là đại nạn chung toàn cầu.

Các cụ mình thường dạy con cháu: Bảy mươi chưa gọi là lành, hàm ý không có gì chắc chắn bền vững vì họa vô đơn chí, phúc bất trùng lai. Như thế, sau ba năm liền phúc trùng lai liên tục xảy ra với Tổng thống Trump, kỳ tích xuất hiện như nấm sau mưa, tỷ lệ thất nghiệp giảm mạnh, giá cổ phiếu tăng vọt… cho thấy ông là một nhà lãnh đạo có tài, không hề nói suông.

Nhưng sau khi Covid-19 lây lan đến Mỹ, các pháo đài của Tổng thống Trump liên tục bị tấn công, họp báo mỗi ngày cho dân chúng an tâm, bình tĩnh, thì giới truyền thông cánh tả đánh phá Tổng thống hơn là chung tay để lo việc nước, an dân. Tác giả Peter Whelner cũng không ngoại lệ lợi dụng dịch bệnh để làm chính trị khi cho rằng bản thân ông Trump rất tín thác, ủng hộ nhiều đời tổng thống đảng Cộng hòa; nhưng gần đây ông có những thay đổi như tâm lý không ổn định cho vị trí lãnh đạo tối cao Hoa Kỳ. Peter Whelner khá bất ngờ khi xét lại toàn bộ con người Tổng thống Trump, bất luận ông làm gì, nói gì thì kết quả mùa phiếu 2016, ông đã đường hoàng bước vào Bạch ốc với chiến thắng danh chánh ngôn thuận.

Có người cho rằng Tổng thống Trump là người có cá tính mạnh vì lời ông nói, việc ông làm chẳng đi theo một khuôn thước nhất định nào. Ông làm việc theo ý tưởng cá nhân ông hơn những lề thói xưa cũ, như ông công khai khen Vladimir Putin là người hùng, bất chấp hiện thân của Putin là hình mẫu không đội trời chung của nền dân chủ Mỹ. Ông giải quyết chuyện Bắc Hàn không giống bất kỳ vị tổng thống tiền nhiệm nào. Cho thấy sự khác biệt của vị tổng thống đương nhiệm Hoa Kỳ. Ngay việc ông hay dùng twitter lúc nửa đêm hay về sáng. Đó là cách riêng của ông trong môi trường truyền thông bá đạo của xã hội Mỹ đang hoành hành. Ông dùng trang mạng cá nhân thì truyền thông cánh tả không thay câu đổi lời của ông được. Ông đã chọn cách tiếp cận mọi người hiệu quả nhất mà ông có thể. Chuyện chinavirus có lúng túng lúc đầu do ông chủ quan, coi thường như cúm mùa ở Mỹ. Nhưng rồi diễn biến của dịch bệnh phức tạp hơn, may mà ông có phó tổng thống Mike Pence là người có thực tài lãnh đạo phòng chống dịch. Thế là mọi chuyện qua đi như một may mắn tiếp nối những may mắn trong mấy năm qua của tổng thống Trump.

Theo tác giả Peter Wehner, Tổng thống Trump rất ương ngạnh, quá bất cẩn, cảm xúc thay đổi khó tiên liệu, cứng đầu, chủ nghĩa duy ngã, vô tâm, đó là sự kết hợp quá rõ những đặc tính dẫn đến thất bại của một vị tổng thống, đồng thời đem lại tai họa cho quốc gia.

Rồi ra Peter Wehner đúng hay sai với thành công và không thành công của Tổng thống Trump trong nhiệm kỳ đầu đang dần khép lại. Tổng thống Trump đã đem lại những hệ quả nào đối với người dân và xã hội Mỹ. Lịch sử vốn dĩ không thể đánh giá trong một khoảng thời gian ngắn, càng không thể chỉ dựa vào những con số dao động mang tính tức thời hiện tại. Song chắc chắn qua vụ Covid-19 lần này, người ta có thể nhận ra Tổng thống Trump thực sự đang lúng túng.

Nhắc lại, chỉ số việc làm của tháng 02 năm nay vẫn rất ngoạn mục, 273.000 công việc mới được đưa vào thị trường Mỹ, chỉ số thất nghiệp ở mức 3.5%. Nhưng sau đó giá cổ phiếu tuột dốc đầu tháng 03 khiến Tổng thống Trump chóng mặt, giật mình. Có chút dấu hiệu căng thẳng xuất hiện trên khuôn mặt. Đã thế, ông nghĩ mình vẫn có thể xuất hiện tại các đêm tổ chức vận động tranh cử. Nhưng Covid-19 rất khác. Nó đủ mạnh để bắt ông dừng lại các hoạt động huyên náo này. Được biết chưa khi nào lịch sử Mỹ chứng kiến một đại dịch có thể đình chỉ mọi hoạt động đại chúng, những lễ hội, những trận đấu thể thao, đóng cửa trường học, đóng cửa nhà thờ, đóng cửa chợ búa… Những đêm tổ chức vận động gây quỹ tranh cử của ông với người hâm mộ xem ra chẳng thể là ngoại lệ.

Liệu Covid-19 có phải là quả bom tấn đối với sự nghiệp chính trị của Tổng thống Trump? Liệu ông có vượt qua được cơn bão này? Liệu các kế sách ông đưa ra có thể chế ngự được ảnh hưởng của Covid-19? Liệu gói kích cầu 2.2 tỷ Mỹ kim có thể giảm thiểu sức tàn phá của nó? Liệu các tiểu bang tím là thành phần cử tri gió chiều nào che chiều ấy có quay lưng với ông? Liệu công thức hành xử quen thuộc của ông, kinh tế xã hội thành công vì ông có biệt tài chứ không phải do ông may mắn. Còn kinh tế xã hội thất bại là do các yếu tố khách quan bên ngoài chứ không phải lỗi của ông?

Có lẽ còn quá sớm để khẳng định Covid-19 có phải khắc tinh của Tổng thống Trump, đủ mạnh để xô ông ra khỏi quỹ đạo thuận lợi vốn cách đây vài tháng? Tất nhiên phe đối lập của ông hiện nay không chỉ có truyền thông trong tay là vũ khí mị dân của Đảng Dân chủ. Lần này Covid-19 kéo theo sự có mặt của giới khoa học, các bác sĩ, y tá không ưng cách ứng phó với đại dịch của Tổng thống. Thiên hạ chết vì bệnh cúm hằng năm cả chục ngàn người không sao, nhưng nạn nhân Covid-19 sẽ khác hẳn. Rồi không riêng chỉ số Dow Jones, chỉ số Nasdaq, hay tỷ lệ thất nghiệp người ta mới có đủ lý do nhận ra kinh tế Mỹ bắt buộc liên hệ mật thiết với kinh tế thế giới. Sau đó người ta sẽ xét lại chủ nghĩa quốc gia của ông (America first, hay Make America Great Again). Người ta sẽ đặt câu hỏi tại sao ông làm thế này, làm thế nọ, ầm ĩ hết cả lên.

Phải chăng lời tiên tri của tác giả Peter Wehner với bài báo The Trump Presidency Is Over đăng trên Tạp chí The Atlantics sẽ đúng? Hay đó chỉ là một bài báo của nhóm bài Trump. (Theo đó Tổng thống Trump bị chụp mũ bởi sự giật dây của truyền thông – kẻ thù của nước Mỹ) vốn luôn bất công với ông?

Hay chúng ta sẽ phải đợi thêm xem diễn biến tình hình Covid-19 ở Mỹ diễn biến ra sao? Giá cổ phiếu, tỷ lệ thất nghiệp trong tháng tới, bao nhiêu người Mỹ bị nhiễm covid-19, bao nhiêu người bị chết trong mùa hè năm nay, Cựu phó tổng thống Joe Biden có thu hút thêm sự quan tâm theo dõi của các cử tri… Những chi tiết đó sẽ cung cấp thêm dữ kiện để chúng ta kết luận xem ngày tàn của họ Trump đã đến hay chưa.

Nguyễn Thơ Sinh

]]>
45 năm Việt Nam vẫn chưa có hòa bình http://thoibao.com/45-nam-viet-nam-van-chua-co-hoa-binh/ Wed, 13 May 2020 16:29:01 +0000 http://thoibao.com/?p=278748 Nguyễn Quang Duy Báo chí trong nước hôm 12/5/2020 đưa tin Bộ Công an cho hay dự luật biểu tình chưa thể được trình lên Quốc hội vì “cần phải được nghiên cứu kỹ, không để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng”. 45 năm qua dường như đảng Cộng sản Việt Nam […]]]>

Nguyễn Quang Duy

Báo chí trong nước hôm 12/5/2020 đưa tin Bộ Công an cho hay dự luật biểu tình chưa thể được trình lên Quốc hội vì “cần phải được nghiên cứu kỹ, không để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng”.

45 năm qua dường như đảng Cộng sản Việt Nam chưa có được một ngày hòa bình, trong tâm trí họ xung quanh lúc nào cũng có những “thế lực thù địch” đe dọa sự tồn vong của thể chế.

Câu chuyện “hòa hợp hòa giải dân tộc” đã được nói đến ngay từ khi Chiến tranh kết thúc năm 1975, nhưng đến nay nhà cầm quyền vẫn đề cao lịch sử của “bên thắng cuộc” và tiếp tục coi mọi tiếng nói khác biệt là thù địch.

Mục tiêu của cuộc chiến là gì?

Ngày 30/4/2020, trên VTC News, Thượng tướng Thứ trưởng Bộ Quốc Phòng, ông Nguyễn Chí Vịnh từ góc nhìn của “bên thắng cuộc” cho rằng “Hoà hợp, hoà giải dân tộc đã thành công”, ông nhấn mạnh:

“…chiến thắng này đem lại lợi ích cho cả người thắng lẫn kẻ thua và thời gian đã chứng minh điều ấy.”

Sau 30/4/1975, miền Nam từ một xã hội đa nguyên gồm nhiều sinh hoạt dân sự, có cả những sinh hoạt thân cộng sản, đã được miền Bắc “hợp” nhất thành một mối, từ người công an khu vực, phường đội, quận đội, mọi cơ quan hành chính miền Nam đều do người miền Bắc nắm giữ hoặc chỉ đạo.

Những người miền Nam thân cộng hay theo cộng sản là những người đầu tiên bất “hòa” với việc “thống nhất” theo mô hình lạc hậu của miền Bắc.

Những người này tin rằng theo Hiệp định Paris miền Nam sẽ có vài năm chuyển tiếp, người miền Nam được hòa giải với nhau và sau đó sẽ được quyền tự quyết dân tộc.

Mới đây, nhân dịp 30/4/2020, câu chuyện của Bác sĩ Bùi Quỳnh Hoa con gái Đại tá Quân đội Bắc Việt Bùi Văn Tùng kể trên BBC tiếng Việt có những điểm đáng được quan tâm.

Ông Bùi Văn Tùng là Trung Tá Chính ủy Lữ đoàn xe tăng 203, cấp chỉ huy cao nhất vào tiếp thu Dinh Độc Lập ngày 30/4/1975, ông Tùng đã soạn Tuyên Bố Đầu Hàng cho Đại Tướng Dương Văn Minh và chính ông đã đọc lời Chấp Nhận Đầu Hàng trên Đài Phát Thanh Sài Gòn.

Trong vai trò Chính ủy trước đây ông Tùng phải tuyên truyền để bộ đội Bắc Việt “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào”, nhưng theo lời kể của Bác sĩ Quỳnh Hoa cho đến chết ông vẫn hỏi bà: “Tại sao Mỹ lại đánh nhau với mình thế hả con?”

Rõ ràng cho đến cuối đời ông Bùi Văn Tùng vẫn chưa có được một lời giải thích thỏa đáng nguyên nhân của cuộc chiến tại Việt Nam, lịch sử với cộng sản chỉ để tuyên truyền nên không thể thuyết phục ngay cả những chứng nhân “bên thắng cuộc”.

Khi được mở lòng trên BBC tiếng Việt, Bác sĩ Bùi Quỳnh Hoa đã hòa giải tâm lý bị đè nén bấy lâu nay, bà cũng đã hòa giải giúp cho cha bà ông Bùi Văn Tùng.

Thân phận của Điệp viên Phạm Xuân Ẩn, của ký giả Lý Chánh Chung và của nhiều nhân vật miền Nam khác cũng cần được cặn kẽ xem xét để xem họ nghĩ gì về chiến thắng của Quân Đội Bắc Việt.

Khác với nhiều ỵ́ kiến cho rằng vấn đề hòa giải đã xong, hoặc chỉ là chuyện của chính quyền với dân, ở Việt Nam dường như chưa có những cuộc nghiên cứu để tìm hiểu tâm lý của những bộ đội cộng sản trong chiến tranh Việt Nam để xem mức độ “hòa giải tâm lý” của binh sĩ bên thắng cuộc.

Bởi thế không ai có thể kết luận: “hòa hợp và hòa giải đã thành công” đối với bên thắng cuộc.

Bên thua cuộc thì sao?

Còn người miền Nam thuộc “bên thua cuộc” thì khăn gói 10 ngày “học tập cải tạo”, có người 17 năm mới rời khỏi nhà tù, nhiều người chết trong tù.

Một số nhân viên miền Nam cấp thấp không bị tù, được giữ lại làm việc ít lâu, nhưng khi người miền Bắc đã nắm được chuyên môn, thì họ bị sa thải vì là người của chế độ cũ.

Nền tảng chính trị, kinh tế, kỹ thuật, văn hóa, giáo dục, xã hội, báo chí, văn nghệ, nghệ thuật, của miền Nam bị xóa bỏ để xây dựng xã hội mới và con người mới xã hội chủ nghĩa.

Những trận đánh tư sản, đánh văn hóa, cưỡng bức dân đi kinh tế mới, cưỡng bức dân vào hợp tác xã, ngăn sông cách chợ, phân biệt đối xử giữa người cũ với người mới đã buộc người miền Nam phải bỏ nước ra đi, nhiều người chết trên đường tìm tự do.

Đến nay tại Việt Nam từ giáo dục, báo chí, văn nghệ, nghệ thuật đến cuộc sống hằng ngày, mọi thứ vẫn còn ảnh hưởng sâu đậm của “cách mạng”, của “chiến thắng 30/4/1975”, của người thắng kẻ thua.

Những người miền Nam thuộc “bên thua cuộc” còn ở lại Việt Nam, 45 năm qua chưa một ngày được đối xử công bằng, thậm chí đến đời con, đời cháu của họ vẫn bị đối xử kỳ thị vì cha ông đã phục vụ cho miền Nam tự do.

Những người sống ở nước ngoài và con cháu họ vẫn bị kỳ thị về chế độ thị thực, bị cấm nhập cảnh vào Việt Nam nếu nhà cầm quyền cho họ vào “sổ đen”.

Chấm dứt chiến tranh bộ máy cầm quyền thay vì xóa bỏ xung đột để tiến đến hòa hợp và hòa giải dân tộc thực sự, thì hố cách biệt giữa những người Việt với nhau càng sâu hơn, một lịch sử có “hợp” nhưng không có “hòa”.

Không “hòa” không “giải”

Không có “hòa” thì không thể nào giải quyết được những xung đột về văn hóa, về niềm tin, về chính trị, về lịch sử, giữa đảng Cộng sản và những người thuộc “bên thua cuộc”.

Người miền Nam thuộc “bên thua cuộc” vẫn luyến tiếc và giữ niềm tin vững mạnh là họ sẽ phục hồi lại văn hóa, lại giáo dục, lại kinh tế, lại công bằng, tự do và dân chủ cho Việt Nam.

Ý tưởng này vẫn tồn tại và phát triển trong sinh hoạt của những người miền Nam yêu chuộng tự do trong và ngoài nước.

Cùng lúc, những người Việt ra hải ngoại du lịch và du học, những người Việt về nước du lịch hay làm việc, và không gian mạng toàn cầu, đã tạo cơ hội người Việt trong và ngoài nước, người Việt thuộc nhiều thế hệ khác nhau, người Việt thuộc nhiều nguồn gốc khác nhau, người Việt thuộc nhiều khuynh hướng khác nhau, cùng hòa hợp với nhau, từng bước hòa giải, xóa bỏ những mâu thuẫn, những xung đột cùng hướng về tương lai.

Mặc dù không còn đất nước, không còn chính phủ nhưng bài học “hợp” nhưng không “hòa” không “giải”, không cho phép người Việt hải ngoại tái phạm sai lầm đã xảy ra, nên không hề có chuyện người Việt tự do có nhu cầu phải đối thoại với giới chức cộng sản.

Sau 45 năm người Việt hải ngoại không còn suy nghĩ thắng thua hay không có nhu cầu phải hòa hợp hay hòa giải với nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam.

Các xung khắc mới…

Miền Bắc sau 30/4/1975 lúc đầu đời sống kinh tế có phần tốt hơn, nhưng về lâu dài cả hai miền Bắc Nam đều cùng chung số phận và sau 45 năm “thống nhất”, xung đột đã từng bước chuyển sang những hình thức mới.

Xung đột giữa người cầm quyền với người bị trị, với những nông dân mất đất, xung đột giữa người dân làm không đủ ăn với những nhóm tư bản thân hữu phân chia lợi ích quốc gia, xung đột giữa những trí thức ưu tư về vận mệnh quốc gia và những người kiên định con đường cộng sản, và nhiều xung đột khác do thể chế chính trị gây ra.

Những xung đột này thay vì được giải quyết một cách dân chủ trong vòng luật pháp, nhà cầm quyền cộng sản lại khép cho những người bị thua thiệt là “thế lực thù địch”, rồi thẳng tay đàn áp, bắt bớ, bỏ tù.

45 năm qua dường như đảng Cộng sản chưa có được một ngày hòa bình, chung quanh họ lúc nào cũng có những “thế lực thù địch” đe dọa sự tồn vong của thể chế Cộng sản.

Trở lại với cách suy nghĩ ông Nguyễn Chí Vịnh cho thấy những người cộng sản 45 năm nay vẫn không hề thay đổi, vẫn còn nghĩ thắng thua, chưa nghĩ đến chuyện “hòa” thì đừng mong nghĩ đến chuyện “giải” để có được kết luận “Hoà hợp, hoà giải dân tộc đã thành công”.

Bài học từ 30/4/1975

Ở thời điểm 30/4/1975 mấy ai nghĩ rằng cho đến năm 2020, nghĩa là 45 năm trôi qua, việc hoà hợp và hoà giải dân tộc vẫn chưa được nhà cầm quyền cộng sản thực hiện.

Hai năm trước mấy ai nghĩ đến chiến tranh thương mãi Trung Mỹ, chỉ vài tháng trước mấy ai nghĩ đại dịch viêm phổi xảy ra khắp toàn cầu, và mấy ai nghĩ đến việc Trung cộng đang phải đối đầu với suy thoái kinh tế, với nạn thất nghiệp, với việc thay đổi cấu trúc kinh tế toàn cầu và rất có thể Trung cộng sẽ phải thay đổi chính trị: “thay đổi không thì chết”.

Môi Bắc Kinh hở, thì răng Hà Nội lạnh, nhiều thay đổi ắt sẽ xảy ra tại Việt Nam trong những ngày sắp tới.

Bài học của 30/4/1975 cho thấy hòa hợp và hòa giải dân tộc không thể xảy ra trong thể chế độc tài, đảng trị, mà chỉ có thể có nhờ môi trường dân chủ, đa nguyên, đa đảng với bầu cử thực sự tự do.

Việc hoãn lại luật biểu tình cho thấy Hà Nội vẫn xem dân là “kẻ thù”, chứng tỏ trong suốt 45 năm qua họ đã thất bại không hòa giải được như mong muốn của người dân hai miền Bắc Nam.

Nguyễn Quang Duy

Melbourne, Úc Đại lợi

14/5/2020

]]>
Lời Mẹ Dặn http://thoibao.com/loi-me-dan/ Thu, 07 May 2020 16:43:33 +0000 http://thoibao.com/?p=273811 Chu Văn Mẹ tôi qua đời ngày cuối năm âm lịch 1975. Từ đó, nhà tôi hầu như không còn Tết nữa. Nếu lấy 75 làm cột mốc để tính, thì bao nhiêu năm tôi mất mẹ cũng là bấy nhiêu năm tôi mất nước. Như tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc đã đưa ra nhận […]]]>

Chu Văn

Mẹ tôi qua đời ngày cuối năm âm lịch 1975. Từ đó, nhà tôi hầu như không còn Tết nữa. Nếu lấy 75 làm cột mốc để tính, thì bao nhiêu năm tôi mất mẹ cũng là bấy nhiêu năm tôi mất nước. Như tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc đã đưa ra nhận xét: “Bất cứ ký ức nào cũng có tính tương tác. Nhớ, dù là nhớ một kỷ niệm hoàn toàn riêng tư, cũng vẫn liên hệ với một cái gì khác. Qua việc nhớ, do đó, chúng ta nối kết bản ngã và môi trường chung quanh, nối kết quá khứ và hiện tại, cá nhân và tập thể, cái riêng và cái chung.” Với tôi, nỗi nhớ mẹ luôn đi kèm với mất nước và mất nhiều thứ.

Những năm cuối thập niên 50, ở bậc tiểu học, ngày nào chúng tôi cũng chào cờ, hát quốc ca và cũng “học biết” về chủ nghĩa Cộng sản như một chủ nghĩa “Tam vô”: vô tôn giáo, vô tổ quốc, vô gia đình. Thời thái bình “cửa còn bỏ ngỏ”, tôi chẳng hiểu gì về chủ nghĩa tam vô ấy.

Lên trung học, đầu thập niên 60, tôi được xem cuốn phim “Chúng Tôi Muốn Sống”, nhớ mãi cảnh đấu tố ngoài Bắc, đoàn người lên tàu há mồm di cư vào Nam và nhứt là hình ảnh cuối cùng khi tài tử Lê Quỳnh bị cá mập cắn đứt chân…Nhưng một giáo sư người Pháp của tôi, không rõ có chịu ảnh hưởng của cánh tả tại nước Pháp vào thời đó không, nói với tôi rằng cuốn phim chỉ là một trò tuyên truyền của Việt Nam Cộng Hòa; theo ông, làm gì có những cảnh khủng khiếp như thế.

Tôi tạm cho rằng bài học sơ đẳng về“Chủ nghĩa Tam vô” và “Chúng Tôi Muốn Sống” là những tuyên truyền cần thiết trong một đất nước đang phải chiến đấu một mất một còn với những người Cộng sản. Tuy biến cố 30 tháng Tư 75 xảy đến như một cuộc tận thế, tôi vẫn còn nuôi chút hy vọng rằng Cộng sản Miền Bắc khác với Cộng sản Miền Nam. Những ngày đầu khi bóng dép râu và mũ tai bèo xâm nhập mọi hang cùng ngõ hẻm, mấy ông cán bộ “Ba Mươi” đi trấn an dân làng chúng tôi rằng làm gì có thứ chủ nghĩa Tam vô. Họ giải thích: “Cứ nhìn chúng tôi đây, chúng tôi cũng có vợ con, cũng đến nhà thờ, cũng đi lễ chùa.”

Nhưng quả như cố Tổng thống Nguyễn văn Thiệu đã cảnh giác “Đừng nghe những gì Cộng sản nói, mà hãy nhìn kỹ những gì Cộng sản làm”, có sống với người Cộng sản thì mới biết được thế nào là chủ nghĩa Cộng sản. Thật vậy, cứ nhìn vào cuộc bách hại tàn bạo đối với các tôn giáo tại Việt nam kể từ 75 đến nay cũng đủ để biết mấy ông Cộng sản có “vô tôn giáo” hay không? Về chủ trương tiêu diệt, khống chế hay “công cụ hóa” tôn giáo của các chế độ Cộng sản, những chuyện đã và đang xảy ra tại Việt nam và những chứng liệu lịch sử tại các nước Cộng sản là sự thật “hai năm rõ mười” không thể chối cãi được.

Còn chuyện những người Cộng sản có “vô tổ quốc” hay không, những khẩu hiệu như “tổ quốc xã hội chủ nghĩa” hay “yêu tổ quốc là yêu xã hội chủ nghĩa” là lời tự thú “thưa ông tôi ở bụi này”, khỏi cần phải dông dài bàn cãi nữa.

Riêng về chủ trương “vô gia đình” của người Cộng sản, điều ấy xem ra cũng rõ như ban ngày. Còn nhớ dạo tháng Giêng năm 2002, trong một cuộc phỏng vấn dành cho tạp chí Time, ấn bản Á Châu, khi được hỏi về những đồn đãi rằng ông là con của ông Hồ Chí Minh, tổng bí thư Đảng Cộng Sản Việt nam Nông Đức Mạnh liền “phán” rằng: “Ở Việt nam, mọi người đều là con của Bác Hồ.” Tôi tức muốn ói máu khi nghe câu nói xấc xược và mất dạy này. Mẹ tôi có ăn nằm với tên tội đồ của dân tộc ấy đâu mà bảo rằng tôi là con của hắn ta. Khi Hồ Chí Minh viết hồi ký dưới bút hiệu Trần Dân Tiên để tự xưng là “Cha Già Dân Tộc” của cả nước, hẳn ông đã có ý gạt bỏ vai trò làm cha của người đàn ông Việt nam và xóa bỏ mọi ranh giới và chức năng của gia đình. Hậu quả của chủ trương “vô gia đình” ấy, như ông bà chúng ta đã nói, là tình trạng “con không cha như nhà không nóc” mà chúng ta đang chứng kiến trong xã hội Việt nam ngày nay.

Nhưng điều đáng nói nhứt trong chủ trương “vô gia đình” của chủ nghĩa Cộng sản chính là hoàn toàn chối bỏ thiên chức của người mẹ trong gia đình. Trong tuyển tập “Nước Mỹ lạnh lùng”, tác giả Huy Phương đã giải thích: “Tự trong tiềm thức, Mẹ là nơi tìm về cuối cùng cũng là nơi yên bình nhất của cuộc sống, vì vậy mà phần đông người ta khi gặp hoạn nạn hay trước giờ phút lâm chung, một cách vô thức, đều bật ra tiếng kêu “Mẹ”. Mẹ là tiếng bập bẹ đầu lòng với âm môi “mm” trong miệng đứa bé, nên tiếng “mẹ, má, mạ (Việt), mẫu mù (Hoa), mom, mother (Anh), maman, mère (Pháp), mama, madre (Tây Ban Nha)…và tất cả ngôn ngữ trên thế giới đều bắt đầu bằng âm môi bập bẹ đầu tiên là “mm”. Thật là lạ lùng và nghịch lý vì sao con cái và dòng họ “nhà thơ vĩ đại Tố Hữu” lại bật ra tiếng nói đầu đời là Staline được?!”

Quả thật, trong xã hội Cộng sản, tiếng gọi thân thương “Mẹ” đã hoàn toàn biến mất khỏi tự điển và văn chương. Ở Miền Bắc, kể từ khi những người Cộng sản áp đặt chủ trương “vô gia đình”, theo tác giả Huy Phương, “Tính từ năm 1945 cho đến năm 1975, không có một khoảng đất trống nào dành cho Mẹ, vì văn nhân thi sĩ bận lo ca tụng Đảng, ca tụng Bác. Đó là sự thật, Miền Bắc có thể hãnh diện có 365 bài thơ, nhạc ca tụng Bác và Đảng nhưng không hề có một dòng ca tụng Mẹ. Nếu có Mẹ là Mẹ chở bộ đội sang sông, mẹ bắn máy bay Mỹ, chứ không có mẹ mang nặng đẻ đau, cù lao chín chữ. (1) Trong đợt “cải cách ruộng đất” ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa năm 1948, khi cần đấu tố thì những thằng con hoa chân múa tay có thể lý luận rằng “chúng mày ngủ với nhau mà sinh ra thằng tôi chứ đâu có ơn nghĩa gì”. Trong khi cả nước theo Đảng tiến lên giành thắng lợi, Mẹ vẫn là một điều gì xa xỉ, xa vời và tiểu tư sản.” Dĩ nhiên, mẹ bị khinh thường thì cha cũng bị chối bỏ. Cố Giám mục Lê Đắc Trọng, giám mục phụ tá tổng giáo phận Hà nội, có kể lại chuyện xảy ra trong thời Cải Cách Ruộng Đất như sau: “Một phụ nữ đứng tuổi, rất thương người cha già chị săn sóc hằng ngày. Chị nói với bố: “Ông có biết tôi là ai không?” Người cha ngậm ngùi trước nhìn đứa con dứt ruột của mình mà nói: “Thưa bà, con là người đẻ ra bà ạ”. Lời thưa não nùng thảm thương, nhưng phải hỏi cái sức ma quỉ nào đó đã thúc đẩy người con chất vấn người bố như thế? Cứ đó mà luận ra những người khởi xướng”. (2)

Trước năm 1945 ở Miền Bắc và trước năm 1975 ở Miền Nam, đứa trẻ Việt nam nào cũng thuộc lòng bài học đạo đức vỡ lòng: “Công cha như núi Thái Sơn

Nghĩa mẹ như suối trong nguồn chảy ra

Một lòng thờ mẹ kính cha

Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.”

Sau năm 1945 ở Miền Bắc và sau năm 1975 ở Miền Nam, trẻ con Việt nam chỉ còn biết có “5 điều Bác Hồ dạy”:

Yêu tổ quốc, yêu đồng bào

Học tập tốt, lao động tốt

Đoàn kết tốt, kỷ luật tốt

Giữ gìn vệ sinh tốt

Khiêm tốn thực thà dũng cảm”

(Dĩ nhiên khiêm tốn và thực thà như Hồ Chí Minh-Trần Dân Tiên!)

Công ơn cha mẹ, ông bà tổ tiên được thay thế bằng “ơn Bác và Đảng”! Trẻ con được dạy “căm thù” và noi gương thứ đạo đức “dối trá” của người muốn làm “cha thiên hạ”.

Mỗi dạo tháng Tư Đen, tôi nhớ ngày mất nước, tôi nhớ mẹ tôi và tôi cũng nhớ đến bao nhiêu nỗi mất mát mà người Việt nam phải hứng chịu trong chế độ Cộng sản. Ngày nay, kinh tế có phát triển, những tiện nghi vật chất có được nâng cao, nhưng cái chủ nghĩa “tam vô” mà tôi đã học được ở bậc tiểu học ngày xưa vẫn còn đó. Không có chiếu chỉ cấm đạo, nhưng tự do tôn giáo hiểu theo đúng nghĩa của bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền và các công ước quốc tế về các quyền tự do cơ bản của con người, vẫn chưa được nhìn nhận và tôn trọng đầy đủ; các tôn giáo vẫn còn bị kìm kẹp và biến thành công cụ trong tay những kẻ vô đạo. Tổ quốc thân yêu vẫn còn bị những con người “vô tổ quốc” mang ra mặc cả đổi chác với ngoại bang. Nền tảng của gia đình là đạo đức chỉ còn là một lỗ hổng không đáy. Tựu trung, cái mất lớn nhứt của đất nước tôi chính là đánh mất cái linh hồn của dân tộc. Linh hồn ấy đã bị những kẻ chủ trương “tam vô” đem bán đi để đổi lấy quyền lực và tư lợi cá nhân.

Mỗi dạo tháng Tư Đen, tôi nhớ ngày mất nước, tôi nhớ mẹ tôi và tôi cũng nhớ lời mẹ tôi dạy dỗ. Có lần, một chủ bút của một tờ báo tại London, Anh Quốc gởi đến cho thủ tướng Winston Churchill một danh sách của những người đã từng là thày dạy ông và xin ông duyệt xét. Trong danh sách ấy, người chủ bút hỏi thủ tướng Churchill ai là người thày tuyệt vời nhứt của ông. Thủ tướng Anh trả lời: “Người đó là mẹ tôi.”

Mẹ tôi không được đạo đức như thánh nữ Monica để suốt một đời ăn chay và cầu nguyện cho con mình là thánh Augustino từ bỏ cuộc sống trụy lạc và trở về với đường ngay nẻo chính.

Mẹ tôi không được mẫn cán như bà mẹ của ông Mạnh Tử: thấy con học thói xấu nơi phố chợ liền dọn nhà về gần trường cho con học đòi nết tốt.

Mẹ tôi không được cương quyết như mẹ của ông Mahatma Gandhi để tuyên bố không nhìn mặt con vì tật nói dối.

Mẹ tôi cũng không được như mẹ của tổng thống Washington để ông luôn tìm đến ngồi bên cạnh mỗi khi gặp khó khăn trong công việc và cuộc sống.

Mẹ tôi cũng không được như mẹ của ông Phùng Quán thời Nhân văn Giai phẩm để có thể khuyên con:

“Con ơi,

Trước khi nhắm mắt

Cha con dặn con suốt đời

Phải làm một người chân thật

Con ơi, một người chân thật

Thấy vui muốn cười cứ cười

Thấy buồn muốn khóc là khóc

Yêu ai cứ bảo là yêu

Ghét ai cứ bảo là ghét

Dù ai ngon ngọt nuông chiều

Cũng không nói yêu thành ghét.

Dù ai cầm dao dọa giết

Cũng không nói ghét thành yêu.”

Mẹ tôi chỉ là một bà mẹ quê dốt nát thất học. Bà “đạo đức” theo kiểu “kinh kệ suốt ngày” mà tôi không thích mấy. Bà chẳng có lời vàng ngọc nào để lại cho tôi. Tôi chẳng thấy mẹ tôi có tài năng hay nhân đức nào để đề cao. Nhưng với tôi, cũng như với thủ tướng Churchill, mẹ tôi là người thày tuyệt vời nhứt của tôi, bởi vì tôi biết rằng bà dạy tôi nên người bằng cuộc sống vất vả hy sinh của bà. Cũng như mọi người mẹ Việt Nam bình thường khác, mẹ tôi đã hy sinh cả đời là để cho con cái được nên người.

Mẹ tôi chưa từng biết thế nào là Ngày Hiền Mẫu. Mẹ tôi mất quá sớm để tôi được đền ơn báo nghĩa. Nhưng tôi tin rằng bên kia thế giới, mẹ tôi hẳn phải mỉm cười mãn nguyện mỗi khi thấy tôi cố gắng sống cho ra người “chân thật”: không vì một chút bã quyền lực, danh lợi mà dối trá hay hãm hại người khác.

(1) Huy Phương, Nước Mỹ Lạnh Lùng, Nam Việt 2006

(2) Lê Đắc Trọng, Chứng từ của một giám mục, Diễn Đàn Giáo Dân, 2009, trg 383

]]>
COVID 19 CHẾ TẠO TRONG PHÒNG LAB http://thoibao.com/covid-19-che-tao-trong-phong-lab/ Fri, 01 May 2020 17:08:44 +0000 http://thoibao.com/?p=268952 Xôn xao một dạo chuyện thiên hạ đổ xô tin Covid-19 là sản phẩm của con người, tức nó được chế tạo bởi các khoa học gia phục vụ cho chế độ độc tài Trung Quốc với hy vọng tấn công nước Mỹ. Chuyện này đúng sai ra sao hẳn bạn còn nhớ, lúc Covid-19 […]]]>

Xôn xao một dạo chuyện thiên hạ đổ xô tin Covid-19 là sản phẩm của con người, tức nó được chế tạo bởi các khoa học gia phục vụ cho chế độ độc tài Trung Quốc với hy vọng tấn công nước Mỹ. Chuyện này đúng sai ra sao hẳn bạn còn nhớ, lúc Covid-19 mới xuất hiện, bạn đã từng đôi lần nghe về những câu chuyện có nội dung tương tự, Trung Quốc là bàn tay sắt bọc nhung sau biến cố đại dịch Covid-19. Lần này tin Trung Quốc chế tạo con Covid-19 lại trỗi dậy, chuyện ấy hư thực ra sao?
Tóm tắt phiên bản phổ biến mới nhất của sự kiện nóng này được khá nhiều báo đài cánh hữu phanh phui như sau. Trung Quốc được cho là đã tài trợ một phòng thí nghiệm cấu kết với một số khoa học gia nước ngoài, trong đó có cả một vị giáo sư nghiên cứu giảng dạy tại Hoa Kỳ. Kế hoạch của họ thật đáng sợ. Những con vi trùng được thiết kế. Sau đó chúng được vận chuyển ra khỏi phòng thí nghiệm, chuẩn bị kỹ, ship qua Mỹ. Và chẳng may trên đường vận chuyển con vi-rút “thần sầu quỷ khốc” ấy ra bến cảng trước khi vượt đại dương đến Mỹ ngang qua Vũ Hán thì gặp sự cố (tại đây có một vài phiên bản khá gay cấn xảy ra), kết quả, lượng vi-rút corona nguy hiểm ấy đã phát tán. Để bịt miệng truyền thông, thủ phạm gây ra Covid-19 được đổ cho tê tê, dơi, khỉ, chồn, cày cùng các loại ếch nhái rắn rết vốn bày bán ê hề tại các chợ hải sản ở Vũ Hán. Nghiễm nhiên các loài động vật này rơi vào họa Lệ Chi Viên khiến ba đời từ nay trở đi không ngóc đầu lên được.
Ngay lập tức hệ thống thông tấn xã vỉa hè thu thập và đánh bóng, sau đó phát tán nguồn tin động trời vốn chưa được kiểm chứng này khắp toàn cầu. Nhiều người Tây họ chỉ nói: Khả năng Trung Quốc chủ mưu vụ này cần được điều tra rõ trước khi kết luận. Còn những ai ghét Trung Quốc ra mặt thì họ bảo: Bọn này ác tâm thật, dám nghĩ đến chuyện đại nghịch bất đạo, trời không dung đất không tha. Cuối cùng rơi vào cảnh gậy ông đập lưng ông, rất đáng.
Theo giới nghiên cứu chuyên môn, con người chưa đạt khả năng tạo ra những vi trùng nguy hiểm như Covid-19. Nếu cho rằng các nhà khoa học thế giới nói chung, Trung Quốc nói riêng có khả năng nghiên cứu chế tạo những con vi-trùng quả nhiên chúng ta đã đánh giá họ quá cao, quá thông minh. Thực tế, nghiên cứu về thế giới vi trùng đã có. Thậm chí ta tạm tin giả thiết nhiều kẻ ác tâm luôn ngấm ngầm muốn trở thành bá chủ thế giới bằng vũ khí sinh học, song trình độ khoa học kỹ thuật hiện nay chưa đạt đến mức ấy.
Quay về nguồn gốc phát triển các hình thức vũ khí lịch sử loài người, ban đầu là gì? Nếu không là đấm đá chân tay thì là liệng đá và gậy gộc. Sau đó phát minh hơn thì nó cung tên, bẫy. Rồi kim loại ra đời, gươm đao xuất hiện. Sau đó là thuốc súng, là đạn pháo, rồi bom. Đó là thế hệ I bao gồm các loại vũ khí cơ học đầu tiên. Rồi dần dà phát triển hơn, người ta nghĩ đến thế hệ II bao gồm các vũ khí hóa học, vũ khí nguyên tử. Bước kế tới là thế hệ III vũ khí sinh học, tuy nhiên để đạt mức tinh xảo hiện nay tạm thời chưa thể có.
Thực ra vũ khí sinh học từng xảy ra trong lịch sử loài người, tuy nhiên nó chỉ xảy ra trong bối cảnh tình cờ ngẫu nhiên với một phiên bản hoàn toàn khác. Lấy ví dụ những tấm mền nhiễm khuẩn thời đầu lập quốc (biểu hiện thân thiện giao hảo người Da trắng tặng cho người Indian bản địa của Bắc Mỹ) khiến hơn 80 bộ tộc bản địa da đỏ biến mất trong khoảng thời gian 1900 and 1957. Bạn thấy, đó là vũ khí sinh học ở dạng tình cờ, âm thầm lén lút xảy ra khá tự nhiên. Trước đó còn có nhiều nạn đại dịch khác, chúng là vũ khí sinh học từ môi trường tự nhiên với sự có mặt của con người là phương tiện chuyên chở mầm bệnh giúp chúng phát tán nhanh chóng. Còn vũ khí sinh học nghiên cứu bài bản, sử dụng công khai như một hình thức vũ khí tấn công, bom sinh học như covid-19 xem ra còn phải một bước khá dài nữa mới đạt tới.
Theo ABC News, một bài báo với cái tít: Sorry, conspiracy theorists. Study concludes COVID-19 ‘is not a laboratory construct của tác giả Kate Holland, công bố dữ kiện từ các cuộc nghiên cứu đánh giá khẳng định rõ không có bất cứ cơ sở nào khẳng định Covid-19 là kết quả rò rỉ vi trùng từ phòng thí nghiệm.
Vẫn biết thế, thị trường tin tức mênh mông ngoài kia luôn thừa đất đứng cho các nguồn tin hư cấu hoặc những nguồn tin không rõ xuất xứ có dịp tồn tại phát triển. Chẳng có gì khó hiểu, tư tưởng gây hấn, cộng với óc tuyên truyền cố hữu, nay có thêm sự hỗ trợ của các kênh truyền thông mới, mạnh ai nấy nói; người nhẹ dạ vốn cả tin và thích nghe điều mình muốn nghe càng góp phần tạo cơ hội để các nguồn tin này có dịp bùng phát lây lan. Theo tác giả Kate Holland, công bố của Tạp chí Nature Medicine khẳng định Covid-19 không do vi trùng chế tạo trong phòng thí nghiệm. Theo đó họ không tin bất cứ trường hợp nào xác nhận vi trùng Covid-19 được chế tạo trong phòng gthí nghiệm đáng tin cậy.
Dr. Robert Garry, một trong số các tác giả của cuộc nghiên cứu, đồng thời là giáo sư của Trường ĐH Tulane University of Medicine cho biết quá nhiều nguồn tin xoay quanh vi trùng Covid-19 càng lúc càng sôi động khiến ông và nhóm nghiên cứu cảm thấy việc truy tìm nguồn gốc thực sự của con vi-rút Covid-19 là cần thiết.
Dr. Francis Collins, giám đốc Viện Sức khỏe Quốc gia NIH (National Institutes of Health) ủng hộ khám phá của cuộc nghiên cứu này. Theo chia sẻ của ông tại trang blog cá nhân, kết quả cuộc nghiên cứu lần này cho thấy có quá ít cơ sở chối bỏ nguồn gốc tự nhiên của con vi-rút Covid-19, tức cho rằng nó được chế tạo trong phòng lab..


Nhóm nghiên cứu của Dr. Robert Garry loại bỏ nghi vấn xuất xứ vi trùng Covid-19 do bàn tay con người chế tạo vì xác định rõ cấu trúc của chúng không liên hệ gì đến cấu trúc vi trùng thuộc các nhóm vi trùng coronavirus trước đây. Theo họ, vi trùng Covid-19 lần này là sản phẩm mới, kết hợp giữa các thế hệ vi trùng tìm thấy nơi loài dơi và những vi trùng khác từ loài tê tê vẩy sừng chuyên ăn kiến đã biến hóa trở thành con vi trùng khốc liệt lần này.
Phân tích cấu trúc hệ gien, Covid-19 rất giống với vi trùng coronavirus tìm thấy nơi loài dơi (so sánh mã gien giống nhau đến 96%). Theo Dr. Robert Garry, nhiều nhóm vi trùng coronavirus có khả năng kết hợp tạo thành các biến thể nguy hiểm; và lần này, chúng nhanh chóng trở thành nguồn gốc xuất xứ của đại dịch Covid-19 như đang thấy hiện nay.
Vẫn theo Dr. Robert Garry, đột biến gene của lớp màng protein bên ngoài của thế hệ vi trùng coronavirus mới (Covid-19) là nguyên nhân tạo ra hiện tượng lây lan chóng mặt hiện nay. Đồng thời giả thiết khác, một biến thể vi trùng corona với sức tấn công nhẹ hơn tồn tại từ nhiều năm qua, thậm chí có khi cách đây vài thập niên, ngấm ngầm phát triển trước khi có dịp bùng lên trở thành đại dịch Covid-19.
Để bảo vệ tính khách quan trong nghiên cứu, Dr. Robert Garry nói thêm nhóm nghiên cứu không biết bắt đầu từ khi nào quá trình đột biến gene cấu trúc protein tại bề mặt của con vi trùng Covid-19 xảy ra. Họ càng không thể khẳng định quá trình đột biến cấu trúc protein tại bề mặt thế hệ vi trùng coronavirus mới lần này có phải là nguyên nhân dẫn đến đại dịch. Bất luận một trong hai phỏng đoán này cái nào đúng, Covid-19 là sản phẩm của kết quả phát triển tự nhiên, hoàn toàn không do bàn tay con người can thiệp.
Vậy có phải chợ ướt (wet market) tại Vũ Hán là nguyên nhân dẫn đến đại họa Covid-19 lần này? Vẫn theo Dr. Robert Garry đó là một ý tưởng gây ra những hiểu lầm. Theo phân tích của nhóm nghiên cứu, xuất xứ của ổ bệnh có thể hình thành sớm hơn, tuy nhiên những gì nhìn thấy ở Vũ Hán dễ cám dỗ tin nó là gốc gác, song thực tế chưa hẳn đây là nguyên quán của chúng.
Vâng. Covid-19 một dạo từng được cho là do Trung Quốc sản xuất để đánh Mỹ. Tin này bạn đã nghe nhiều lần. Sau đó phản biện từ Bắc Kinh cho rằng Mỹ là nước ngấm ngầm sản xuất ra vũ khí sinh học với chủng vi trùng Covid-19 tấn công Trung Quốc trước. Mổ xẻ thêm, vi trùng cần có con vật trung gian để tồn tại, vi trùng không thể sống thiếu những động vật trung gian như dơi, tê tê, chồn, cày, chuột, thỏ, người… Nên giả sử có chế được bom sinh học thì chất nổ trong những quả bom sinh học chẳng lẽ được xếp vào kho để dành sử dụng khi cần sau này? Thành ra chế tạo và sử dụng những quả bom sinh học vi trùng xem ra không mấy khả thi. Hơn nữa nếu Trung Quốc muốn đánh bom sinh học vào Mỹ, đánh bằng cách nào đây? Ngược lại, Mỹ muốn đánh Trung Quốc bằng bom sinh học Mỹ, sẽ đánh làm sao? Cách duy nhất đánh bom sinh học là sử dụng các sinh thể chủ theo phương pháp truyền nhiễm, lây lan. Vậy, theo bạn, loại sinh thể chủ nào có thể giúp phát tán bom sinh học hữu hiệu nhất nếu không phải động vật và con người? Ai sẽ là những cảm tử quân đánh bom đây? Với chính sách visa cửa khẩu nhiêu khê, đâu phải cứ nói muốn thực hiện được là sẽ được. Nên chuyện bom sinh học bị nổ tại Vũ Hán trên đường vận chuyển ra hải cảng trước khi vượt đại dương đến Mỹ bị đặc công Mỹ phát giác, ra tay chặn đứng trước là chuyện khá viễn tưởng, rất Hollywood!
Kiến thức là sức mạnh. Phổ biến kiến thức là trách nhiệm, đặc biệt những kiến thức hữu ích đối với cộng đồng xã hội. Điều này cần đến khả năng thẩm định chắt lọc thông tin của mỗi chúng ta. Trường hợp Covid-19 có xuất xứ tự nhiên do vi trùng đột biến gene hay nó được Trung Quốc chế tạo trong phòng lab để tấn công kẻ thù là một ví dụ. Chuyện này cần có thời gian kiểm chứng. Vẫn biết chuyện này chẳng ảnh hưởng trực tiếp đến bao tử hay tài khoản ngân hàng của chúng ta, song công đạo và sự thật là điều mỗi người trong cần tôn trọng, đúng không thưa quý vị?

Nguyễn Thơ Sinh

]]>
Minh triết cho thời Cô Vi http://thoibao.com/minh-triet-cho-thoi-co-vi/ Fri, 01 May 2020 11:36:32 +0000 http://thoibao.com/?p=268722 Chu Văn Năm 1975, tôi trải qua một cơn bệnh thập tử nhứt sinh. Sau ngày Miền Nam rơi vào tay cộng sản, mấy ông bà du kích và bộ đội từ trong bưng và trên núi ùa về các thành phố, mang theo đủ thứ bệnh như lác đồng tiền, ghẻ hòm, hắc lào…và […]]]>

Chu Văn

Năm 1975, tôi trải qua một cơn bệnh thập tử nhứt sinh. Sau ngày Miền Nam rơi vào tay cộng sản, mấy ông bà du kích và bộ đội từ trong bưng và trên núi ùa về các thành phố, mang theo đủ thứ bệnh như lác đồng tiền, ghẻ hòm, hắc lào…và nhứt là sốt rét. Tháng Mười năm đó, lần đầu tiên trong đời, tôi cảm nghiệm được thế nào là sốt và rét: mỗi ngày, đều đặn và đúng giờ, cứ sáng một cữ sốt, tối một cữ rét. Đã rét thì có trùm một chục cái mền cũng vẫn thấy lạnh và run cầm cập. Còn nóng thì cả khối nước đá đắp lên người cũng chẳng ăn thua gì. Đây đích thị là bệnh sốt rét do mấy ông bà việt cộng lây cho tôi chớ chẳng còn ai khác nữa! Một ông y tá chuyên đi chích thuốc dạo, vốn là người thân của tôi, đã chuẩn đoán như thế. Đến một vài phòng mạch còn sót lại trong thành phố, tôi cũng được cho biết như vậy. May quá, ông y tá người thân của tôi còn trữ được một số thuốc chống sốt rét. Mỗi ngày ông đến chích cho tôi một mũi Quinimax. Ngoài ra, tôi còn được cho uống cả Fansida. Đây là loại thuốc được xem là hữu hiệu nhứt trong việc trị bệnh sốt rét. Nhưng trong 2 tuần lễ, bệnh tình của tôi vẫn không thuyên giảm, các triệu chứng nóng lạnh vẫn còn nguyên. Ngoài ra, tôi còn phải hứng chịu thêm một số biến chứng như bí tiểu, nấc cục và đứng tim. Ai cũng nghĩ “ngày giờ của tôi” đã đến. Nhưng còn chút nước còn tát, tôi được đưa vào bệnh viện để cấp cứu. Tại đây, một viên bác sĩ trẻ mà tôi mang ơn suốt đời, đã chuẩn đoán ngay rằng tôi bị thương hàn, chớ không phải sốt rét. Ông kê toa cho người nhà của tôi đi mua thuốc typhomycine về chữa trị. Như một phép lạ: chỉ trong một ngày triệu chứng sốt và rét biến mất. Sau 3 ngày nằm trong một bệnh viện trong đó cứ 3 người nằm chung một giường và nhà vệ sinh còn dơ hơn cả một chuồng súc vật, hoảng quá tôi xin được về nhà đề tiếp tục điều trị bệnh thương hàn.

Mỗi lần nghĩ lại cơn bệnh thập tử nhứt sinh ấy, tôi nghiệm ra một điều: vì thiếu hiểu biết mà kê toa không đúng thuốc, người ta có thể nếu không giết người thì cũng gây nguy hại cho sức khỏe với những hệ lụy có khi kéo dài suốt đời. Đây là điều đã xảy ra sau năm 75. Chợ trời mọc lên như nấm. Ở đâu cũng có các “quầy” thuốc Tây và không cần phải là bác sĩ hay dược sĩ, ai cũng có thể kê toa cho thuốc. Cho đến nay, cái lối chữa bệnh không cần chuyên viên y tế ấy vẫn còn thịnh hành ở Việt Nam. Cứ có một chút nhức đầu hay sổ mũi, người ta liền đi mua Amoxycillin về uống. Người ta đâu có biết rằng đây là một thứ thuốc trụ sinh. Nó giết vi trùng độc hại mà cũng tiêu diệt luôn cả những vi trùng tốt trong người, gây xáo trộn cho bộ máy tiêu hóa và cũng làm cho hệ thống miễn nhiễm của con người ra yếu nhược.

Nhìn về cách chữa bệnh mà không cần chuyên viên y tế ở Việt Nam, tôi không thể không nghĩ đến Tổng thống Mỹ Donald Trump. Dù có là thiên tài, thông minh và thông biết mọi sự đi nữa, Tổng thống Trump chưa bao giờ là một chuyên viên y tế. Vậy mà ổng vẫn ngang nhiên “kê toa” cho người ta chữa trị Covid-19 bằng thuốc Chloroquine, tức thuốc trị bệnh sốt rét. Tôi thấy lạnh cả người khi nghĩ lại hai tuần lễ trị bệnh thương hàn bằng thuốc sốt rét! Rồi mới đây, ông còn khuyên nên thử dùng thuốc sát trùng ngoài da bơm thẳng vào phổi để tiêu diệt Covid-19.

Nghe hãi hùng quá! Không biết sao cứ mỗi lần nghe tổng thống Trump làm “thày lang” kê toa cho thuốc, tôi lại nghĩ đến cảnh lên đồng trong làng tôi lúc tôi còn nhỏ. Cứ giữa trưa đứng bóng, nghe ở đâu có lên đồng là lũ trẻ chúng tôi kéo nhau đi xem. Gọi là đi xem, nhưng phải đứng thật xa, vừa theo dõi vừa run. Tuy đứng ở xa nhìn vào bên trong nhà có lên đồng, tôi vẫn thấy được một pháp sư trùm đầu bằng một chiếc khăn đỏ. Sau một hồi đọc thần chú hay tru tréo bằng một thứ ngôn ngữ không phải là tiếng Việt, thày đồng bắt đầu đổi giọng. Ai đó từ “cõi âm” nhập vào ông và truyền cho người nhà phải đi kiếm một thứ rễ cây hay pha một thứ nước gì đó để cho người bệnh uống. Dĩ nhiên, tiền mất tật mang. Chẳng có thần dược nào cả. Chỉ có người ngu dốt bị những kẻ lưu manh lường gạt mà thối!
Tổng thống Trump có lẽ chưa bao giờ chứng kiến một cảnh lên đồng như tôi lúc nhỏ đâu. Nhưng rõ ràng ông thường hay “bốc đồng”. Hễ cứ “linh cảm” điều gì ông liền phán ngay điều đó. Mà hầu hết những điều ông “linh cảm” đều sai sự thật và phản khoa học. Vậy mà rất nhiều “tín đồ” của ông vẫn tin và làm theo. Về hậu quả phụ của việc dùng thuốc Chloroquine để trị Covid-19, các chuyên gia y tế vẫn còn bàn cãi. Nhưng việc bơm thuốc sát trùng vào phổi thì có lẽ bất cứ học sinh tiểu học nào ở đâu cũng đều thấy được sự độc hại giết người của nó. Vậy mà khi “thày lang” Trump đề nghị cho thử bơm thuốc sát trùng vào phổi, vẫn có khối người đã làm theo. Thống đốc Tiểu bang Maryland, ông Larry Hogan, cho biết các đường giây nóng trong tiểu bang tràn ngập những cú điện thoại gọi đến để hỏi về việc sử dụng thuốc sát trùng để chữa trị Covid-19. Thống đốc Tiểu bang Michigan, bà Gretchen Whitmer cũng ghi nhận một hiện tượng tương tự. Riêng phòng y tế của thành phố New York cho biết: chỉ trong 18 tiếng đồng hồ sau khi Tổng thống Trump nói đến việc thử bom thuốc sát trùng vào phổi để tiêu diệt siêu vi Corona, đã có ít nhứt 30 người gọi đến để hỏi về công hiệu của thuốc sát trùng Lysol và các thứ thuốc tẩy khác (1).

Dĩ nhiên, Tổng thống Trump bảo: “Tôi không thể tưởng tượng lại có chuyện như thế”. Nhưng với tôi, chẳng có gì khó hiểu cả. Bất cứ lời nào thốt ra từ miệng ông cũng đều được những người sùng bái ông tin như kinh “kinh Tin kính” của Kitô Giáo. Ông bảo rằng ông không có bất cứ trách nhiệm nào trong việc để cho đại dịch Covid-19 lan tràn khắp nước Mỹ, các “ tín đồ” của ông tin đó là sự thật. Ông quy trách nhiệm và chửi Trung Cộng, Tổ chức Y tế Thế giới, Truyền thông, Đảng Dân Chủ, người ta cũng hùa chửi theo…Dù ông có nói dối như cuội, có bóp méo sự thật cỡ nào, có dựng lên bao nhiêu thuyết âm mưu, có nói trước chối sau đến đâu, có tuyên bố những điều ngớ ngẩn và phản khoa học nhứt…lúc nào cũng có người tung hê và phục lụy!

Thời đại dịch, được “ngồi yên” một chỗ nhiều hơn, tôi cố gắng động não để suy nghĩ bằng cái đầu và để cho lòng lắng dịu xuống hầu lắng nghe những lời minh triết và lẽ khôn ngoan của các bậc cao kiến. Đức Đạt Đai Lạt Ma khuyên tôi: trong thời đại dịch này hãy cố gắng thực thi sự cảm thông đối với mọi người. Không riêng những nhà lãnh đạo tinh thần, mà một số nhà lãnh đạo trên thế giới cũng dạy cho tôi những bài học xử thế đáng mang ra thực hành trong thời đại dịch này.

Tôi vẫn thắc mắc không hiểu tại sao những nước có tỷ lệ số người bị nhiễm và chết vì Covid-19 thấp nhứt thế giới đều là những nước được lãnh đạo bởi nhũng người phụ nữ như Thủ tướng Jacinda Ardern của Tân Tây Lan, Tổng thống Thái Anh Văn của Đài Loan, Thủ tướng Đan Mạch Mette Frederiksen, Thủ tướng Na Uy Erna Solberg, Thủ tướng Băng Đảo Katrin Jakobsdottir’s, Thủ tướng Phần Lan Sanna Marin và nhứt là Thủ tướng Đức Angela Merkel…Những người phụ nữ lãnh đạo quốc gia này đã thành công trong cuộc chiến chống lại Covid-19 vì họ luôn được dân chúng lắng nghe.
Theo tôi có lẽ mẫu số chung của sự thành công nơi những người phụ nữ lãnh đạo quốc gia này được làm nổi bật qua hình ảnh của bà Angela Merkel. Ngay từ lúc đại dịch bùng phát, bà dám nói lên sự thật khi cảnh cáo rằng sẽ có đến 70 phần trăm người dân Đức có nguy cơ nhiễm Covid-19. Khi ban hành những biện pháp nghiêm nhặt trong đó có việc hạn chế tự do đi lại, bà nhắc đến kinh nghiệm của những năm sống dưới chế độ cộng sản ở Đông Đức. Bà giải thích rằng bà rất trân quý tự do đi lại, nhưng vì sức khỏe và sự sống của mỗi người, mọi người đều có thể tạm thời hy sinh tự do ấy. Với bà, mỗi một cái chết trong thời đại dịch không phải là một con số vô hồn, mà là của “một người cha hay ông nội ngoại, một người mẹ hay bà nội ngoại, một người bạn tình…”

Là tiến sĩ hóa học lượng tử, nhưng Thủ tướng Merlel đã không dành sân lấn đất hay cướp micro của các chuyên viên y tế. Bà lãnh đạo đất nước trong thời khủng hoảng không chỉ bằng cái đầu thông thái của một nhà khoa học, mà còn bằng trái tim của một hiền mẫu. Người dân Đức đã có lý để gọi bà bằng tiếng gọi thân thương nhứt trong ngôn ngữ loài người là “mutti”, nghĩa là“Mẹ”. Người Mẹ nào mà chẳng xem sự sống của mỗi đứa con là quan trọng.
Xét cho cùng, xem mỗi một người có mặt trên “sân khấu cuộc đời” của trái đất này là quan trọng, tôi cho đó là minh triết thâm sâu nhứt trong thời đại dịch này. Tôi nghe được minh triết ấy từ miệng của một danh hài Mỹ là ông Stephen Colbert. Trong một lần trở về thăm trường cũ nhân ngày lễ mãn khóa hồi năm 2011, ông nói: “Một trong những điều mà tôi đã được dạy từ lúc còn nhỏ là: bạn không phải là người quan trọng nhứt trên sân khấu. Bất cứ người nào khác mới là người quan trọng. Và nếu họ là những người quan trọng nhứt trên sân khấu, thì dĩ nhiên bạn phải chú ý đến họ và phục vụ họ. Nhưng điều đáng mừng là bạn cũng có mặt trên sân khấu. Vậy thì đối với họ, bạn cũng là người quan trọng nhứt và họ sẽ phục vụ bạn” (2)

https://www.seniorsnews.com.au/news/hotlines-flooded-with-disinfectant-calls/4004591/
https://www.dw.com/en/opinion-the-coronavirus-wisdom-of-stephen-colbert-and-rousseau/a-53214270

]]>
Tiếng chim hót trong thời đại dịch http://thoibao.com/tieng-chim-hot-trong-thoi-dai-dich/ Fri, 24 Apr 2020 16:56:56 +0000 http://thoibao.com/?p=263329 Nếu như có bất kỳ tia hy vọng nào chúng ta nhận được từ trận đại dịch Covid-19 thì chắc có lẽ đó là bầu không khí toàn cầu bỗng dưng được cải thiện đáng kể kể từ khi dịch bệnh bùng phát khiến nhiều quốc gia bị đẩy vào tình trạng hầu như hoàn […]]]>

Nếu như có bất kỳ tia hy vọng nào chúng ta nhận được từ trận đại dịch Covid-19 thì chắc có lẽ đó là bầu không khí toàn cầu bỗng dưng được cải thiện đáng kể kể từ khi dịch bệnh bùng phát khiến nhiều quốc gia bị đẩy vào tình trạng hầu như hoàn toàn ngưng mọi hoạt động.

Lý do bầu không khí được trong sạch hơn là vì nhu cầu tiêu thụ năng lượng hoá thạch như xăng, dầu, than đá đã sụt giảm khá nhiều với các chuyến bay bị đình chỉ vô hạn định, các nhà máy và văn phòng đóng cửa, trong khi hàng tỷ người trên thế giới được khuyên là nên ở trong nhà và chỉ ra ngoài khi có việc cần thiết. Nhiều nhà nghiên cứu, nhiều tổ chức liên chính phủ cũng như nhiều nhà hoạt động hy vọng thế giới có thể rút ra được bài học từ vụ đại dịch để hiểu biết và ý thức hơn về tác động của con người đối với môi trường sống xung quanh.

Theo Trung tâm Nghiên cứu Năng lượng và Không khí sạch tại Thuỵ Điển, vụ bùng phát dịch bệnh vi khuẩn corona, bắt đầu tại Trung Quốc vào cuối năm ngoái, đã đưa tới hiện tượng lượng khí thải carbon giảm sút 25% trong khoảng thời gian bốn tuần lễ sau dịp Tết Âm lịch so với cùng thời gian này năm ngoái.

Trong khi đó tại Hoa Kỳ, theo công ty nghiên cứu giao thông INRIX, lượng xe tư nhân chạy trên đường giảm 30% trên toàn quốc trong ngày 20 Tháng 3 so với một tháng trước đó. Không khí sạch và bầu trời trong xanh hơn tại nhiều thành phố. Theo các nhà nghiên cứu tại Đại học Columbia, trong tuần lễ cuối Tháng 3, lượng khí thải tại thành phố New York đã giảm hơn 50% dưới mức trung bình. Tại miền nam California, theo Phân khoa Y tế Công cộng tại đại học UCLA, lượng bụi ô nhiễm trong không khí giảm 40% trong khoảng thời gian từ 16 Tháng 3 đến 6 Tháng 4.

Các vệ tinh quan sát trái đất từ ngoài không gian phát hiện thấy có sự giảm sút đáng kể độ đậm đặc của chất nitrogen dioxide gây ô nhiễm không khí, đây là chất xâm nhập vào bầu khí quyển do từ khí thải của xe hơi, xe tải, xe buýt và nhà máy điện. Sự sụt giảm trên xảy ra trùng hợp cùng thời gian khi mà các biện pháp ngăn cấm tụ tập đông người được áp dụng tại nhiều nơi trên thế giới. Ô nhiễm không khí có thể gây hại nghiêm trọng tới sức khoẻ của con người, và Tổ chức Y tế Thế giới ước tính những căn bệnh biến chứng do từ việc tiếp xúc với ô nhiễm môi trường – như đột quỵ, bệnh tim và các bệnh về đường hô hấp – giết chết khoảng 4.2 triệu người trên thế giới mỗi năm.

Không khí trong sạch hơn có lẽ mang lại cho người dân chút thở phào nhẹ nhõm tại một số nơi bị ô nhiễm nghiêm trọng nhất thế giới trong khi họ còn đang phải vất vả chiến đấu với con vi khuẩn corona, mặc dù cái thở phào này có thể chỉ ngắn ngủi tạm thời. Theo nhận định của giáo sư Marshall Burke thuộc Đại học Stanford, hiện tượng sụt giảm lượng hạt ô nhiễm trong không khí – loại ô nhiễm nguy hiểm nhất do hậu quả của việc ngưng hoạt động vì đại dịch có thể đã cứu sống khoảng 4,000 trẻ em và 73,000 người già tại Trung Quốc trong thời gian hai tháng khi chính quyền quốc gia này ra lệnh bắt buộc người dân phải ở trong nhà.

Trong thời gian qua, để tránh lây nhiễm, do lệnh của chính phủ mà cũng do ý thức được tình trạng nghiêm trọng, nhiều người đã ở trong nhà, và thêm nữa là hệ thống giao thông công cộng cũng cắt bớt dịch vụ – người ta nhận thấy tiếng ồn từ xe hơi, xe buýt, xe lửa và những loại vận chuyển khác đã giảm đi rất nhiều.

Trước khi xảy ra đại dịch, môi trường âm thanh tại quảng trường Kenmore, một giao điểm rất bận rộn gần Đại học Boston, thường được đo ở mức 90 decibels vào giờ tan sở. Trong mấy ngày gần đây, tiếng động âm thanh trong giờ tan sở được đo dưới 68 decibels. (Để có một so sánh cho dễ hiểu, tiếng ồn của xe điện ngầm chạy gần đó được đo ở mức 95 decibels là mức âm thanh mà nếu phải nghe ngày này qua ngày khác có thể gây tác hại cho màng nhĩ, và âm thanh của một cuộc nói chuyện bình thường là ở mức từ 60 đến 70 decibels.) Tại khu vực sân vận động Fenway Park cũng trong thành phố Boston, nơi được dùng cho một cuộc nghiên cứu về ô nhiễm âm thanh trong nhiều năm qua, thì gần đây cho thấy mức độ tiếng động giảm xuống chỉ còn 30 decibels, là một sự khác biệt rất lớn so với lúc trước khi đại dịch.

Người dân thành phố bây giờ có thể nghe thấy những thứ âm thanh mà trước đây thường bị những tiếng ồn khác che lấp mất. Như cô Rebecca Franks, một người Mỹ sống ở Vũ Hán, trung tâm của vụ bùng phát dịch bệnh vi khuẩn corona, đã làm một cuộc quan sát 48 ngày trong thời gian cách ly của thành phố, và đã kể lại rằng trước đây cô từng nghĩ là không có chim ở Vũ Hán, là vì hiếm khi người ta nhìn thấy chim và thường thì chẳng bao giờ nghe thấy tiếng hót. Nay thì cô biết là tiếng chim đã bị tiếng ồn của xe cộ và của người át đi. Bây giờ cô có thể nghe được tiếng chim hót vào buổi sáng, buổi trưa và buổi chiều. Đi bộ trên lề đường, cô còn nghe được âm thanh của tiếng vỗ cánh.

Sylvia Poggioli, phóng viên của đài phát thanh NPR tại Ý, đã tường trình cho biết các con đường ở Rome nay trống trơn và người ta có thể nghe được tiếng cút kít từ tấm bản lề của một chiếc cửa cũ và tiếng kêu chíp chíp của những con chim gần đó, một dấu hiệu đầu tiên của mùa xuân đang về.

Trên mạng xã hội Twitter trong những ngày gần đây nhiều người cũng nêu thắc mắc: Dường như dạo này tiếng chim hót có vẻ líu lo hơn thì phải, hay tại tai tôi có vấn đề? Với những đợt chim thiên di mùa xuân trong khu vực bắc bán cầu đang ở lúc cao điểm thì hẳn nhiên số chim xuất hiện trong thành phố cũng nhiều hơn. Nhưng đồng thời nhờ mức ô nhiễm âm thanh giảm nên người ta dễ dàng nghe được những tiếng kêu tiếng hót của chim non chim già mà bình thường chẳng thể nghe thấy vì tiếng ồn.

Điều kiện môi trường bớt tiếng động, có lẽ còn kéo dài trong vài tháng nữa cho tới khi đại dịch đi qua, được cho là một trong những tin vui hiếm hoi trong lúc này. Theo các nhà nghiên cứu, ô nhiễm âm thanh có thể gây ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ của con người, góp phần đưa tới những căn bệnh liên quan tới căng thẳng thần kinh, áp huyết cao, mất ngủ, và nhiều vấn đề sức khoẻ khác. Tuy nhiên, người ta cần có thêm nghiên cứu thì mới biết rõ hiện tượng giảm tiếng ồn trong thời gian này thực sự mang lại bao nhiêu lợi ích về sức khoẻ. Riêng với một số người dân sống trong thành phố, hiện tượng bớt đi tiếng ồn làm người ta nhớ lại một thời thanh bình thuở nhỏ nhiều thập niên trước, khi dân số trong thành phố thưa thớt hơn và xe cộ chạy trên đường cũng ít hơn.

Và không chỉ riêng loài chim, đối với một số loài động vật khác, hiện tượng bớt ô nhiễm âm thanh cũng là điều rất đáng mừng. Theo một một cuộc điều tra gần đây tại vùng duyên hải của Alaska và Florida, tiếng động dưới biển đã lập tức biến mất sau khi các tàu du lịch bị buộc phải ngưng hoạt động do đại dịch Covid-19.

Kết quả nghiên cứu cho thấy tiếng ồn từ tàu bè và các loạt vận tải hàng hải khác có thể làm tăng mức độ hormone gây ra căng thẳng trong các loài sinh vật biển, và có thể làm ảnh hưởng đến hoạt động sinh sản của chúng. Loài cá voi thậm chí còn cho thấy là chúng biết thích ứng với những tiếng động lớn, chẳng hạn chúng biết tạm ngưng tiếng hát khi có những con tàu chở hàng đang ở gần đấy và chỉ hát trở lại khi những con tàu này đi qua một quãng xa.

Sự thay đổi sinh thái biển bất ngờ do đại dịch mang đến đã khiến cho nhà nghiên cứu Michelle Fournet nhớ lại một thí nghiệm tình cờ xảy ra trong những ngày sau biến cố 11 Tháng 9 khi các hoạt động tàu bè trên vùng biển Bắc Mỹ bị ngưng lại trong nhiều ngày vì lý do an ninh. Các nhà nghiên cứu làm việc tại vịnh Fundy thuộc Canada, trước khi khủng bố tấn công đã ghi chép và thu thập được một số mẫu nghiên cứu, thì sau khi vụ khủng bố đã nhận ra rằng mặc dù chỉ trong ít ngày, khi tiếng động trong nước yên lắng, thì lượng hormone gây ra căng thẳng trong những con cá voi sống trong vịnh đã sụt giảm thấy rõ.

Đầu mùa xuân là thời gian khi loài cá voi lưng gù sống trong vùng biển Bắc Thái bình dương bắt đầu di chuyển về hướng bắc và nay mai sẽ sinh con trong khu vực tây nam của Alaska. Đây cũng là vùng biển bình thường rất nhộn nhịp với nhiều tàu du lịch đưa du khách tới ngắm cảnh và quan sát hoạt động của các loài động vật hoang dã trong vùng. Với trận đại dịch còn đang đe doạ khắp nơi và tình trạng ngưng hoạt động còn kéo dài thì mùa xuân năm nay là cơ hội để mẹ con loài cá voi lưng gù được bơi lội thoải mái trong sự yên lặng hiếm hoi của vùng biển tây nam Alaska.

Hoạt động của con người quả thật đã tác động rất lớn đến môi trường và có lẽ cũng gây phiền hà không ít cho thiên nhiên. Khi con người ngưng lại mọi hoạt động thì thiên nhiên có được chút cơ hội để nghỉ ngơi. Có thể nói, bầu trời trong xanh và không gian yên tĩnh là những mẩu tin vui ít ỏi trong thời đại dịch vậy.

Huy Lâm

]]>