Bạn Đọc Viết – Thời Báo Newspaper http://thoibao.com The Vietnamese Newspaper Canada Fri, 31 Jul 2020 14:33:43 +0000 en-US hourly 1 https://wordpress.org/?v=5.2.7 Chiến lược Mỹ “thoát Trung” của đảng Cộng Hòa. http://thoibao.com/chien-luoc-my-thoat-trung-cua-dang-cong-hoa/ Fri, 31 Jul 2020 14:33:43 +0000 http://thoibao.com/?p=302481 Nguyễn Quang Duy “Muốn bảo vệ tự do cho nước Mỹ và tự do cho Thế giới, Trung Hoa phải có tự do” chính là tóm tắt chiến lược “thoát Trung” được giải thích qua 4 bài phát biểu của 4 vị lãnh đạo hành chánh Mỹ gần đây. Mỹ thụ động và ngây thơ […]]]>

Nguyễn Quang Duy

“Muốn bảo vệ tự do cho nước Mỹ và tự do cho Thế giới, Trung Hoa phải có tự do” chính là tóm tắt chiến lược “thoát Trung” được giải thích qua 4 bài phát biểu của 4 vị lãnh đạo hành chánh Mỹ gần đây.

Mỹ thụ động và ngây thơ …

Ngày 24/6/2020, Cố vấn an ninh quốc gia Robert O’Brien nêu lên một sự thật phũ phàng là gần nửa thế kỷ qua các chính trị gia cả hai đảng, các nhà khoa bảng, nhà giáo dục, nhà báo, nhà kinh doanh Mỹ đều thụ động và ngây thơ (passivity and naivety) trước Trung cộng.

Người Mỹ không biết sự khác biệt giữa người dân Trung Hoa và đảng Cộng sản, một tổ chức theo chủ nghĩa Marxist-Leninist, mà Tập Cận Bình là hiện thân của Joseph Stalin.

Đảng Cộng sản không đại diện cho người dân Trung Hoa nên phải sử dụng bạo lực và tuyên truyền để kiểm soát cuộc sống của người dân, họ kiểm soát về kinh tế, về chính trị, về thể xác và quan trọng nhất là kiểm soát suy nghĩ của người dân.

Mỹ ảo tưởng khi Trung cộng giàu hơn, đảng Cộng sản sẽ thay đổi, người dân Trung Hoa sẽ được hưởng thành quả lao động và những giá trị tự do cũng như người Mỹ.

Trung cộng giàu hơn và mạnh hơn thì ngược lại đảng Cộng sản vi phạm nhân quyền thô bạo hơn.

Mỹ càng phụ thuộc vào thương mãi với Trung cộng thì Mỹ càng làm ngơ trước những vi phạm nhân quyền, quay đầu với những giá trị tự do của người Mỹ.

Khi Trung cộng giàu hơn, họ bỏ tiền tỷ, dùng ngay chính hệ thống giáo dục, truyền thông, mạng xã hội, điện ảnh Hollywood tuyên truyền về sự thành công của chủ nghĩa cộng sản, thay đổi cách suy nghĩ và cách sống của người Mỹ.

Đảng Cộng sản cho tin tặc xâm nhập những kho tài liệu cá nhân đánh cắp thông tin của người Mỹ để kiểm soát dân Mỹ cũng như họ đã kiểm soát người dân Trung Hoa.

Khi Trung cộng giàu và mạnh hơn, họ bỏ tiền mua chuộc các quốc gia nhỏ bé và kiểm soát các tổ chức quốc tế bao vây nước Mỹ, thực hiện tham vọng bá chủ thế giới.

Vì không hiểu chủ nghĩa cộng sản nên Mỹ tự bỏ cuộc hay thua cuộc chiến tranh ý thức hệ với đảng Cộng sản Trung Hoa.

Mỹ nhắm, bịt tai…

Ngày 7/7/2020, Giám đốc Cục Điều Tra Liên Bang Mỹ (FBI) Christopher Wray cho rằng người Mỹ không thể tiếp tục nhắm mắt, bịt tai trước mối đe dọa của việc Trung cộng dùng thủ đoạn gián điệp kinh tế và an ninh tình báo để vượt mặt Mỹ trở thành cường quốc số một trên thế giới.

Cuộc chiến chống gián điệp Trung cộng diễn ra trên mọi lãnh vực: từ chính trị, đến các ngành công nghiệp, nông nghiệp, khoa học, hàng không, robot, chăm sóc sức khỏe, xảy ra trên từng địa phương, từng đại học, từng cơ quan nghiên cứu, từng công ty Mỹ và ngay tại Quốc Hội Mỹ.

Trung cộng cho cả giải phóng quân trong vỏ bọc những khoa học gia đến Mỹ để đánh cắp thông tin về thuốc chủng ngừa dịch cúm Vũ Hán, do các Viện đại học và các Viện dược phẩm Mỹ nghiên cứu và phát triển.

Có khoảng 2,500 cuộc điều tra đang được FBI tiến hành về việc đánh cắp công nghệ Mỹ của tình báo Trung cộng và cứ mỗi 10 giờ FBI phải mở một cuộc điều tra mới chống lại tình báo Trung cộng.

Trung cộng vừa chiêu dụ vừa đe dọa người Mỹ gốc Hoa, cũng như tìm mọi cách gây ảnh hưởng trên các chính trị gia, các nhà khoa học, các nhà giáo dục, nhà báo, và dư luận Mỹ để phục vụ cho tham vọng bá quyền đi ngược lại quyền lợi của nước Mỹ.

Mỹ bị bao vây kinh tế và chính trị…

Ngày 16/7/2020, tại Bảo tàng Tổng thống Gerald Ford, Bộ trưởng Tư pháp William Barr nhắc đến việc 50 năm về trước hai Tổng Thống Nixon và Ford mở cửa giúp Trung cộng vực dậy nền kinh tế.

Nhưng thay vì cạnh tranh tự do và công bằng với Mỹ, Trung cộng đã sử dụng các chiến thuật thao túng tiền tệ, thuế quan, hạn ngạch, trợ cấp nhà nước, bán phá giá, tấn công mạng, trộm cắp trí tuệ và gián điệp kinh tế.

Trung cộng đã giết chết các công ty công nghệ Mỹ, xâm chiếm và thống trị thị trường Mỹ, buộc nước Mỹ lệ thuộc vào hàng hóa và chuỗi cung ứng của Trung cộng.

Trung cộng đã vượt qua Hoa Kỳ về sản lượng sản xuất trong năm 2010 và họ muốn xuất cảng chủ nghĩa tư bản nhà nước để xây dựng các chế độ độc tài trên thế giới.

Toàn cầu hóa không phải lúc nào cũng theo hướng thị trường tự do, thương mại tự do hoặc trao đổi ý tưởng tự do.

Các công ty điện ảnh Hollywood, đến cả Disney, trước đây là trung tâm của tự do sáng tạo, nhưng ngày nay vì lợi nhuận ngắn hạn trên thị trường 1.4 tỷ người Trung Hoa nên đã tự kiểm duyệt, đã cúi đầu khuất phục trước nhà cầm quyền cộng sản Bắc Kinh.

Công ty Cisco đã giúp đảng Cộng sản xây dựng bức tường lửa ngăn chận người dân Trung Hoa không vào được mạng lưới truyền thông toàn cầu Internet, các công ty Google, Microsoft, Yahoo và Apple đều đã cộng tác với nhà cầm quyền cộng sản.

Lãnh đạo nhiều công ty của Mỹ còn tự đảm nhận vai trò vận động hành lang và nhiều chính trị gia Mỹ đã tiếp tay ảnh hưởng tiêu cực đến quyền lợi nước Mỹ.

Trung cộng còn dùng tiền kiểm soát hoặc đồng tổ chức một số các viện nghiên cứu học thuật của Mỹ, hay tìm cách ảnh hưởng đến việc nghiên cứu và việc giảng dạy của các Viện Đại Học tại Mỹ.

Trung cộng tập trung quyền lực xây dựng một chủ nghĩa xã hội vượt trội hơn chủ nghĩa tư bản, sáng kiến MADE IN CHINA 2025 là một kế hoạch thống trị các ngành công nghệ thông tin tiên tiến, robot, hàng không và xe điện, sáng kiến “Vành đai, Con đường” và mạng toàn cầu 5G nhằm kiểm soát cơ sở hạ tầng cho các công ty nhà nước Trung cộng xây dựng mạng lưới bao vây Mỹ và thống trị toàn cầu.

Đã có lúc người Mỹ cần hiểu rõ sự thâm độc của Trung cộng, cần coi mình là người Mỹ, cần tự hào bảo vệ quyền lợi và giá trị tự do của Mỹ.

Chiến lược Trung Hoa tự do…

Ngày 23/7/2020, tại Thư viện Nixon tiểu bang California, Ngoại trưởng Mike Pompeo đã nói về cộng sản Trung Hoa và tương lai của Thế Giới.

Năm 1972 khi đi thăm Trung Hoa Tổng thống Nixon mong ước sự hợp tác giữa Mỹ với Trung cộng sẽ tạo ra một tương lai đầy tươi sáng cho thế giới.

Nên Mỹ đã giúp hồi sinh nền kinh tế đang trên đà sụp đổ của Trung cộng, nhưng đến nay kết quả là nhà cầm quyền Bắc Kinh đã ăn cháo đá bát phản bội thiện chí của Mỹ và các quốc gia tự do.

Ông Mike Pompeo tổng kết 3 bài phát biểu của Cố vấn an ninh quốc gia Robert O’Brien, Giám đốc FBI Christopher Wray và Bộ trưởng Tư pháp William Barr về mối đe dọa của Trung cộng đối với nền kinh tế và nền tự do của Mỹ và thế giới.

Ông nói ra một điều mà gần như người Việt thuộc nằm lòng là đừng nghe những gì cộng sản nói mà hãy nhìn những gì cộng sản làm (…communist China is to act not on the basis of what Chinese leaders say, but how they behave.).

Ông cho biết đã đến lúc phải thay đổi, nên vừa rồi Mỹ đã bác bỏ yêu sách đường chữ U của Bắc Kinh về Biển Đông và Bộ Quốc phòng đã gia tăng nỗ lực tự do hoạt động hàng hải ở Biển Đông, Biển Hoa Đông, và Eo biển Đài Loan.

Mỹ cũng đã ra lệnh trừng phạt các quan chức Trung cộng vi phạm nhân quyền, thu hồi tư cách đặc biệt của Hồng Kông về ngoại giao và thương mại, tuyên bố đóng cửa lãnh sự quán tại Houston vì đây là một trung tâm gián điệp và trộm cắp tài sản trí tuệ và đang cứu xét không cấp visa vào Mỹ cho các đảng viên đảng Cộng sản và gia đình.

Mỹ không thể bỏ qua các mối đe dọa của Trung cộng, nhưng không muốn đơn phương hành động nên kêu gọi các quốc gia có cùng chí hướng tạo thành một liên minh mới của các quốc gia tự do và dân chủ.

Mỹ đã nhận thức được sự khác biệt giữa người dân Trung Hoa và đảng Cộng sản, nhận thức được việc thay đổi Trung Hoa không chỉ là sứ mệnh riêng của người dân Trung Hoa, mà cả các quốc gia tự do cũng cần phải nỗ lực để bảo vệ tự do.

Đề tài tranh cử…

Cả bốn bài phát biểu được phổ biến trong mùa tranh cử và đều nêu lên một điều là nếu Mỹ không thay đổi Trung cộng, đảng Cộng sản chắc chắn sẽ thay đổi Mỹ và thế giới.

Ngoại trưởng Mike Pompeo cho biết chiến lược của Chính Phủ Donald Trump là Trung Hoa phải có tự do thì Mỹ mới bảo vệ được tự do cho chính mình và cho thế giới.

Ứng cử viên Joe Biden, một chính trị gia đã tham gia chính trị liên bang Mỹ từ 3/11/1970, từng trải trong việc hoạch định chính sách Mỹ-Trung, nên chắc rằng trong các cuộc tranh luận sắp tới sẽ cho chúng ta biết những nhận định cá nhân, cũng như chiến lược của đảng Dân Chủ Mỹ đối với một Trung cộng đang trỗi dậy muốn thống trị toàn cầu.

Nguyễn Quang Duy

Melbourne, Úc Đại Lợi

31/7/2020

]]>
Làng Tôi http://thoibao.com/301384-2/ Mon, 13 Jul 2020 21:21:04 +0000 http://thoibao.com/?p=301384 (Viết lại bài đã đăng năm 2016) “Làng tôi… có cây đa cao ngất từng xanh Có sông sâu lờ lững vờn quanh Êm xuôi… về Nam …” Con bé hát, tiếng trẻ hát vụng về, ngây thơ. Nghe thật dễ thương. Mẹ nó nghe vậy, hát theo con, cho nó vui. Con bé đưa […]]]>

(Viết lại bài đã đăng năm 2016)

Làng tôi…
có cây đa cao ngất từng xanh
Có sông sâu lờ lững vờn quanh
Êm xuôi… về Nam …”

Con bé hát, tiếng trẻ hát vụng về, ngây thơ. Nghe thật dễ thương. Mẹ nó nghe vậy, hát theo con, cho nó vui. Con bé đưa mấy chữ “về Nam” cuối câu cao vút lên, nên khi hát sang câu kế tiếp thì mẹ nó hết theo nổi. Trẻ con có giọng cao, lại có hơi, cứ thế hát tiếp:
Làng tôi…
bao mái tranh san sát kề nhau
Bóng tre ru bên mấy hàng cau
Đồng quê mơ màng!”

Bà mẹ đành phải nuốt chữ, ráng mà ừ ư thành âm, để hát theo con mình, cho đến hết đoạn kế, rồi ôm con cuời thật hạnh phúc.

– Con hát hay quá!
Thằng Hai thấy vui lây, tấm tắc khen con. Nó khen rất thật lòng. Tiếng trẻ thơ, nhất là con mình, cho dù có hát vụng về lạc giọng; cứ nghe sao hay chi lạ.
Nó cười đó, nhưng nhìn vợ và con mà nghe mình đang nao nao, nước mắt. Tội nghiệp, vợ nó có biết hát hò chi đâu. Bà ấy chỉ thích bài hát Làng Tôi, từ thời còn nhỏ, cái thời còn được sống ở Việt Nam. Bây giờ, chỉ còn nhớ lõm bõm giọng điệu, dạy cho con hát tiếng Việt mình cho vui, cho ấm nhà, cho mình đỡ nhớ quê hương. Con bé hát theo, riết rồi quen.
Có điều, hai mẹ con chỉ biết có bài Làng Tôi và hát được có bốn câu mà thôi. Rỗi rãi, con rủ mẹ hay mẹ rủ con, ê a cùng nhau hát. Cứ thế, hát đi hát lại. Nhưng có sao đâu! Nghe hoài nhưng thằng Hai vẫn chưa thấy chán. Chừng như, lần nào cũng thế, bốn câu hát đã hết, hai vợ chồng nó ngó nhau mà lẳng lặng một lúc. Cái gì đó như là bâng khuâng, xao xuyến, làm sao ấy. m hưởng của giai điệu và lời nhạc cứ bàng bang, mênh mang trong lòng người ly hương mình.
Thì cũng phải!
Năm 1952, bản nhạc Làng Tôi của Chung Quân đã đoạt giải Kim Chung, được chọn làm nhạc nền cho phim Kiếp Hoa, thắng các sáng tác của các bậc đàn anh và sư phụ, khi ông nhạc sĩ này mới mười sáu tuổi thì phải biết!
Hay thật, thằng Hai ngẫm nghĩ.
Hơn nửa thế kỷ rồi, chứ ít oi gì!
Bây giờ, bài hát Làng Tôi càng thấm thía, nát lòng người tha hương hơn.
Thằng Hai và vợ nó đều lớn lên ở thành thị. Hai đứa không biết nhiều về thôn quê, không có nhiều kỷ niệm sống và lớn lên trong thôn làng. Nó may mắn hơn, được năm bảy lần chi đó, theo cha về vườn, để thăm viếng mộ phần ông bà. Nhưng, mấy chữ “làng tôi”, giờ trên đất nước mình định cư, nghe sao… có cái gì đó thật gần gũi, hay hay, quyến luyến, trong lòng hai vợ chồng nó lắm.

Hồi trước, khi trong thôn vườn còn yên giặc; mùa nghỉ hè, mấy anh em nó theo cha mẹ về đó chơi, vài ba hôm mới trở lên tỉnh. Sau này, đêm xuống, thì làng mình thường bị cái đám quân xưng danh là “cách mạng”, mà bà con trong làng hay gọi xách mé là “đồ quỷ quái”, kéo về quấy rầy, phá nát yên bình của xóm làng. Đêm đấu tố và thủ tiêu. Họ lùng bắt và giết người rất là kinh hoàng.
Cứ xem, bà Năm ở Làng Bưởi, Hà Nội, chủ hiệu buôn Cát Hanh Long ở Hải Phòng, thì đủ biết cái dã tâm và man rợ của các đội quân này.
Bà Năm-Cát Hanh Long đã được “cách mạng” tâng bốc, đưa cho lên đến chín tầng mây; bà được phong tặng là “Mẹ chiến sĩ”, vì có công đóng góp tài sản cho quân cách mạng và nuôi ăn giúp đỡ cho những người sau này thành những bí danh, những cái tên rất là danh tiếng, đầy quyền lực trong đảng… Bà còn góp cả hai đứa con trai là Nguyễn Cát và Nguyễn Hanh, vào đội quân của “cách mạng”, và chính bà được phong cho làm Hội Trưởng Hội Liên Hiệp phụ nữ Việt Nam của tỉnh Thái Nguyên.
Và rồi quân “cách mạng” chiếm được miền Bắc của nước Việt Nam mình!
Rốt cuộc, cũng chính bà Năm-Cát Hanh Long “Mẹ chiến sĩ”, lại trở thành nạn nhân đầu tiên bị xử tử làm gương, theo chính sách vô cùng man rợ; gọi là “Trí-phú-địa-hào, đào tận gốc-trốc tận rễ”, của đảng và cái nhà nước “cách mạng” này.
Chính sách man rợ!
Quân man rợ giết người càng man rợ hơn!
Trong hồi ký Đèn Cù, tác giả Trần Đĩnh có ghi lại cuộc hành quyết bà Năm-Cát Hanh Long, cũng là bà “mẹ chiến sĩ” của “cách mạng”; qua lời kể của Tiêu Lang, phóng viên báo Cứu Quốc, thuộc đội quân cải cách như sau:
“Khi du kích đến đưa bà ta đi, bà ta đã cảm thấy có gì, nên cứ lạy van:
“các anh làm gì thì bảo em trước, để em còn tụng kinh.”
Du kích quát:
“đưa đi chỗ giam khác thôi, im!”
Rồi bà ta vừa quay người, thì mấy loạt tiểu liên nổ ngay sát lưng.
Mình được đội phân công ra Chùa Hang mua áo quan, chỉ thị thì là chỉ mua áo tồi nhất. Và không được lộ là mua để chôn địa chủ. Sợ nói như thế, sẽ đề cao uy thế, uy lực địa chủ mà. Khổ tớ, đi mua cứ bị nhà hàng thắc mắc: “chưa thấy ai đi mua áo quan cho người nhà mà cứ đòi cái rẻ tiền nhất.”
Cái áo quan mua được, thì giờ không cho bà ta vào lọt.
Du kích, mấy người bèn đặt bà ta nằm trên miệng cỗ áo, rồi nhảy lên vừa giẫm, vừa hô:
“Chết còn ngoan cố này! Chết còn ngoan cố này!.. Ngoan cố nổi với các ông nông dân không này?”
Nghe xương kêu răng rắc, mà tớ không dám chạy, sợ bị quy là thương địa chủ…
Cuối cùng bà ta cũng vào lọt, nằm vẹo vọ như con rối gẫy vậy!.”

“Trí-phú-địa-hào, đào tận gốc-trốc tận rễ”
Đó là khẩu hiệu kinh khiếp, trong thời “cải cách ruộng đất” của nhà nước.
Thầy Chín thừa biết thân phận của mình!
Mình làm nghề thầy giáo, thì bị đảng kết vào loại “trí”, tức là kẻ thù số một. Thầy được xếp tận trên cùng, thì chắc chắn phải bị “đào tận gốc, trốc tận rễ”. Đào và trốc kiểu này thì chết là cái chắc!
Cho nên, mấy năm sau này, thầy Chín chỉ còn ráng cầu may, ban ngày ban mặt, lén đạp xe về thăm viếng mộ cha mẹ mình, trong chốc lát rồi quay về tỉnh ngay.

Nhớ hồi đó, thằng Hai khoái được ngồi trên cái yên xe phía sau, cho thầy Chín đạp chở đi đây đó lắm. Chuyến đi về vườn thăm mộ ông bà, nó xa xôi nhất; được thầy Chín chở cho đi chơi lâu như vậy, nó chịu lắm. Rời thành phố càng xa, xe cộ càng thưa vắng hơn. Khung cảnh hai bên đường yên bình, tươi vui với ruộng đồng mênh mông, cùng các rặng cây xanh. Nắng mùa Hè như dịu mát, dễ chịu hơn. Nét đẹp hiền hòa, đơn sơ, từ ngọn lúa, lá tre xôn xao trong gió, đến con đường mòn khúc khuỷu, bên dòng sông quanh co êm đềm uốn lượn.
Đây, làng tôi!

Làng tôi…
có cây đa cao ngất từng xanh.
Có sông sâu lờ lững vờn quanh
êm xuôi về Nam.
Làng tôi…
bao mái tranh san sát kề nhau.
Bóng tre ru bên mấy hàng cau.
Đồng quê mơ màng!

Thế rồi!
Một lần về thăm vườn, thằng Hai không hiểu hết ngọn ngành, nhưng biết là lần này chỉ đi đến chợ làng mà thôi.
Nó thấy thầy Chín nói chuyện với mấy người trong làng, bên dưới đoàn ghe chạy trốn Việt cộng, đậu cập bờ sông. Rồi thầy quay chiếc xe đạp hướng về thành, bảo nó:
– Mình về nhà, con!
Thằng Hai nghe lời cha, leo lên yên xe ngồi.
Hồi đi vui bao nhiêu, bây giờ quay về buồn bấy nhiêu. Buồn còn hơn thế!
Thấy thầy Chín yên lặng đạp xe, nó cũng không còn thấy gì vui. Thầy Chín đạp xe về trông buồn quá, nó không dám nói hay hỏi han chi thêm.
Cũng từ mùa hè năm ấy!
Đó là lần sau cùng về thăm vườn, mộ phần ông bà. Từ đó, thầy Chín không còn đạp xe chở nó về vườn chơi được nửa.

Thật vậy!
Sáu mươi tám năm rồi, chứ ít oi gì, lời bài hát “Làng Tôi” bây giờ càng thấm thía, nát lòng người tha hương hơn.

Nhưng than ôi!
Có một chiều Thu, lá thu rơi.
Có một chiều Thu, lá thu rơi.
Ôm súng nhìn quê, tôi thầm mơ bóng… ngày về.

Mơ trông… bóng ngày về.
Quê tôi, chìm chân trời mờ sương.
Quê tôi, là bao nguồn yêu thương.
Quê tôi, là bao nhớ nhung se buồn.
Là bao vấn vương…
tâm hồn…
người bốn phương.”

Vậy đó!
Hơn 45 năm rồi!
Thằng Hai nôn nao mơ một ngày về.
Ngày về thăm lại “làng tôi”, với tro tàn của thầy Chín.
Nó mơ một ngày:
Đêm tàn, ngày rạng,
Rực nắng ban mai.
Con đường tôi về,
Có hàng phượng đỏ,
Mùa hè thắm tươi,
Áo trắng học trò,
Chân bước tự do!

Hè 2020
Bùi Đức Tính

]]>
Sao Em Không Đến? http://thoibao.com/sao-em-khong-den/ Sat, 20 Jun 2020 01:33:57 +0000 http://thoibao.com/?p=299831 Tựa đề: dựa theo hình bìa nhạc Sao Em Không Đến – Hoàng Nguyên (1965) Bùi Đức Tính Bên ngoài, trời chưa sáng hẳn. Nhịp sống của một ngày mới, đã khởi động nãy giờ, giờ có phần nhộn nhịp hơn. Tiếng xeđạp cót két chạy qua, tiếng xe gắn máy kinh động yên tỉnh […]]]>

Tựa đề: dựa theo hình bìa nhạc Sao Em Không Đến – Hoàng Nguyên (1965)
Bùi Đức Tính

Bên ngoài, trời chưa sáng hẳn. Nhịp sống của một ngày mới, đã khởi động nãy giờ, giờ có phần nhộn nhịp hơn. Tiếng xeđạp cót két chạy qua, tiếng xe gắn máy kinh động yên tỉnh của ban mai, tiếng dép lẹp xẹp, hòa với gánh hàng kẽo kẹt trên vai. Đêm sau cùng, màbọn tôi được nằm ngủ như là một thường dân,rồi cũng đã qua đi, qua đi chóng vánh.Chỉ thêm vài giờ, chúng tôi sẽ tập tành bước vào đời lính.Tôi ráng nằm yên cho bạn bè ngủ. Tưởng chỉ có mình không ngủ thêm được, nghe tiếng động kế bên, tôi ngó qua, thấy Vẹn đã thức, đang ngồi bó gối. Lăn qua, tôi vói tay lấy gói thuốc hút và cái hộp quẹt bên gối nằm, định rủ Vẹn đi ra ngoài, thì thấyhai thằng Phát bên cạnh tôi, cũng lục đục ngồi dậy theo Vẹn. Chẳng ai bảo, bọn tôi ngó sang Cang đang còn cuộn mền nằm, ái ngại, ráng giữ yên lặng cho bạn mình ngủ.Tạm trú nơi nhà trọ của Cang, không muốn làm phiền bạn mình nhiều; bốn đứa tôi nhón chân, nối nhau rón rén đi nhẹ ra cửa.Không dè, Cang cũng nghe. Cangchoàng tỉnh, lồm cồm ngồi lẹ dậy, lo lắng, hỏi nhanh:
– Đi à?
Nghe tiếng Cang, chúng tôidừng lại, trấn an bạn mình:
– Chưa đâu, …còn sớm mà!
– Ngủ tiếp đi Cang. Hồi hôm, mày thức học trễ quá đó.
– Vậy,… tao nằm thêm một chút …
Cang nói, rồi nằm vùi xuống, tay kéo mền lên tận cổ, dặn dò:
– Chừng nào đi… nhớ gọi tao dậy…
– Ừ, đừng lo… gọi mày mà!
Phát ân cần hứa hẹn thêm cho Cang yên tâm:
– Chừng nào mày đi học, tụi tao mới rời nhà luôn thể.

Yên bình còn đọng lại trong buổi sáng sớm,mong manh, chực tan biến; dễ làm cho người ta ngần ngại khuấy động. Ánh đèn loáng thoáng từ các nhà chung quanh, có người cũng thức dậy rồi.Khu bình dân, trong hẻm, nhiều người phải dậy sớm lo miếng ăn, cho mình, cho gia đình, để rồi đi làm.Chúng tôi ngồi ngoài hàng ba, hút thuốc, rù rì nói chuyện; tránh làm phiền trong nhà và hàng xóm.Trái đất trông như di chuyển nhanh hơn vào buổi sáng. Hôm nay, trời có vẻ sáng nhanh hơn, hay thời gian bay qua nhanh hơn. Mới đó, trời đã thấy sáng hẳn ra. Từ bên trong ra đến ngoài đầu hẻm,chốc chốc lại nghe tiếng xe, tiếng người rời nhà.

Nghe có tiếng động bên trong nhà.Bọn tôi ngó nhau, đoán là Cang đã dậy.Ồn ào thế này, có muốn nằm nướng thêm, cũng khó mà yên giấc.Thấy Cang mở đèn trong nhà, Vẹn ngồi gần, vói taykéo hé cửa, ló mặt vào nhìn xem, rồi lên tiếng thăm hỏi:
– Đi học sớm hả?
Ngủ thêm một lúc, bạn mình có vẻ tỉnh táo hơn.Tiếng Cang vui vẻ:
– Đi!… tụi mình ra quán chú Hy kiếm cà phê!
Nghe vậy, chúng tôi vui lắm.Còn gì bằng, có thời gian chuyện trò để chia tayvới Cang,trước khi bạn mình đi học và chúng tôi đi trình diện nhập ngũ. Đi lính mà!Nghe kinh nghiệm quân trường từ hai cậu tôi, bốn đứa tôi chỉ mang theo một bộ quần áo, nên không có gì phải thu dọn lâu lắc. Bửa nay, gởi bộ đồ ấy ở nhà trọ của Cang, hành trang lên đườngcủa chúng tôi càng thêm nhẹ nhàng, chỉ còn áo thung, quần ngắn,vài vật dụng vệ sinh cá nhân.Tôi ngần ngừ, rồi cũngbỏ quyển “Mơ Thành Người Quang Trung” của Duyên Anh vào túi. Quyển sách chỉ có mười một chương ngắn; chuyện của tuổi thơ, với những Chương còm, Hưng mập, Dzũng Ðakao, Quyên Tân Định, Bồn lừa,Ngân quăn,… Đọc nhiều lần rồi, tôi mang theo hờ, để có cái gì đó mà đọc cho khuây khỏa.

Đeo cái túi nhỏ lên vai, bốn đứa tôi theo Cang đira quán chú Hy.Quán cóc, ngoài đầu hẻm.Giống như các quán nhỏ trong xóm, trong khu phố; chủ, khách, bàn, ghế… đều bình dân, giản dị.Cái bếp chiếm mất một khoảng gần hai bàn, chỉ còn chỗ cho năm cái bàn để khách ngồi.Thấy cách chào hỏi nhau,thì biết ngay, hầu hết là khách quen.Kháchtrong đây còn quen mặt nhau. Người ta kéo ghế ngồi chung bàn, như là có hẹn nhau, chuyện trò rộn rã.

Cà phê Sài Gòn, cũng như cà phê tại các tỉnh thành ở miền Nam mình,có nhiều loại, nhiều hạng.Cótiệm quán thượng lưu, với cà phê phin thong thả rơi từng giọt nhàn hạ.Quán cà phê có nhạc,thường là nơi quyến rũ người thêu dệt mộng mơ, nơi ôm ấp lãng mạn, với những mối tình đơm hoa kết trái. Nhưng rồi, lúc thực không như mơ, người ta đến đây chỉ để dò tìm lối đi trong kỷ niệm, để ngẩn ngơ, tiếc nuối… và rồi lại dệt mộng, ước mơ. Có khi, anh đã chọn ra đi, rời con đường học trò, với những ngày Thủ Đô tưng bừng phố xá, mang nặng hành trang, chẳng mong ngày về. Và người,một thời với con đường học trò, trở lại quán, không phải để tìm cà phê;lắm lúc, chỉ muốn tìm về Chủ Nhật uyên ương, để uống ly chanh đường, uống môi em ngọt.

Quán chú Hy, giống đa số quán bình dân, chuyên bán cà phê pha bằng vợt. Bếp pha cà phê của chú Hy cũng giản dị, với ba lòchụm bằng củi, vài cái siêu đất nung, ấm nhôm, bình trà…Cang nói, quán chú Hy mở cửa sớm. Từ năm giờ sáng, bếp đã đỏ lửa để đun nước sôi pha cà phê phục vụ khách. Để giữ hương vị, vợt pha cà phê không được giặt bằng bột giặt hay thuốc tẩy. Mớ vợt sạch, sẵn sàng để dùng, máng bên trên bếp,đều thâm màu cà phê. Cà phê mỗi quán có hương vị khác nhau.Cái thơmngon khác nhau là ở cách pha,cách chọn lọc bộtcà phê; theo khám phá, theo kinh nghiệm của từng quán.Người phadùng nước sôi để trụng sạch vợt, rồi mới chobột cà phê xay nhuyễn vào. Sau đó, nhúng vợt có cà phê vào siêu nước đang sôi, lấy muỗng khuấy đều vài lần, rồi đậy nắp siêu lại, nấu thêm khoảng năm đến mười phút cho cà phê thấm dần; để tạo nên những bình cà phê, với hương vị đặc biệt của quán mình.Khi cà phê trong siêu đã được nấu cho hòa tan đến độ ngon như ý xong, chú Hysangmột phần vào cái ấm nhôm,cho nguội dần, để dùng làm các món cà phê có đá. Phần cà phê còn lại, chúgiữ trong siêu đất, đặt sang cái bếp than có lửa nhỏ, để giữ nóng, dùng cho món cà phê đen và cà phê sữa nóng.

Từ ba hôm trước, lần đầu theo Cang bước vào quán chú Hy, thấy mấy cái siêu đất trên bếp, là chúng tôi có cảm tình với cà phê của chú. Nhiều quán, chỉ dùng ấm pha bằng nhôm. Pha bằng siêu đấtnhư chú Hy, mới có được chất cà phê vợt thơm ngon độc đáo. Đây làloại siêu chuyên dùng để nấu thuốc bắc,làm bằng đất nung, có vòi và cán cầm chếch xéo lên cùng một hướng.Loại siêu đất này giữ độ nóng và nóng đều, giúp cho bột cà phê trong vợt hòa tan, đậm đà cả hương lẫn vị. Cà phê phin có phong cách sang trọng riêng, dành cho khách có tiền và thừa thời gian.Cà phê vợt thì bình dân hơn,pha sẵn, giá cũng bình dân, dành cho người lao động có íttiền và thời giờ rỗi rãnh. Chỗ pha cà phê vợt thường trông không đẹp mắt cho lắm; mấy cái vợt vải thâm màu cà phê, siêu đất thì màu men vàng nâu bên ngoài bị ám khói đen đủi.Thế nhưng, chính nhờ cái vợt, cái siêu, cách pha chế công phu, đúng điệu và cầu kỳ ấy, đã làm người thưởng thức ly cà phê vợt, sẽ cảm nhận đượchương vị thơm ngon đặc biệt, mà các kiểu pha khác không có được.
Buổi sáng qua nhanh, mang theo hươngvị cà phê và lời tạ từ.

Cang phải đi học. Bốn đứa tôi đến Quân Vụ Thị Trấn làm thủ tục nhập ngũ. Tuổi học trò của chúng tôi, từ đây bắt đầu rẽ ngoặc sang lối vào quân trường. Từ cổng vào, Cổng Số Một, trong phút chốc tuổi trẻhọc được bài học vỡ lòng đầy ý nghĩa; đó là biết đáp lời: “Sẵn Sàng!”. Đàn em sẵn sàng theo đàn anh, để trưởng thành.Thành người lính và nhận lãnh “Trách Nhiệm”.

. . .

Không ai dừng vòng quay của thời gian được!

Rồi cũng đến ngày rời quân trường.Mấy tuần cuối khóa thật bận rộn.Đến ngày nghỉ cuối tuần, chúng tôirủ nhau đi ra Khu Tiếp Tân.Không có ai đến thăm viếng. Chúng tôi chỉ muốn lang thang, nhìn ngắm khung cảnh thân ái, gia đình đoàn tụ, dù ngắn ngủi, thêm một lần sau cùng. Mai này, chắc là khó có dịp, hay sẽ không bao giờ còn trở về nơi đây.
Vào tháng ngày cuối khóa huấn luyện, các khóa đàn em đều để ý và chào kính với tình cảm, khi gặpnhững đàn anh sắp rời quân trường.Đồng thời, chúng tôi cũng dễ dãi;chuyện hướng dẫn hay phạt vạ đàn em, đã có các khóa đàn anh khác lo. Nhất là ngày Chủ Nhật, trên lối vào Khu Tiếp Tân, lòng mình như trãi rộng ra, bốn đứa tôi không lưu tâm đến chào kính của các khóa đàn em cho lắm. Thấy chào thìđứa đi bên ngoài, chào đáp lễ theo nghi thức, và bọn tôi bình thản bước đi.
– Huynh trưởng!
Chợt nghe có tiếng gọi sau lưng.Thường thì, chỉ có đàn anh gọi giật ngược để chỉnh đàn em.Bốn đứa tôi ngạc nhiên, cùng dừng chân và quay lại.Anh sinh viên khóa đàn em, còn đứng nghiêmnhìn chúng tôi,ân cần:
– Huynh trưởng!… Ra đơn vị nhiều may mắn!
Tình quá!
Chúng tôi bước sang bên kia đường, bắt tay cám ơn anh.
Buổi sáng, giờ thăm viếng còn dài. Chỉ có những khóa sinh “mồ côi”, không người thân yêu thăm viếng, mới trở về doanh trại sớm.Bước nép vào bên lề đường, cho trống lối di chuyển chung, Vẹn thân mật thăm hỏi:
-Anh đã xong tiếp tân rồi à?
-Thưa Huynh trưởng, tôi không có ngườithăm… Đi xem chơi vậy thôi.
– Anh tính về trại?
– Thưa chưa. Tôi tính đi xuống Khu Gia Binh… kiếm quán ngồi nghe nhạc.
Không có ai để hẹn hò, hay hẹn mà không đến, cũng là chuyện thường tình, trong quân trường.Tình đời trong thời chiến mà.Chẳng có gì đáng thắc mắc cho lắm.Nghe vậy, tôi ngó các bạn mình hỏi ý:
– Mình cùng xuống Khu Gia Binh?

Còn nhiều thời gian, xuống Khu Gia Binh kiếm cà phê uống trước, rồi quay lạithăm Khu Tiếp Tân sau, cũng được.Chúng tôiđồng ý, cùng đi kiếm quán để ngồi chuyện trò với nhau.Phát đi ngoài hàng làm trưởng toán.Toán năm người, đàn anh cùng đàn em, thêm một lần bên nhau.Trong đây, còn đó Vũ Đình Trường ngợp nắng, Đại Giảng Đường, doanh trại,…Và rồi, tất cả,sẽ chỉ còn trong kỷ niệm. Đi qua Vũ Đình Trường, kế tiếp bên trái là Câu Lạc Bộ Sĩ Quan.Qua bên kia đường là Khu Gia Binh, nơi tập trung các thứ hàng quán. Quanh quân trường có nhiều tiệm quán lắm.Quán ăn, quán cà phê,tiệm bán các thứ vật dụng sinh viên cần, tiệm may sửa quân phục….

Bên khu Thiết Giáp cũng có nhiều tiệm quán, và cũng có vài quán là nơi để tương tư, thầm nhớ. Nơi mà,cho dù có tốn tiền cà phê, bỏ phí cả tháng trời dài,thường chỉ được ôm ấp nụ cười và mấy tiếng“em chả…!” mà thôi. Đối diện Nhà Bàn, khu nhà ăn cho sinh viên thụ huấn, có một quán cà phê, với người trong quán cũng là người trong mộng, đã ru hồn nhiều chàng tuổi trẻ còn thích vướng víu mộng mơ.Khu Gia Binh cũng thế, nơi nào cũng thấynhững cây si mới trồng.Có cây, lá còn tươi rói.Có cây, lá chưa kịp tươi đã héo úa.Sau cơm chiều,khóa sinhđược tự do cho đến giờ đi ngủ; coi vậy mà ngắn lắm.Lại thêm, đèn màu quyến rũ, nhạc bập bùng, hoa khoe sắc thắm, hồn bồng bềnh phiêu lạc.Không phải chỉ có đàn em, đàn anh cũng lạc lối, quên đi thời gian, chạy về trể giờ tập họp điểm danh tối của Đại đội là thường.Thế nhưng, hoa nơi đây, không phải chỉ có hồng, mà đào, lài, cúc, huệ, sen,…ngay cả Vân hay Mây, Lệ hay… nước mắt; ít nhiều đều có gai hết. Gai nào cũng làm trầy xước được hết. Chỉ có khác nhau cái tầm mức đau rát hay độc hại mà thôi. Thời chiến, khó lường được, đâu là tình yêu, đâu là cạm bẫy.Vào tiệm quán, mình chỉ nên ngó qua, để biết đời còn có sắc màu, có hương thơm, có lụa là thưa mỏng đầy quyến rũ; chớ không phải chỉ có bộ quân phục, chỉ nồng nàn mồ hôi, hay chỉ có những thân thể cháy nắng thành đen sạm.

Chừng như, cái chất lính cũng hòa nhập vào tiệm quán nơi đây.Quán bán cho tuổi trẻ đang tập tành làm lính, đều có phương pháp, nhuần nhuyễn, nhanh lẹ.Bước vào cửa, gọi thức uống, trả tiền, nghe tiếng nói và ngắm nụ cười chào đón, ngồi xuống bàn, đốt xong điếu thuốc, là thấy có người đẹp mang ly cà phê tới bàn.Từ dàn máy Akaii đồ sộ trong quán, cuốn băng nhựa quay vòng chầm chậm, đưa tiếng ai đó đang hát “Sao Em Không Đến” chan hòa trong không gian mù mờ khói thuốc.Bài hát kể chuyện hẹn hò của anh chàng khóa sinh;chuyện đi phép chiều thứ Bảy, nhưng nàng không lại, để chàng đứng ngẩn ngơ trong quân trường, “đếm từng chiếc lá thu bay…” mà ước mong “tôi còn có em”.Chuyện mất, chuyện còn, là chuyện bình thường trong đời lính; lính trận càng thấm thía chuyện đời mình hơn.Sáng nay, đã sang ngày Chủ Nhật rồi, nhưng chuyện hẹn hò từ chiều thứ Bảy của ai đó, sao vẫn nghe vương vấn trong lòng.

“Đời tôi, từ ngày khoác áo chiến binh lên đường,
thấy rằng lòng mình đã bớt vấn vương.
Chiều nay, lòng chợt thấy nhớ thương em,
Thương về mái tóc êm đềm buông dài ấp kín hồn em…

Tôi mong em đến tuần sau thứ Bảy,
Cho tôi không còn tìm áo ai bay,
Cho tôi không còn đếm bước âm thầm
những chiều em không đến thăm,
Vì tôi biết tôi còn có em…”

Gần bên Câu Lạc Bộ Sĩ Quan và lối vào Khu Gia Binh cũng có cây soan.

Chắc đâylà cây soan già,trong“Sao Em Không Đến” của nhạc sĩ Hoàng Nguyên.Tác giả cũng thụ huấn cùng quân trường,năm 1965.
Vào quân trường, chiều thứ Bảy được đi phép; cho dù không ngóng tìm hình bóng người thương, lời nhạc nghe như viết riêng cho từng khóa sinh, cho chính mình.

“Tôi mong em đến tuần sau thứ Bảy!”

Có những ước mong nghe như tầm thường, nhưng hãy còn quyến luyến, đong đầy kỷ niệm, như ngày nào tuổi trẻ chợt hiểu được và biết thấm thía với hai chữ: Anh đi!
Cho dù đã gần năm mươi năm sau,“Sao Em Không Đến”, lời hátvẫn mênh mang đưa người lính ngày xưa, trở về với một thời tuổi trẻ, với thao trường còn vang tiếng gọi.Nhất là với tiếng hát của bạn mình, Phạm Đức Nghĩa.Anh không phải là ca sĩ chuyên nghiệp.Lính hát lính nghe.Nghe chính bạn mình đàn hát, có cái gì đó khác hẳn, đầy ấp thân tình.
Quân trường.
Bạn bè tôi.

… nghe lòng thương thương nhớ nhớ.
Một thời để nhớ và không thể quên!

19-06-2020
Bùi Đức Tính

]]>
Tiễn biệt chị Bạch Nga http://thoibao.com/tien-biet-chi-bach-nga/ Tue, 09 Jun 2020 15:00:30 +0000 http://thoibao.com/?p=299231 Như cơn sóng dữ gây kinh động toàn thế giới, đại dịch coronavirus đã hủy diệt ngót 400 ngàn sinh mạng nhân loại, mà trong đó, Người Chị tâm thiền đạo hạnh của chúng em đã không thoát khỏi vòng vây của tử thần Covid-19. Ôi ! đau đớn biết bao ! Hôm nay, theo […]]]>

Như cơn sóng dữ gây kinh động toàn thế giới, đại dịch coronavirus đã hủy diệt ngót 400 ngàn sinh mạng nhân loại, mà trong đó, Người Chị tâm thiền đạo hạnh của chúng em đã không thoát khỏi vòng vây của tử thần Covid-19.
Ôi ! đau đớn biết bao !

Hôm nay, theo vòng sinh diệt, Chị hóa thân về thiên cổ.
Chị vẫn còn để lại dương thế, với chúng em, tâm tình trĩu nặng qua ý thơ “Biển Sầu”:
Buồn hỡi ta xin vẫy tay chào
Vĩnh biệt sầu biển giọt lệ châu…

Giờ ly biệt, châu lệ tuôn trào, với tất cả lòng kính yêu Chị, chúng em xin thành tâm kính bái tiễn đưa hương linh Chị về cõi vĩnh hằng:

Mênh Mông Biển Sầu

Chị về… với Mạ, với Ba
Nửa hồn xứ Quảng mưa sa đất trời
Thiên di, quê cũ đổi ngôi
Thiền tâm, Chị rót trọn đời thủy chung
Hương xưa trong trẻo tấm lòng
Ngờ đâu tuyết đổ tháng Năm lạnh lùng
Chị đi… tiếc mãi dòng sông
Thương “Người” để lại mênh mông Biển Sầu

Vĩnh biệt Chị thương !
Áo Vàng & Tùng Nguyên

Lê Thị Bạch Nga sinh tại Huế, cựu học sinh trường Phan Chu Trinh ( Đà Nẵng). Tốt nghiệp dược sĩ đại học dược khoa Saigon. Tác phẩm đã xuất bản: Tiếng Bên Trời ( Thơ), Đạo và Đời I,II, III, Chiếc lá của rừng cây.

MÊNH MÔNG BIỂN SẦU – Bạch Nga – Tùng Nguyên – Áo Vàng

]]>
Anh Đi! http://thoibao.com/anh-di/ Mon, 08 Jun 2020 14:58:06 +0000 http://thoibao.com/?p=299179 Bùi Đức Tính “Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi” Cang nhướng mắt ngó ra ngoài đường: – Hết mưa rồi… Mưa đến bất ngờ, ào ạt một lúc, giờ như hết nước, mưa dứt ngang. Nó đeo lại kính cho ngay ngắn. Tròng kính dày cộm, đè nặng trên sóng mũi. – Tao phải […]]]>

Bùi Đức Tính

“Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi”

Cang nhướng mắt ngó ra ngoài đường:
– Hết mưa rồi…
Mưa đến bất ngờ, ào ạt một lúc, giờ như hết nước, mưa dứt ngang. Nó đeo lại kính cho ngay ngắn. Tròng kính dày cộm, đè nặng trên sóng mũi.
– Tao phải dìa trước,… làm bài.
– Ừ, dìa học đi Cang. Tụi tao ngồi thêm một lúc, cho mầy dễ học.
– Có sao đâu. Tụi bây dìa lúc nào cũng được…. Tao không khóa cửa.
Cang dặn dò rồi đứng lên. Nói thì vậy, nhưng khi nghe bạn mình đi về, bọn tôi cũng muốn về. Bình trà nhẹ bỗng, Vẹn để xuống:
– Thôi, mình đi về với thằng Cang luôn đi!
Tối nay, bọn tôi không hứng thú ngồi quán hay đi lang thang đến khuya khoắt như mấy đêm trước. Phát gọi Cang:
– Chờ tao trả tiền. Tụi mình cùng về!
Chẳng ai có ý kiến gì thêm, bạn bè lặng thinh, lục đục đứng dậy theo Cang, lững thững đi ra ngoài quán. Tôi đưa gói thuốc hút cho đám bạn. Bốn đứa đứng hút thuốc, chờ Phát trả tiền cà phê.
Sau cơn mưa, buổi tối mát lạnh làm khói thuốc thêm nồng ấm. Cang hít hơi thuốc dài:
– Tụi mày nên về ngủ sớm … mai đi trình diện.
– Ừ… sáng, tụi tao đi sớm.
Phát Thái (có hai đứa cùng tên Phát, chúng tôi gọi kèm họ để phân biệt) đồng ý bạn mình. Cang là bạn của Phát Thái. Không như bốn đứa tôi, Cang còn được đi học tiếp. Nó được hoãn dịch vì là con một và bị cận thị nặng.
. . .
Từ cuối năm học, luật động viên ban hành, đã chuẩn bị tinh thần cho gia đình và cho các thanh niên trong hạng tuổi. Ba tôi đã từng nhập ngũ hai lần, trải qua chương trình “Rừng-Núi-Sình Lầy” ở Trung tâm Huấn luyện Dục Mỹ. Ba tôi theo các đơn vị từ hải đảo Phú Quốc xa xôi, sau cùng về phục vụ tại Vùng 4. Có lần, tôi theo mẹ đi thăm ba; căn cứ nơi Đất Đỏ của Xuyên Mộc, bụi đỏ trên áo trắng đồng phục tiểu học. Tôi cho ba tôi biết ý định đi lính của mình. Hôm sau, tôi báo cho đám bạn biết sẽ trình diện nhập ngũ. Nghe vậy, hai thằng Phát và Vẹn gật gù:
– Tụi mình trình diện một lượt cho vui!
Phát Thái bày vẻ thêm chương trình:
– Có thằng Cang, nó mướn nhà trọ trên đường Lê Văn Duyệt. Tao nói nó cho tụi mình ngủ nhờ vài đêm. Ban ngày tụi mình kéo nhau đi chơi, khi nào hết tiền hay chán phố phường thì mình đi trình diện.
Thế là cả ba đứa kéo nhau lại nhà bạn mình, để giúp bạn trình bày với cha mẹ là… “con đi lính, hết giặc về… Ba Mẹ đừng lo!”.
Làm sao mà “đừng lo” cho được!
Cha mẹ cũng biết là mấy đứa con nó nói cho mình an tâm, vậy thôi.
Nhưng có mặt cái đám bạn bè của con mình, rầy rà thằng con không tiện cho lắm. Mà nói hay rầy, thì rầy nói gì bây giờ. Lại nghe tụi nó nói tỉnh queo, giống như là mấy lúc tụi nó kéo lại nhà, xin phép rủ nhau đi chơi một chút rồi về. Chuyện đi lính đâu phải một chút rồi về. Mẹ nào nghe chuyện ra đi như thế này, cũng nước mắt lưng tròng. Tôi bấm bụng, lấy chuyện đi lính của ba tôi mà an ủi các bậc sinh thành: “Dạ… Ba của cháu cũng có đi lính. Ông cũng được giải ngũ. Sau này lại nhập ngũ và rồi cũng giải ngũ ….”
Bài hát “Anh Đi Chiến Dịch” của Phạm Đình Chương nghe hoài. Hồi nhỏ chưa biết “chiến dịch” nghĩa là gì. Rồi lớn lên, tôi hiểu lời nhạc, nhưng chưa hề biết thấm thía, dù là hai chữ giản dị “anh đi” như bây giờ.

“Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi”

Thời này, đi lính mà. Biết chừng nào về!
Đứa nào cũng biết, nói thì nói vậy; chọn làm lính trận, thời này, mấy ai dám hẹn ngày về. Súng đạn vô tình. May với rủi. Coi như, số phận đã an bài.

Ba tôi đã biết hết mọi chuyện từ cuối năm học. Chỉ lo cho mẹ tôi mà thôi. Biết là, mỗi lần báo tin với các bậc sinh thành, đều có kinh nghiệm hơn. Tôi nhờ bạn bè đến nhà tôi sau cùng, cho êm xuôi hơn.
– Chừng nào mấy đứa con… đi?”
Mấy hôm nay, đã ba lần nghe câu hỏi này và ba lần trả lời. Vậy mà, khi mẹ tôi hỏi, tôi không trả lời được. Ba tôi phải nói giùm.

Nhà tôi nằm trên đường bay của trực thăng đến Bệnh viện Dã chiến. Gọi là “dã chiến” nhưng bệnh viện có tường vách kiên cố, nằm ở đây từ trước khi tôi chào đời và không biết sẽ đến bao giờ mới hết là “dã chiến”. Trong lòng trực thăng sắp đáp xuống, hầu hết đều chở về những thân thể không vẹn toàn, hay poncho đã phủ kín đời người lính trận. Từ hôm tôi và bạn bè báo tin, khi có tiếng trực thăng bay xuống bệnh viện, không như trước đây, mẹ tôi thường dừng tay làm công chuyện, lắng nghe tiếng trực thăng.
Đêm đấu tố, và thủ tiêu. Đêm săn bắt cho đầy chỉ tiêu!
Đêm đen và bạo tàn không phải chỉ ở xa xôi, nơi miền Bắc. Tuổi trẻ đã sớm chứng kiến thân xác của đồng bào miền Nam mình, trong những hố chôn người, từ Tết mậu Thân 1968. Chiến tranh, từ biệt, tử sinh đã rất thực, lần bước vào bên trong khung cửa yên ấm của gia đình; hiện hữu, mãi mãi.

Đêm Việt Nam!
Việt Nam nước tôi buồn tênh!

Rồi ngày hẹn nhau cũng đến. Dù đã biết, phải có lúc con mình rời tổ ấm. Bạn bè và tôi đã tập tành rời tổ ấm từ lúc mới học lớp Đệ Ngũ, lớp 8 bây giờ; chúng tôi xa nhà, sống với nhau trong Ký Túc Xá. Thế nhưng, bây giờ là rời nhà để đi lính, nhập ngũ tòng chinh, chứ không phải đi học. Mấy đứa em của chúng tôi đều đi học từ sáng, chỉ còn từ biệt mẹ cha. Thấy con mình rời nhà, đi lính cùng với đám bạn từ thời tiểu học, cha mẹ chừng như có phần yên tâm hơn. Tuy vậy, chứng kiến ánh mắt buồn hiu của người cha và mẹ thì quay đi để dấu nước mắt. Đám con trai cũng bối rối, chỉ lập bập mấy tiếng:
– Dạ… tụi con đi…
Vậy rồi, chúng tôi đi.
Đi nhanh như chạy trốn. Trốn nhìn mẹ nhìn cha, của mình và của bạn bè. Trốn sợ đối diện với lo buồn. Sáng nay, cả bốn đứa, không đứa nào dám ngồi lại ăn sáng với gia đình, trước khi đi. Sợ rằng kéo dài lúc chia tay, càng thêm quyến luyến, nát thêm trong lòng. Ra bến xe, không bụng dạ nào muốn ăn sáng. Ly cà phê sáng hôm ấy đắng nghét, khét lẹt.
Cà phê tối nay cũng đắng nghét!
Phát trở ra, đưa cho mỗi đứa một gói Bastos Xanh.
– Em nói, chúc mấy anh đi lính bình an!
Thừa biết “em” đây là ba chị em trong quán cà phê. Phát Thái cầm gói thuốc lắc lắc, trêu chọc:
– Hèn chi, mày dành trả tiền.
– Tao dành hồi nào đâu?… Đúng là làm ơn cho tụi mày còn bị mắc oán!
Phát than trách mà miệng cười tươi, khó hiểu, trông như đang bay trên chín tầng mây. Thế là, chúng tôi có dịp ùa vào tra khảo:
– Làm sao mà “em” biết “mấy anh” này đi lính?
– Thì tao nói… anh phải dìa ngủ sớm, mai đi trình diện.
– Trời ạ! Chưa thấy ai tán gái như mày! Ở đây thêm vài ngày, mấy em trong thành phố Sài Gòn này thấy mặt tụi mình là chúc “mấy anh đi lính bình an”… Mày làm như chỉ có tụi mình đi lính!
– Thì… có sao tao nói vậy.
– Rồi, cũng được… Mà mày hẹn hò xong hết chưa?
– Đi lính… biết gì mà hẹn.
Tôi có hai người cậu cũng học ở Thủ Đức, nên biết chút ít:
– Còn trong quân trường thì hẹn gặp ở Khu Tiếp Tân.
– Lên tới Thủ Đức xa quá!
– Xa gì! Sài Gòn – Thủ Đức mà xa gì!
– Mày làm như đã là… người tình trăm năm!
– Thì phải có một ngày, mới có tới trăm năm chứ.
Tôi mằn mò bao thuốc hút xem còn được bao nhiêu điếu. Thấy được bốn đầu thuốc lá. Chia thuốc trong gói cho đám bạn. Lấy điếu cuối cùng cho mình xong, tôi rút tờ giấy mạ bạc lót trong bao thuốc ra. Xếp trang giấy trắng ra ngoài, tôi đưa tờ giấy cho Phát, nửa đùa nửa thật:
– Ghi địa chỉ quán đi. Cất để dành mà gởi thư hẹn hò.
– Mày có biết tên em chưa?
– Tên thì tụi mày cũng biết, nói gì tao, nhưng… tao quên hỏi họ.
– Vậy thì trớt quớt rồi! Mày trở vô hỏi đi.… Tụi tao chờ cho.
Phát ngó vô quán, rụt vai:
– Có ông già!
– Tiệm quán thì thiếu gì ông già vào uống cà phê… Ông già mà mày sợ à?
– Không… không phải ông già, mà là “ông già”, đó mà!
– Coi vậy mà nhát há!
– Tội cho mày quá! Không cần họ đâu… có tên là được rồi. Chỉ cần ghi cho đúng địa chỉ là ngon lành. Thư tới em ngay.
Vẹn hù dọa thêm:
– Mấy em đi học. Thư tới “ông già” là cái chắc rồi.
– Ừ! Thì… cầu may vậy.
– Cầu may chi!… cầu “chú” Cang đây nè.

Cang nghe vậy, ra giá:
– Mỗi thư là một chầu cà phê, tao cho “ghi sổ”.
Cang đồng trang lứa. Có lẽ vì Cang mang kiếng cận, nói ít, ít đùa giởn, trông chững chạc, đạo mạo hơn bọn tôi, nên thường bị các cô gọi là “chú”. Phát chịu ngay:

– Cà phê thì cà phê…. Thôi, mình đi, cho “chú” Cang dìa học bài.
Quấy rầy chỗ ở trọ của Cang đêm nay là ba đêm.
Tối nay, bạn bè gom ra ngoài “hàng ba”, cái thềm nhà phía trước; để yên cho Cang làm bài. Xị rượu hôm qua, còn chút ít trong chai. Tối nay, không mời, không ép; nãy giờ chưa ai đụng tới. Bốn đứa ngồi ngó trời, ngó nhau, hồn ai nấy thả. Ba ngày qua, đây đó vô định, tùy hứng, tùy thích, bất cần biết ngày mai sẽ đi đâu, hay sẽ làm gì kế tiếp. Cũng phố phường thân yêu, cũng áo tiểu thư, và vẫn còn đó nét thơ ngây, nụ cười hồn nhiên, ánh mắt vô tư… Định rong chơi ít nhất một tuần. Thế nhưng, ba ngày nay, tất cả chừng như bị cái gì đó vô hình pha trộn; mọi thứ mù mờ, biến dạng, hương vị nhạt nhẽo. Những ngày rong chơi sau cùng, ngày càng vô vị. Chưa hết tuần, chúng tôi bảo nhau: sáng mai này đi trình diện cho xong.

Tôi lấy gói thuốc hút ra xem. Khác với gói Bastos bao màu xanh và màu đỏ bán cho dân chúng. Bao thuốc này màu trắng, có chữ J. BASTOS trên băng ngang màu xanh gần bên dưới. Hình người lính xung phong với lá quốc kỳ vàng sọc đỏ, thật sáng đẹp trên nền trắng của bao thuốc lá. Bastos “xanh” Quân Tiếp Vụ đấy!

Hãng thuốc lá MIC có tiếng và đã có mặt hơn trăm năm ở miền Nam Việt Nam; nằm trên đường Nguyễn Hoàng, trong khu Chợ Lớn. MIC nhắm vào giới trẻ, trung lưu, và gồm các hiệu như: Cotab, Ruby, Capstan. Vài năm sau, Sài Gòn có thêm hãng Bastos, Juan Bastos. Hãng này nằm trên đường Bến Vân Đồn, Quận Tư. Quân Tư “Khánh Hội”, nơi có đường Tôn Đản trong truyện của Duyên Anh; những truyện mà một thời tuổi trẻ đam mê, đầy ngưỡng mộ với Đại Cathay “Điệu ru nước mắt”, “Sa mạc tuổi trẻ”, “Vết thù trên lưng ngựa hoang”…. Bastos nhắm vào giới bình dân, với loại thuốc lá sợi đen, khói nặng, gắt, không thơm bằng Ruby Quân Tiếp Vụ, nên giá rẻ hơn. Quân Tiếp Vụ là cơ quan cung cấp hàng hóa, các nhu yếu phẩm như thuốc lá, bia, rượu, sữa, đường… cho quân nhân miền Nam mình với giá thấp hơn giá thị trường.
Bastos so với Pall Mall, thì rõ ràng là khác nhau một trời một vực, từ giá tiền đến hương vị. Tôi thích hàng chữ trắng Pall Mall thanh lịch kiêu sa, trên bao thuốc màu rượu chát đỏ sậm quý phái. Pall Mall dài hơn các loại thuốc hút khác đến một đầu lọc. Nhưng Pall Mall “đỏ” không có đầu lọc. Đoạn thuốc dài thêm này, có tác dụng độc đáo như là đầu lọc, làm bớt hơi khói nóng gắt từ đầu lửa, nhưng tăng thêm hương vị đậm đà. Kéo nhẹ điếu thuốc ra khỏi bao, hương thơm nồng nàn, hình dáng thon dài, quyến rũ, mê hoặc.

Ngó tôi ngắm nghía gói thuốc hút trên tay. Phát cười cười, thân mật:
– Tao mua đó!… Hồi nãy, tao đùa cho có chuyện nói…. Không có em nào tặng đâu. Tụi mày biết tao mà, không tán tỉnh ai hết… Tập làm quen với Bastos Quân Tiếp Vụ là vừa!

Chúng tôi tin Phát. Không đứa nào muốn vướng víu thêm tình cảm. Phát nói đúng: “tập làm quen với Bastos Quân Tiếp Vụ là vừa.” Tối nay, gói thuốc hút màu trắng có hình người lính và lá quốc kỳ, thật gần gũi, không còn xa lạ.
Quân vụ Thị trấn cũng nằm trên đường Lê Văn Duyệt, không xa nơi ở trọ mấy hôm nay. Thủ tục giấy tờ trình diện nhanh, dễ dàng. Từ đây, xe GMC chở bốn đứa tôi cùng các chàng tuổi trẻ tới Trung tâm 3 Tuyển mộ Nhập ngũ. Và rồi, từ con đường Quang Trung nắng đổ, tuổi trẻ chúng tôi được đưa vào quân trường; nơi có đàn anh chào đón và tận tình hướng dẫn, để vượt qua những tuần đầu tò te, ngố ngáo. Hai thằng Phát và Vẹn vào khác Trung đội, nhưng cùng chung Đại đội 32 với tôi. Trong đây, đỏ, hồng, vàng, xanh hay tím, không phải là màu áo tiểu thơ, để mấy chàng tuổi trẻ đứng ngẩn trông vời. Màu áo thiên thanh Thánh Linh giờ là màu trời ngày không gợn mây, nắng nóng bỏng sỏi đá Vũ Đình Trường,… Bây giờ, không còn là thời để thả hồn về áo trắng học trò hay mộng mơ màu hồng của áo dài trường Thiên Phước. Qua rồi cái tuổi mới lớn, đụng đâu yêu đó; thấy áo nàng vàng anh về yêu hoa cúc, ngắm áo nàng xanh tự dưng mến lá sân trường, hay tần mẩn pha mực cho vừa màu áo tím. Nó là các màu khăn danh dự của đàn anh và của đàn em. Để nhớ mà kịp chào kính, từ khi đàn anh còn xa đến sáu bước, và chỉ được đem tay xuống khi đi qua đàn anh trọn ba bước. Khởi đầu, nó là màu của hãi hùng, suốt cả ngày và trong đêm; khi còn tập tễnh làm Tân khóa sinh. Nó trở thành màu thương kính, biết ơn; khi đàn anh đứng kề bên, mang cho đàn em cặp alpha trên đôi vai áo; trong Lễ Gắn Alpha.

Thao trường đổ mồ hôi, nắng bãi tập nung cháy màu học trò, hung đúc tuổi trẻ. Tuổi trẻ đã nhanh chóng trưởng thành, thành người lính đứng thẳng nhận lãnh Trách Nhiệm. Để rồi, người lính biết tủi nhục trong ngục tù và đã biết xót đau tận cùng khi mất cả quê hương.

Anh đi!
Xưa nay chinh chiến, mình chọn ngày đi, mấy ai chọn được lúc về.
Đàn anh ra đi.
Đàn em không quên lời xưa đã ước thề.

nhớ ngày 19-6
Bùi Đức Tính

]]>
Yêu mình hay yêu người. http://thoibao.com/yeu-minh-hay-yeu-nguoi/ Fri, 05 Jun 2020 10:40:02 +0000 http://thoibao.com/?p=297220 Lại Thị Mơ Một nhà báo nổi tiếng khi đã có một gia đình hạnh phúc, với một bà vợ xinh đẹp, giỏi giang và hai đứa con xinh xắn.Ông chợt nhớ tới mẹ của ông, một người đàn bà bất hạnh, lại không may mắn có thêm đứa con ích kỷ là ông. Chính […]]]>

Lại Thị Mơ

Một nhà báo nổi tiếng khi đã có một gia đình hạnh phúc, với một bà vợ xinh đẹp, giỏi giang và hai đứa con xinh xắn.Ông chợt nhớ tới mẹ của ông, một người đàn bà bất hạnh, lại không may mắn có thêm đứa con ích kỷ là ông. Chính ông là người gây thêm cho mẹ nhiều buồn khổ, bằng những cử chỉ và hành động nông nổi, mà ngày đó ông tưởng là vì quá yêu mẹ. Bây giờ nghĩ lại, ông mới biết đó là điều ngộ nhận, ông chẳng hề yêu mẹ, mà chính là yêu ông thì đúng hơn.

Mẹ ông là cô giáo, còn bố ông chỉ là thợ sửa xe, chưa học xong trung học. Đã thế, bố ông còn mang tật ghiền rượu. Thưở nhỏ, bố mẹ phải sống cạnh bà nội vì không có tiền mua nhà. Ngoại trừ chịu đựng tật nghiền rượu của bố, mẹ tôi còn phải chịu sự đay nghiến của bà nội, vì cho rằng mẹ là loại đàn bà cấp tiến: đọc sách và cắt tóc ngắn. Trong khi thời đó đàn bà để tóc dài và quanh quẩn trong bếp, hay lui cui làm vườn. Mẹ thì không, nấu ăn dọn dẹp xong thì lấy sách ra đọc. Chuyện này làm ngứa mắt nhiều người.

Tôi thường la cà quanh quẩn bên nhà nội, cho đến khi xế chiều mới chịu về nhà. Nhiều khi tôi giả vờ không nghe tiếng mẹ gọi, chờ tới khi mẹ qua hàng rào, bước vào tận cửa bếp, để thấy bà đưa cho tôi một miếng bánh mì có bỏ jam bên trên. Mẹ tôi chỉ nói: Sắp tới giờ cơm, mẹ đừng cho cháu ăn ngọt. Để đáp lại, bà tôi múc thêm một muỗng đầy mứt trái cây chồng thêm lên cao, rồi quát: Cầm lấy, đừng làm ” trứng khôn hơn vịt” , tao đã nuôi thằng bố mày, và bao nhiêu đứa khác.

Mẹ tôi lặng lẽ dắt tay tôi về, và tôi phải cầm theo miếng bánh. Mẹ tôi sợ nghe thêm một tràng những chữ mày tao, thằng này, thằng nọ…là những chữ mẹ tôi cấm tôi không được dùng khi nói chuyện. Nhưng đây là bà nội, người mà mẹ không được phép trả lời.

Rồi gia đình tôi cũng dọn đi xa, ký ức của tôi không còn hình ảnh của bà nội, lâu dần tôi cũng quên mất mình có một bà nội hay đay nghiến rầy rà mẹ tôi vô cớ.
Khi bố mất, tôi có tất cả 3 chị em, mà tôi là đứa con trai duy nhất. Dĩ nhiên mẹ kỳ vọng vào tôi, hơn cả chị lớn và em gái, vì vậy mẹ rất khắt khe với tôi.

Bố tôi mất được 1 năm, thì mẹ tôi quá đuối sức nuôi gia đình 4 miệng ăn, nên mẹ cho em gái út làm con của cậu, vợ chồng cậu không có con. Còn lại 3 người, mẹ bắt đầu kiếm việc cho cả 3: chị thì phụ mẹ nấu ăn và sửa quần áo của hàng xóm. Còn tôi, mẹ xin cho việc bỏ báo vào sáng sớm, xong việc mới đi học.
Cứ 4 giờ sáng tôi phải đi bộ đến lấy báo ở tòa soạn, cách nhà cỡ 2 dặm. Mẹ tôi may cho tôi một túi vải để đựng báo, đeo vắt chéo vai. Bán hết 20 tờ, tôi được trả 20 xu mang về đưa mẹ. Mẹ xoa đầu khen giỏi, rồi hôn lên má tôi giục ăn sáng, kẻo trễ giờ học.

Có lần tôi cảm thấy hình như có giọt nước mắt của mẹ rơi xuống, vì chỗ má mẹ hôn hơi ướt, nhưng vì mải lo trễ giờ, tôi ít để ý. Bây giờ nghĩ lại, hẳn lúc đó mẹ tôi đau lòng lắm, bởi vì báo có hàng ngày, nhưng Trời thì có hôm lạnh hôm mưa tầm tã.
Mẹ tôi không bao giờ mở miệng nhờ vả hay xin xỏ ai điều gì. Với số tiền ít ỏi kiếm được của 3 mẹ con, chúng tôi cũng đắp đổi sống qua ngày. Tôi nhớ có lần cùng mẹ dùng một xe đẩy trẻ con, ghé tới siêu thị gần nhà. Chúng tôi chất đầy xe những đồ hộp sắp hết hạn, người ta cho miễn phí. Suốt con đường dài, Trời hơi hơi lạnh, mà sao khi về tới gần nhà, mẹ tôi kêu: nóng quá. Rồi mẹ cởi áo khoác ngoài, phủ chụp lên đống đồ hộp, nhìn từ xa tưởng có em bé nằm trên xe.
Ngày đó, tôi mới 9 tuổi, chẳng hề nghĩ mẹ không muốn hàng xóm biết mẹ con tôi đi nhặt đồ hết hạn.
Một cô giáo mẫu mực, không cho phép mẹ phản ứng lại những lời đay nghiến của bà nội. Lòng tự trọng không cho phép mẹ nhận sự giúp đỡ của rất nhiều người vẫn thường bao quanh ve vãn mẹ.
Một điều rất khó hiểu, mẹ xinh đẹp, lại có học, còn bố tôi chỉ là người thợ sửa xe, chưa học xong trung học. Nhưng mẹ vẫn kể chuyện tình của bố mẹ cũng đẹp, và mơ mộng như bất kỳ chuyện tình nào khác.
Mẹ kể ngày bố mẹ gặp nhau như một sự sắp xếp của định mệnh. Mẹ đang dạy trẻ con trong lớp, thì phía ngoài đường có cái xe hơi cũ kỹ nằm ụ ngay cổng trường.

Gọi là trường cho oai, chứ thật ra trường làng chỉ có 1 lớp. Cô giáo kiêm luôn hiệu trưởng, và 1 ông lao công quét dọn.
Cô giáo đó chính là mẹ tôi. Thấy anh chàng mặt mày lấm lem, bò vô bò ra cái gầm xe cũ kỹ với bộ mặt rầu rĩ, trông thật thiểu não tức cười. Từ trong lớp, mẹ tội nghiệp bước ra cổng hỏi thăm. Chàng tuổi trẻ với đôi mắt xanh biếc, đã hớp hồn cô giáo trẻ. Sau khi hỏi han, cô gọi ông lao công ra giúp, cũng chẳng được. Vì cái xe cần phải thay một phụ tùng nào đó, mà phải ra phố mới có. Tối hôm đó, chàng xe hư được ở tạm nhà ông lao công, để rồi mấy tháng sau cô giáo cũng bỏ ngôi trường làng, đi theo tiếng gọi của con tim, đôi mắt xanh biếc kia đã hớp hồn cô.
Mẹ tôi không bao giờ than thở chuyện nghèo khó vì lấy bố tôi. Mẹ bảo nếu không có con ma rượu, thì bố tôi là một người tuyệt vời. Bố là người con ngoan, một người chồng tốt, một người cha đáng kính. Rất tiếc, ma men đã hủy hoại cuộc đời bố. Nhưng mẹ tôi bảo rằng tôi là hạt mầm tốt cần gieo trên mảnh đất tốt. Bố tôi có bản chất tốt, chúng tôi có bà mẹ sáng suốt. Mẹ tôi gọi chúng tôi là món quà thượng đế ban tặng cho bà.
Nuôi con không phải chỉ nuôi thân xác cho lớn. Nếu thương con thật sự, phải nuôi dưỡng tâm hồn, hướng dẫn con thành người tốt. Bởi vì trẻ con không phải là cái cây, tự hút chất nuôi dưỡng từ đất, không cần cây mẹ.
Nhưng trẻ con từ nhỏ cần người nuôi & dạy.

Nếu chỉ nuôi cho lớn tức là chỉ có cái xác.
Mẹ tôi không biết bơi, nhưng chúng tôi phải biết bơi. Mẹ bảo rằng: Bà sẽ làm tất cả, để khi cần thiết chúng tôi có thể tự cứu mình.

Lúc nào mẹ cũng nhắc nhở: phải học, kiến thức không phải là mớ hỗn độn có thể nhét vô cái nhà kho một lúc. Kiến thức phải được hấp thụ mỗi ngày một ít: khi nhỏ nhận ra điều nhỏ, khi lớn nhận ra điều lớn.
Cùng với chuyện bắt đọc sách, mẹ còn bắt chúng tôi tập những thói quen tốt. Dạy sớm sửa soạn đi học, luôn luôn kiểm soát lại, để chắc chắn không quên ở nhà, mọi thứ cần trong lớp.
Sau cơm chiều, nghỉ ngơi một lát, rồi ngồi vô bàn học. Khi bắt đầu buồn ngủ thì xếp sách lại, mẹ bảo lúc này kéo dài thêm thời gian là vô ích. Tôi nhớ mãi lời mẹ: vô ích. Đến nỗi cho đến bây giờ 2 tiếng đó hằn sâu trong đầu tôi, đến thành phản xạ thói quen. Làm gì cũng cân nhắc: nên hay không nên. Có ích hay vô ích.
Khi tôi học lớp 5, thì mẹ tôi quen một người đàn ông hơi đứng tuổi, chúng tôi gọi là Bác Minh, bác rất hiền lành, ít nói. Chị lớn và tôi cũng chỉ chào hỏi qua loa, chứ không chú ý lắm. Dần dần tôi thấy bác Minh hay ở lại ăn cơm tối với chúng tôi, lúc này tôi hơi khó chịu, vì tôi quen chỉ có 3 mẹ con. Tôi bỗng không thích sự có mặt của bác Minh, trong bữa ăn bác hay hỏi han chuyện học hành. Thường thì bác hỏi tôi nhiều hơn chị, tôi lại càng bực mình, trả lời cộc lốc cho qua. Mẹ tôi chỉ lặng thinh, chắc bác Minh cũng biết tôi không ưa ông.
Một ngày kia, đúng ngày sinh nhật của tôi, thường mọi năm mẹ tôi chỉ làm một cái bánh nhỏ. Nhưng hôm nay khi đi học về, một cái xe đạp thật đẹp, nằm chễm chệ ở phòng khách. Cái xe mà tôi hằng mơ ước, vừa lúc bác Minh bước vào hỏi: Sang năm lên lớp 6, trường xa không đi bộ được, Bác cho cháu cái xe làm quà sinh nhật.
Trước con mắt kinh ngạc của mẹ tôi, là khuôn mặt sượng sùng của bác Minh, tôi đá ầm ầm vào cái xe, bỏ vào trong phòng, vẫn còn nghe tiếng chị vói theo: Kìa em, sao lại thế?

Tôi úp mặt vào gối khóc nức nở, thế là dự định của bác Minh, mời cả nhà đi ăn tiệm hôm đó, phải hủy bỏ. Có lẽ mẹ định nói với chị em tôi chuyện gì đó, lúc đi ăn. Tôi thấy chị và mẹ cùng im lặng khi thấy tôi ra. Mẹ chỉ nói nhỏ: Các con thương mẹ, hiểu cho mẹ, bác Minh là người tốt.

Cho tới bây giờ, tôi mới hiểu tâm lý của những đứa mất cha, lúc nào cũng sợ mất mẹ. Tôi đã không hiểu cho những khó khăn trong cuộc sống của một người đàn bà còn son trẻ, cần có một chỗ dựa, một bàn tay nâng đỡ. Tôi không hề biết bác Minh giúp mẹ những gì, tôi còn nhỏ quá, để thấy được những giọt lệ hoen trong khoé mắt của mẹ mỗi đêm về.
Thỉnh thoảng cậu mợ cho em Út ghé nhà, em ăn mặc thật bảnh bao, còn mẹ nhìn em nén tiếng thở dài. Chẳng đặng đừng mẹ mới cho em cho người khác nuôi, dù người đó là em ruột của mẹ. Chẳng đặng đừng mẹ mới quen bác Minh. Có lẽ vẻ buồn hiu của chị và thái độ thô lỗ của tôi, làm mẹ chùn bước. Không thấy bác ghé nhà, chúng tôi cũng quên bẵng.
Mẹ con cứ đắp đỗi qua ngày, rồi tôi cũng được học bổng vô đại học, chị tôi cũng học xong trung cấp, đi làm kế toán cho một hãng buôn gần nhà.Tôi mải mê bận rộn chuyện học hành, cũng không nhớ mẹ và chị sinh sống ra sao. Mỗi năm chỉ về nhà dịp Tết, thấy chị có việc làm ổn định, mẹ cũng đỡ vất vả. Tất cả những gì tôi đạt được ở trường, đều là công lao của mẹ và chị. Vừa đi làm vừa đi học, chắt chiu mọi thứ để có ngày hôm nay đều ảnh hưởng từ cô giáo nghèo là mẹ tôi.

Bây giờ tôi đã thành đạt, chạnh lòng nhìn về quá khứ, tôi tưởng như mọi chuyện vẫn hiện rõ mồn một trước mắt.
Mẹ tôi ở vậy cho đến cuối đời, mỗi lần ghé thăm mẹ ở nursing home, tôi thấy mình quá nông nổi. Tôi muốn cầm tay mẹ nói lời xin lỗi, nhưng mẹ tôi giờ đã lãng trí. Mẹ tôi đã nuôi dạy chị em tôi nên người, dù vất vả nhọc nhằn.
Mẹ ơi muôn đời con mang ơn mẹ. Mẹ ơi hãy tha thứ cho con mọi lỗi lầm, con quá ích kỷ, chỉ muốn giữ mẹ cho riêng mình. Mẹ ơi con chỉ còn biết trả ơn mẹ, bằng cách nuôi dạy các cháu của mẹ: Hạt giống tốt nảy mầm trên đất tốt. Các cháu của mẹ sung sướng hơn con của mẹ ngày xưa nhiều lắm. Chúng không phải dậy sớm đi bán báo. Nhưng chúng ngồi vào bàn học sau mỗi bữa cơm chiều. Con bảo với chúng rằng: Chính bà nội đã cho các con gia sản này. Ngày nay Bố thành danh, tất cả đều nhờ công lao của bà nội. Các con hãy ghi nhớ công lao này, để truyền thống tốt đẹp của gia đình rạng danh mãi mãi.

Làm sao con quên được mẹ, mẹ ơi!

Lại Thị Mơ

]]>
Vỉa Hè Đồng Khởi http://thoibao.com/288425-2/ Mon, 25 May 2020 11:20:48 +0000 http://thoibao.com/?p=288425 Bông hồng cho mẹ Việt Nam và cho những ai đang còn cha, còn mẹ. “. . . Chị thì thầm vào tai anh: “Còn mấy hôm nữa là rằm tháng Giêng chắc mình phải về nhà chứ.”Anh kéo chiếc mền mỏng lên ngang ngực, chiếc mền ngắn quá, lòi cả nửa ống chân ra […]]]>

Bông hồng cho mẹ Việt Nam và cho những ai đang còn cha, còn mẹ.
“. . .

Chị thì thầm vào tai anh:
“Còn mấy hôm nữa là rằm tháng Giêng chắc mình phải về nhà chứ.”Anh kéo chiếc mền mỏng lên ngang ngực, chiếc mền ngắn quá, lòi cả nửa ống chân ra ngoài. Anh nhìn chung quanh một vòng, ngượng ngùng co chân lại.
“Về sao được em, phải chờ chứ, còn nước còn tát, mấy hôm nay thằng bé cũng thấy khá hơn một chút.”
Hai vợ chồng đang nằm ngủ ngay trước cửa Bệnh Viện Ung Thư, con trai họ 12 tuổi kiếm được một chỗ nằm chung một giường với một đứa trẻ khác bên trong, (sau khi anh chị đưa cho y tá trực ở đó hai lần hai cái phong bì.) Dưới gầm giường thì có bố mẹ của đứa bé kia rồi, không còn chỗ cho anh chị nữa.
Họ lên đây từ trước Tết, đợi mãi mới tới phiên con được khám. Trong khi chờ thì cứ ngồi, nằm, ngay ở hành lang bệnh viện. Anh chị không phải là cặp vợ chồng duy nhất ngủ ở ngoài này. Số người chờ khám cho thân nhân hay chờ khám cho chính mình nhiều hơn số giường của bệnh viện có, nên người chờ đợi, ăn, ngủ, tràn lan ra tới hành lang.
Trời mưa lụt, nước tràn ngập cả trong phòng đợi, người ngồi, kẻ nằm trên những chiếc ghế nhựa trông thật thảm thương. Ngày khô thì chiếu trải la liệt dưới đất. Bệnh Viện mà trông như trại tỵ nạn.
Anh chị từ Hòa Bình mang con về Hà Nội chạy chữa, thằng bé 12 tuổi đang đi học bỗng ngã bệnh, chữa mãi Bác sĩ tỉnh nhà không khỏi, thử máu, chụp hình mới biết là bị ung thư màng óc.
Chị lại thì thầm: “Tết mình đã không có mặt ở nhà để cúng ông bà, thì Rằm cũng phải về cúng Phật chứ anh. Hay em ở lại với con, anh về mấy hôm đi.”
“Anh về cũng chẳng an tâm được. Mấy hôm ngủ ngoài sương thấy em đã bắt đầu ho. Thôi, Trời Phật cũng thông cảm cho mình.”
Chị im lặng một lúc, lại ngập ngừng nói: “Thôi anh cứ yên tâm về đi, còn bà nội thằng Tí ở nhà nữa, anh về đi kẻo mẹ trông, em biết là mẹ mong anh về lắm.”
Người chồng ngồi hẳn dậy, co hai chân lên vòng tay ôm qua đầu gối, thở dài.
“Ừ, chắc anh nên về, em nói đúng, bà nội thằng Tí đang mong tin lắm. Anh đã chia tiền ra từng gói nhỏ để em tiện chi tiêu. Tiền trả cho Bệnh Viện chữa trị, tiền đưa bác sĩ thì anh để riêng, tiền đưa y tá, tiền lao công anh cũng để riêng.”
Người vợ ngồi hẳn dậy, quấn lại cái chăn cho gọn, thu xếp mấy cái túi đựng cả một gia đình lưu động của mình. Chị nhìn chung quanh một vùng bao quát, trong ánh nắng sớm mai yên tĩnh mọi người chưa thức dậy hết. Họ nằm ngang, nằm dọc, hay xoay chân ngược chiều nhau. Những bàn chân gầy gò, và những cái đầu xơ xác tóc, họ đang ngủ hay đã thức rồi mà vẫn còn nằm im lo lắng bất an. Mặt trời sẽ lên, thêm một ngày chờ đợi, đến bao giờ mới tới phiên mình, hay phiên của người thân mình. Số tiền mang trong túi, cài hai ba cái kim cho chặt, liệu có đủ trả tiền chạy chữa, tiền thuốc và tiền “phong bì” không?
. . . ”

Chuyện kể bên trên, từ bài viết “Bệnh Viện và Nghĩa Trang” của Trần Mộng Tú. Đây chỉ là một chuyện. Mỗi một manh chiếu từ trước cổng bệnh viện, đến bên dưới gầm giường bệnh nhân, là một câu chuyện tình. Mỗi câu chuyện có khác nhau, nhưng cùng giống nhau cái thảm thương, rát nát trong lòng. Sau tháng Tư năm 1975, chuyện tình cha mẹ, con cháu, anh em,.. càng bao la, dạt dào, bất tận. Nhất là, khi những người thân còn kẹt trong lao tù “cải tạo”. Những gia đình bị kết tội là có liên hệ quân-cán-chính, với chính quyền miền Nam; … thân quyến không những khổ vì phải nuôi chồng, nuôi con, mà còn triệu đắng nghìn cay vì cái lý lịch gia đình “ngụy quân”, “ngụy quyền”. Các tầng lớp thường dân, họ cũng khổ không kém; không phải chỉ khổ trong thập nhiên 80-90, mà cho mãi đến ngày hôm nay.
Khác hẳn với các bệnh viện dành cho cán bộ quan chức, kẻ có chức vụ và lắm bạc tiền. Từ ngoài đường, nhìn qua là biết ngay bệnh viện dành cho thường dân. Người chờ được khám bệnh và người nuôi bệnh nằm ngồi lê lết khắp nơi; họ hứng trọn mưa nắng từ bên ngoài cổng bệnh viện, chen chúc bên dưới các mái hiên, la liệt trên hành lang hay các nơi tựa được tấm lưng, chui rút ngay cả bên dưới gầm giường bệnh. Người nuôi bệnh thường là cha mẹ nuôi con, hay những người con nuôi bậc sinh thành, một số làm nghề nuôi bệnh mướn… Tại đây, người nhà phải tự lo cho người bệnh từ uống thuốc, đến các việc dơ bẩn khác. Đã thế, tất cả mọi dịch vụ từ cổng vào đến lối ra, trong khắp khu bệnh viện, kể cả nuôi bệnh, đều phải có tiền lo lót để sẵn trong các phong bì, gọi là “tiền phong bì”. Phần người bệnh, tuy phải nằm chen chúc cùng giường với các bệnh nhân khác, họ vẫn phải trả đúng theo giá nhà nước quy định cho mỗi người, cho mỗi ngày. Trong đây, chừng như lương tâm và lòng bác ái của các bậc mang danh phận thầy thuốc, cũng bị bệnh hoạn hay không còn chỗ để sống.

Những gia đình có người đàn ông còn kẹt trong trại tù “cải tạo”, thì chuyện kể về mẹ, về cha, về người vợ trên quê hương mình chan chứa hàng triệu xót xa. Chuyện từ góc phố buôn gánh bán gồng nuôi con ăn học. Chuyện dắt díu nhau lên vùng kinh tế mới xa xôi, lam lũ cùng gió sương, đất đá, với sắn khoai đói lạnh. Chuyện mẹ phải quay về thành thị “bán máu” nuôi con…

“Có lần tôi đi ngang. Qua vỉa hè Ðồng Khởi.
Một bà ôm chiếc gối. Ðứng hát như người say:
Khoan chết đã con trai.
Mẹ còn chờ mua sữa.
Mai Ba về có hỏi.
Mẹ biết nói sao đây.

Người biết chuyện cho hay. Chồng bà, đưa ra Bắc.
Từ khi con trai mất. Bà trở thành người điên.
Nhà bà là mái hiên. Tấm vải dầu che nắng.
Sớm chiều khoai với sắn. Heo hút với bầy con.
Bà ngày một héo hon. Bỏ vùng kinh tế mới.
Về Sài Gòn chen lấn. Giữa cuộc đời đắng cay.
Ðứa con út ốm đau. Vẫn hằng đêm đòi sữa.
Chẳng còn gì bán nữa. Ngoài giọt máu mẹ cha.
Khi trời vừa sáng ra. Bà lại lên Chợ Rẫy.
Lần nầy lần thứ mấy. Bà bán máu nuôi con.
Trên đường về đi ngang. Ghé cửa hàng mua sữa.
Bà gục người trước cửa. Suốt đêm mà không hay.
Ðứa con út đang đau. Chờ mẹ về chưa tới.
Qua đời trong cơn đói. Thiếu cả một vòng tay.
Khi bà về tới nơi. Thì con mình đã chết.
Bà ôm con lạnh ngắt. Ðứng hát như người say:
Khoan chết đã con trai.
Mẹ còn chờ mua sữa.
Mai Ba về có hỏi.
Mẹ biết nói sao đây.

Ðêm qua tôi nằm mơ. Thấy mình ôm chiếc gối.
Ðứng trên đường Ðồng Khởi. Và hát như người điên.”

… Đồng Khởi ?!
Sau khi miền Nam mất Sài Gòn, không phải chỉ có những cái tên như Đồng Khởi hay Nam kỳ khởi nghĩa…, còn nhiều tên đường kỳ dị, nghe xa lạ đối với người dân miền Nam lắm! Những thương tâm, như trên “vỉa hè Đồng Khởi”, mà anh Trần Trung Đạo ghi lại trong bài thơ “Bà Mẹ Điên”; không phải chỉ ở những tháng ngày trước khi anh vượt biển tìm tự do, mà còn đầy dẫy ngày hôm nay. Chuyện “bán máu” từ đó đến nay, đã trở thành những chuyện tầm thường. Cũng như các nước văn minh tiến bộ, người dân miền Nam chỉ nghe biết chữ “hiến máu”; đây là nghĩa cử nhân đạo, vì lòng bác ái. Thế nhưng, từ sau ngày 30 tháng Tư năm 1975, miền Nam có thêm một nghề rất lạ thường; lạ thường như cái tên của nó, đó là “bán máu”. Nghề “bán máu” công khai và hợp pháp. Giá mua bán máu của bệnh viện thấp hơn giá chợ đen. Thế nhưng, mua hay bán máu chợ đen, cũng đều phải qua các bệnh viện của nhà nước. Nghề “bán máu”, trong cái xã hội chủ nghĩa, đúng nghĩa như tên gọi, được trả tiền theo lượng máu mình bán. Người ta đi bán máu để có tiền mà duy trì sự sống, cho người thân hay cho chính mình, để rồi lại bán đi chính sự sống đó của mình. Cái vòng luẩn quẩn ấy cứ tiếp diễn!

Đã hơn 45 năm, quê nhà mình có quá nhiều chuyện thương tâm, hơn chuyện mẹ bán máu nuôi con bên ngoài các cổng nhà thương, rồi kiệt lực chết. Chết trước khi kịp mang tiền mua chút gạo nuôi con. Và rồi đứa con cũng chết vì đói … Những câu chuyện thương tâm trong xã hội, không thể vướng bận nhà nước của nó. Nghĩa trang cho cán bộ đảng, chắc hẳn phải quan trọng hơn bệnh viện cứu trị cho dân; như bản tin ngày 2/2/2019 của báo Tuổi Trẻ:
“Theo đó, nghĩa trang Yên Trung thuộc địa phận xã Yên Trung, huyện Thạch Thất, nằm dưới chân núi Ba Vì, cách trung tâm thành phố khoảng 40km về phía Tây; phía Bắc và Tây giáp Vườn Quốc gia Ba Vì; phía Đông giáp đồi núi và đường cao tốc Hòa Lạc – Hòa Bình; phía Nam là đồi núi và khu dân cư.
Tổng diện tích toàn bộ nghĩa trang lên tới 120ha. Nguồn vốn xây dựng nghĩa trang dự kiến hơn 1.400 tỷ đồng, lấy từ ngân sách nhà nước

Nghĩa trang Yên Trung là nghĩa trang cấp quốc gia, nơi an nghỉ, khu tưởng niệm lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, các anh hùng, danh nhân của đất nước sau khi từ trần.
Nghĩa trang có đầy đủ các hạng mục từ nhà làm việc, đón tiếp, nhà dịch vụ, khu nghi lễ, khu vực tổ chức nghi lễ, đất an táng (quy mô 2.200 – 2.500 ngôi mộ), đất cây xanh mặt nước, đất giao thông, bãi đỗ xe và khu đệm cây xanh cảnh quan (sức chứa 5.000 người).”…. Tự hào quá Việt Nam ơi!
Cán bộ đảng chưa chết đã được nhà nước lo chu toàn nơi chết. Chỉ tại mỗi một nghĩa trang tên Yên Trung, đã có sức chứa đến 5.000 người chờ sẵn.
Người ta có quá nhiều cái đáng bận tâm hơn để củng cố đảng, để ca ngợi chế độ đã ban cho cơ hội vơ vét lợi danh. Bây giờ, báo chí và các bài viết trong nước nhắc đến tên đường Đồng Khởi, với những tựa đề đập mạnh vào mắt, đánh bóng cho chế độ cai trị như: “Con đường sang trọng bậc nhất”, “5 lý do khẳng định “Đẳng cấp độc tôn” đường Đồng Khởi”,… Trên một tờ báo, tự hào là “trí thức trực tuyến”, Mộc Trà đã kể lể đầy tự hào: “Đồng Khởi xưa có tên là Catinat – còn có tên khác là “Rue no.16” (thời Pháp thuộc). Từ đó đến nay, đường Đồng Khởi đã có hơn 150 năm lịch sử, trở thành một trong những con đường lâu đời nhất tại thành phố. Với một vị thế độc tôn và tầm quan trọng bậc nhất đối với kinh tế, văn hóa, chính trị, du lịch, là sự kết hợp hoàn hảo, hòa quyện giữa lịch sử, hiện tại và tương lai; đường Đồng Khởi xứng đáng với danh xưng “con đường vàng”, “trái tim” không thể thay thế được của thành phố mang tên ….”

Nhiều bài, có đến cả ngàn chữ, cũng chỉ để nói nhắc đến con số 150 năm, chiều dài lịch sử của con đường, để rồi tung tăng ca tụng những “sang trọng bậc nhất” bây giờ, nhờ công ơn xây dựng của đảng. Có lẽ, hơn 45 năm rồi, vốn đã quen tuân theo những bài bản có chủ trương, quy định. Các bài viết về con đường Đồng Khởi, tránh né nhắc đến chứng tích lịch sử vô cùng quan trọng: Con đường bị gọi là Đồng Khởi bây giờ, đã từng được mang tên Tự Do, từ năm 1954 đến tháng 4 năm 1975; trong suốt thời kỳ miền Nam Việt Nam còn tự do, khi thành phố vẫn còn mang tên Sài Gòn, khi Sài Gòn vẫn còn đường Tự Do, đường Công Lý,… khi Công Lý và Tự Do của miền Nam chưa bị tiêu hủy bởi “Đồng Khởi” và “Nam kỳ khởi nghĩa”.

Mặt trời sẽ lên, thêm một ngày chờ đợi!

Ngày thêm ngày, người còn bị lùa chạy trên con đường một chiều, mải miết xuôi theo dòng đời. Dòng đời mà đảng đã an bài cho dân. Dòng đời vô vọng. Bao giờ tới phiên mình, hay phiên của người thân! Như Sài Gòn và những con đường đã mất tên, Công Lý và Tự Do vẫn còn bị vùi dập trong các hố chôn lịch sử của nhà cầm quyền.
Cho đến nghìn sau, lời đau nhớ mãi:

Nam Kỳ Khởi Nghĩa tiêu Công Lý!
Đồng Khởi vùng lên mất Tự Do!

Bùi Đức Tính

]]>
Nuôi mẹ thời Đại Dịch http://thoibao.com/nuoi-me-thoi-dai-dich/ Mon, 18 May 2020 21:23:22 +0000 http://thoibao.com/?p=283042 Khi cha mẹ tôi dọn về ở với tôi cách đây khoảng 2 năm, trong mấy tháng đầu tôi thường dậy sớm đi dạo với mẹ tôi để bà được vui hơn. Trong thời gian này, mẹ tôi tập đi bộ hàng ngày để được khỏe mạnh trở lại sau một cơn đau dài đăng […]]]>

Khi cha mẹ tôi dọn về ở với tôi cách đây khoảng 2 năm, trong mấy tháng đầu tôi thường dậy sớm đi dạo với mẹ tôi để bà được vui hơn. Trong thời gian này, mẹ tôi tập đi bộ hàng ngày để được khỏe mạnh trở lại sau một cơn đau dài đăng đẵng. Lúc này mẹ tôi đã hơi bị lẫn nên không dám đi ra khỏi xóm, sợ bị lạc. Đi hoài trong cái xóm nhỏ tôi cũng thấy chán nên rủ mẹ tôi đi dạo mấy cái xóm kế bên. Bà nói có con thì mẹ còn dám đi chứ đi một mình sẽ không biết đường về. Cảm xúc bà biểu lộ cho cảnh vật xung quanh tựa như cảm xúc của một trẻ thơ. Bà có những ý tưởng ngây ngô dễ thương làm tôi bật cười.

Một ngày kia, tôi đề nghị chơi đố cho đỡ chán thì bà vui vẻ nhận lời. Bà còn hỏi phần thưởng là gì nếu bà nói đúng nhưng khi nghe hình phạt tôi sẽ dành cho bà khi bà trả lời sai thì bà phản đối liền. Nếu bà nói đúng thì sẽ nhận được một nụ hôn còn nói sai thì sẽ bị tôi búng lỗ tai nhè nhẹ. Chưa gì bà đã hồi hộp che đôi tai lại dọc đường đi. Thay vì chơi đố chữ, tôi hỏi những câu đơn giản như con gì biết bay, con gì có 4 chân, hoa gì bắt đầu bằng chữ L, v.v. Bà trả lời được phần lớn và cảm thấy hân hoan thích thú. Chưa thấy ai sợ đau như mẹ tôi. Mỗi lần bà nói sai, tôi mới vừa làm dấu hiệu búng là bà tỏ ra sợ sệt mặc dù tôi chỉ búng yêu mà thôi.

Chỉ còn 5 phút nữa là đến nhà, tôi hỏi mẹ có thể tìm cho con con vật gì bắt đầu bằng chữ C mà có cánh không. Các bạn có biết mẹ tôi trả lời sao không? “Con cọp!” Tôi trợn mắt không ngờ nhưng bật cười liền sau đó làm bà chột dạ. “Con cọp làm sao có cánh mẹ?” Bà ngạc nhiên hỏi tôi một cách ngon ơ, “Tại sao không?” Mắc cười quá, tôi đi vội để tránh cười trước mặt bà. Bà lẽo đẽo theo sau hỏi tại sao cọp không có cánh? “Lẽ ra mẹ bị búng lỗ tai rồi nhưng con tha cho mẹ đó. Thôi về!”

(Như Ý)

]]>
Phụ Người http://thoibao.com/phu-nguoi/ Fri, 15 May 2020 15:32:03 +0000 http://thoibao.com/?p=280438 Thanh Thu Gió mùa gió chướng về nơi nơi Anh mệt mỏi đưa tay chống đỡ Em vội vàng nối bước chân anh Những bạn đồng hành sao cũng thế Lo lắng phiền muộn cố nguôi đi Gió mùa gió chướng xao động mãi Thuốc nào cho tan mầm bệnh tăng Chiều hôm gió mưa […]]]>

Thanh Thu

Gió mùa gió chướng về nơi nơi
Anh mệt mỏi đưa tay chống đỡ
Em vội vàng nối bước chân anh
Những bạn đồng hành sao cũng thế
Lo lắng phiền muộn cố nguôi đi
Gió mùa gió chướng xao động mãi
Thuốc nào cho tan mầm bệnh tăng
Chiều hôm gió mưa hạt mù mịt
Cách ly rồi sao về thăm mẹ ?
Bạn anh hay những người em mến ?
Mình lỡ hẹn rồi nhắc nhở thôi
Em đành lỡ vì đâu nên nỗi
Từ đây không có ngày chung bước
Em đi hay anh phải ở lại
Nhà vắng em rồi hàng cây khô
Mùa dịch đến người đành xa nhau
Triệu triệu con cúm từ xa lạ
Những cơn ho sốt sao hại người
Vòng hoa khăn tang về buổi cuối
Tiễn em đi vội vã
Bước chân anh nặng nề em hỡi
Anh không tưởng mình đành mất nhau
Em phải đi hay anh đã phụ người
Như một thoáng trần ai
Như lá thu vàng rơi lìa cành
“Ta mất nhau một đời …
*Ca khúc Nỗi đau muộn màng “

*T Thu thật xúc động khi nhận thấy những người thân thương phải xa lìa nhau trong mùa dịch như vợ chồng anh chị Nga và Hiệp, mượn ca khúc của nhạc sĩ Ngô T Miên được nghe qua tiếng hát truyền cảm của anh T Hoàng trong Chương trình nhạc Hương xưa kỳ thứ 245 viết vài dòng tâm sự…

]]>
Ngày Đại Tang http://thoibao.com/272163-2/ Tue, 05 May 2020 15:43:45 +0000 http://thoibao.com/?p=272163 Bùi Đức Tính Tin thời tiết vào lúc 5 giờ sáng nay, dự đoán Victoria có nắng, khá ấm, 12 độ C. Tôi an tâm hơn, khi nghĩ đến những người đang lái xe vào thành phố Victoria. Trời có gió nhẹ, khá lý tưởng để ảnh chụp ngoài trời; hình ảnh dễ thêm phần […]]]>

Bùi Đức Tính

Tin thời tiết vào lúc 5 giờ sáng nay, dự đoán Victoria có nắng, khá ấm, 12 độ C. Tôi an tâm hơn, khi nghĩ đến những người đang lái xe vào thành phố Victoria. Trời có gió nhẹ, khá lý tưởng để ảnh chụp ngoài trời; hình ảnh dễ thêm phần sống động.

Chuyến phà đầu từ Tawassen sang Victoria là 7 giờ sáng. Thế nhưng, từ 5 giờ sáng đã có xe đậu vào hàng, để chờ xuống phà. Còn đang trong mùa đại dịch cúm Vũ Hán, việc đi lại phải giới hạn theo luật; cho nên các chuyến phà cũng bị cắt giảm. Người ta phải đến sớm, nếu không muốn nằm lại, chờ chuyến sau. Chờ thêm hai tiếng, 9 giờ sáng, mới có chuyến phà kế tiếp; có nghĩa là sẽ vào thành phố Victoria vào buổi trưa, coi như mất trọn buổi sáng.
Vào ngày 23 tháng 4 năm 2015, Canada ban hành luật số S.C. 2015, c. 14; quy định: hàng năm, ngày 30 tháng 4 là “Journey to Freedom Day” (“a day to remember and commemorate the lives lost and the suffering experienced during the exodus of Vietnamese people” – Preamble); để ghi nhớ và tưởng niệm những người đã chết và thảm cảnh của người tỵ nạn Việt Nam.

Hôm nay, ngày 30 tháng 4.

Dựa theo luật, Quốc Hội tỉnh bang BC sẽ cho thượng kỳ Việt Nam tự do, như hai năm trước đây. Có người từ vùng Greater Vancouver, có người ở ngay tại Victoria, cùng lái xe vào trung tâm thành phố Victoria. Người Việt mình mong được chứng kiến quốc kỳ Việt Nam, trên hàng cột cờ trước tiền đình tòa nhà Quốc Hội.

Năm 1954.
Gần một triệu người miền Bắc đã phải di cư vào Nam, để trốn tránh chế độ cộng sản.

Năm 1975.

Quân cộng sản cưỡng chiếm miền Nam. Lại một lần nữa, hơn một triệu người đã phải liều mình vượt trốn chế độ cộng sản. Chỉ trong số thuyền nhân, đã có từ hai trăm đến bốn trăm ngàn người đã chết, vì vượt biển tìm Tự Do. Thuyền nhân Việt Nam đã phải chết thê thảm, và chết nhiều hơn tổng số bệnh nhân tử vong vì vi trùng COVID-19 trên toàn thế giới.
Quốc kỳ của miền Nam Việt Nam theo mệnh nước, theo người tỵ nạn đến khắp thế giới. Màu cờ vàng của quốc kỳ, còn là biểu tượng cho Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền của quốc gia, dân tộc. Khác hẳn với màu cờ đỏ của đảng cộng sản.

Như niềm hy vọng năm nay; không lâu sau đó, từ 10 giờ 42 phút sáng, phim và hình ảnh quốc kỳ Việt Nam được lần lượt chuyển về bạn bè và các Hội đoàn, tại Vancouver, tại Canada, sang các quốc gia bạn. Màu cờ vàng rực sáng, tung bay trên nền trời xanh tươi, trước tòa nhà Quốc Hội cổ kính.
Đến 5 giờ 14 phút, Victoria News, có cho đăng bản tin trong ngày, với tiêu đề lớn:
“South Vietnam flag flies in Victoria to remember liberation”
Vì ảnh hưởng luật cách ly, trong cơn đại dịch; năm nay, cộng đồng người Việt không thể tụ họp để thực hiện các nghi thức ngày Quốc hận, như hàng năm. Dù vậy, nhờ Victoria News và phương tiện truyền thông; hình ảnh quốc kỳ tự do được chính thức treo trên cột cờ của Quốc Hội BC, đã được nhanh chóng truyền đi khắp mạng thông tin toàn cầu. Hình ảnh lá cờ vàng thật đẹp. Bài tường thuật của Victoria News thật xúc động. Niềm xúc động, cùng lắm xót xa đau, trong ngày 30 tháng Tư!
“Lá quốc kỳ miền Nam Việt Nam bay trên Victoria”, trong ngày tưởng niệm năm nay, đã gợi nhắc tấm hình làm tựa đề cho bài viết này. Hình chụp cuộc tuần hành của sinh viên Việt Nam tại Paris; để tang cho ngày mất nước, 45 năm trước đây.
Người chụp ảnh là sinh viên Trần Đình Thục. Anh có kể lại:

“… Tổng Hội Sinh Viên tại Paris do anh Trần Văn Bá làm chủ tịch lúc đó, đã quyết định phải làm một cái gì để nâng đỡ tinh thần bên quê nhà, mong ước chuyển về bên ấy chút tâm hiệp với các chiến sĩ đang khốn đốn vì bom lửa đạn. Họ, những người sinh viên thuộc vùng Paris và những vùng lân cận Orsay-Antony, Nanterre, đã kêu gọi nhau cùng tổ chức “Một Ngày Cho Quê Hương”.

Trước tiên, phải là một cuộc xuống đường để ủng hộ miền Nam.
Ngày 27 tháng Tư, mọi người hẹn nhau tại Cư Xá Sinh Viên Quốc Gia trên đường Bertholet. Cư xá là một khách sạn 7 tầng, Hotel Lutèce, được sinh viên âu yếm gọi là Nhà Lý Toét, nằm ngay trong khu La Tinh, trung tâm của các ngôi trường đại học lớn của thủ đô Paris.
Hotel Lutèce được chính phủ Việt Nam Cộng Hòa thuê dài hạn từ nhiều năm, để những sinh viên tá túc trong những năm đầu khi họ từ Việt Nam qua Paris du học, giống như một ký túc xá.
Sinh viên đồng lòng thúc đẩy anh em xuống đường trong tinh thần tưởng nhớ những chiến sĩ đã hy sinh tại quê nhà để bản thân mọi người được tiếp tục trau dồi việc học nơi xứ người.
Từng thước vải đen được trải ra, những dòng chữ “Vinh Danh Các Chiến Sĩ Ðã Nằm Xuống Cho Tự Do,” “Miền Nam Tự Do Bất Diệt,” “Ngày Ðại Tang,” v.v… được viết bằng tiếng Pháp, chữ trắng trên nền vải đen.
Mỗi người tự chít cho mình vành khăn trắng trên trán, phần để nói lên tâm nguyện của mình, phần để nhận diện nhau, tránh sự trà trộn trong lúc diễn hành của những phần tử “không quốc gia,” muốn phá hoại.
Ðúng 3 giờ trưa, anh em sinh viên bắt đầu cuộc tuần hành trong thầm lặng qua các dãy phố của Quận 5, khu đại học. Biểu ngữ được giương cao, bát nhang, lá quốc kỳ màu vàng ba sọc đỏ được căng rộng bốn góc, dẫn đầu cuộc tuần hành dài cả trăm người.
Hoàn toàn trong im lặng, không hoan hô, đả đảo. Một sự chịu đựng đầy tôn nghiêm và trật tự. Khởi đầu đoàn người bắt đầu đi từ đường Gay Lussac, một đại lộ sát nách với Ðiện Panthéon, nơi chôn cất những vĩ nhân của nước Pháp như Voltaire, Victor Hugo, Marie Curie, v.v… Họ đi dọc xuống tới vườn Luxembourg, rồi quẹo mặt ra đường Boulevard St. Michel, đi ngang trước cửa trường La Sorbonne, ngôi trường Văn Khoa và Luật Khoa nổi tiếng của Paris. Ðoàn người qua chiếc cầu Pont St. Michel, sau đó đổ ra đại lộ Rivoli rồi trực chỉ nhắm công trường La Concorde đi tới.
Chữ La Concorde có nghĩa là “Ðồng Tâm”. Anh em sinh viên, những đứa con của miền Nam, đang thực sự hướng về quê nhà, đang thực sự đồng tâm chia sẻ nỗi điêu đứng của đất nước trong giai đoạn tàn tạ khốn đốn này…
Anh chị em sinh viên vẫn âm thầm tiến bước. Ban báo chí của tổng hội trao tay cho những người qua đường những tờ bươm bướm in bằng máy ronéo nói lên tình trạng của một nước tự do nhỏ bé đang bị cả khối Cộng Sản phụ nhau lấn chiếm.
Cuộc tuần hành, không có giấy phép của Tòa Đô Chính. Tình trạng đất nước đang ở giai đoạn cấp bách, không còn thì giờ để xin phép qua thủ tục hành chánh rườm rà. Vả lại đơn xin chắc chắn cũng sẽ bị Tòa Ðại Sứ Bắc Việt và cánh tả Pháp thiên Cộng phản đối, ngăn chặn.
Bởi vậy phải tính chuyện liều mạng tổ chức một cuộc tuần hành chớp nhoáng, trong trường hợp bị chặn lại, cũng sẽ có tiếng vang trong giới báo chí, vẫn sẽ có những phản ứng thuận lợi về hình ảnh hiền hòa của một miền Nam đang bị xâm chiếm, trái ngược với những thỏa hiệp trong Hiệp Ðịnh Paris đã được ký kết ngay tại thành phố này.
Cuộc tuần hành tuy không hợp lệ, nhưng lại là một thành công. Thành công ở chỗ đã không bị giải tán trong suốt lộ trình. Cơ quan công lực thành phố Paris thấy những khuôn mặt sinh viên trẻ Việt Nam tuần hành đông đảo, nhưng nghiêm trang, trong trật tự, không la hét, đập phá nên họ lẳng lặng theo sát, cuối cùng, cấp trên của họ đã tiếp xúc thẳng tại chỗ với người đại diện của Tổng Hội Sinh Viên là anh Trần Văn Bá. Sau khi đã biết rõ chủ đích ôn hòa và lộ trình của đoàn người, chính họ lại đích thân hộ tống đoàn tuần hành, giúp giải tỏa những khúc kẹt xe do cuộc xuống đường gây nên để giao thông có thể tránh và rẽ qua những hướng khác, một cách nhã nhặn êm thấm …
Riêng đối với niềm tin của những con dân đất Việt, hồn thiêng sông núi, vong linh các chiến sĩ của tiền nhân, hình như đã chứng giám và hỗ trợ cho lòng thiện tâm của lớp trẻ, nên chương trình “Một Ngày Cho Quê Hương” đã có được một cuộc tuần hành êm ả, thành công …

Ba ngày sau, đâu ngờ, Sài Gòn thất thủ.
Thôi rồi, thế là mất hết, mất Sài Gòn, mất quê hương, mất luôn ngày về của lớp trẻ vẫn hằng mơ ước một ngày có thể đóng góp phần trí tuệ của mình cho quê hương thân yêu miền Nam…”

Riêng về anh Trần Văn Bá. Sau nhiều năm chuẩn bị, ngày 6 tháng 6 năm 1980, anh cùng một số thân hữu đã âm thầm trở về Việt Nam; hoạt động chống cộng sản. Không may cho anh, ngày 11 tháng 9 năm 1984, anh Bá bị bắt tại tỉnh Minh Hải (Cà Mau). Theo thông cáo của nhà cầm quyền, anh bị xử tử ngày 08 tháng 01, 1985 tại nhà tù Thủ Đức.
Anh Trần Văn Bá là người thứ 8 trong gia đình đã bị cộng sản sát hại!

45 năm đã qua.
Màu cờ vàng Tự Do vẫn bay cao trên các thành phố trên thế giới.
Như Victoria News hôm 30 tháng Tư có viết:
“Flag brings focus to ‘perilous journey to freedom made by millions of refugees’ to Canada”
Hôm nay, quốc kỳ Việt Nam nhắc đến hành trình tìm đến tự do đầy nguy hiểm của hàng triệu người tỵ nạn tại Canada.

45 năm đã qua.
Các biểu ngữ trên băng vải đen, do sinh viên Việt Nam du học tại Paris, mang đi sau quốc kỳ của mình, năm 1975, sẽ vẫn mãi mãi in đậm trong lịch sử tỵ nạn cộng sản.
Ba mươi tháng Tư.
Ngày đen như vận nước!
Thật vậy.
“Grand Journée de Deuil”
Ba mươi tháng Tư: “Ngày Đại Tang”!

Bùi Đức Tính

]]>