Thời Báo Vietnamese Newspaper

Buôn Ðôn (kỳ 1)

Bài – ảnh: Trần Công Nhung

Cách trung tâm TP Buôn Ma Thuột (Ðắk Lắk) chừng hơn 40km về phía Tây có một vùng đất từ lâu nổi tiếng về nghề săn bắt và thuần dưỡng voi rừng. Ðó là khu du lịch sinh thái Bản Ðôn thuộc địa phận xã Krông Na, huyện Buôn Ðôn – nơi chung sống của cộng đồng các sắc tộc: Ê Ðê, M’nông, Gia rai, Lào, Thái… Buôn Ðôn cũng đã và đang trở thành một địa danh nổi tiếng của du lịch Ðắk Lắk và Tây Nguyên nói chung.
Buôn Ðôn là tên gọi theo tiếng Lào, nghĩa là làng Ðảo, vì làng được lập bên cạnh con sông Sêrêpốk có nhiều đảo nhỏ nổi giữa dòng nước ngày đêm cuồn cuộn chảy. Một bên sông là cuộc sống cộng đồng buôn làng êm ả, một bên là rừng đại ngàn Yok Ðôn đầy bí ẩn, kỳ thú và như còn vang vọng những âm thanh hào hùng của các cuộc săn voi từ xa xưa. Dưới con mắt những nhà chuyên môn, Buôn Ðôn có nhiều điều kiện thuận lợi để khai thác cả hai loại du lịch: du lịch sinh thái và du lịch văn hóa. Nơi đây có Vườn quốc gia Yok Ðôn rộng hơn 100.000 ha. là bảo tàng phong phú về động thực vật tự nhiên.
Nhân dịp từ Nha Trang lên thăm người bà con ở Kron Buc, tôi hỏi thăm bác hàng xóm đôi điều để đi thăm Buôn Ðôn:
– Bác chắc đã sống ở đây từ lâu?
– Ðúng vậy, từ hồi còn nhỏ.
– Vậy bác còn nhớ chuyện mất Ban Ma Thuột năm 75, kể cho nghe với.
Người đàn ông tóc râu bạc phơ, kể những giây phút cuối cùng của Buôn Ma Thuột: “Vào khoảng nửa đêm ngày 10 tháng 3 – 75 tiếng súng nổ rầm trời. Lúc ấy tôi nằm ở bộ chỉ huy Cảnh Sát. Tin VC tấn công kho đạn Mai Hắc Ðế. Họ tiến nhanh như gió, đánh xuống Ty Cảnh Sát, Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 23, phi trường Phụng Dực. Ðến 10 giờ sáng hôm sau, Sư Ðoàn 23 tan, phi trường Phục Dực do Biệt Kích trấn, trận chiến vô cùng ác liệt, hai bên chết nhiều. Mặt trận phi trường ngưng tiếng súng, coi như Buôn Ma Thuột mất. Những ai còn lại đều tìm đường rút về Nha Trang. Cuộc di tản cam khổ như thế nào không sao kể xiết. Tất cả các ngả đường đều kẹt cứng xe cộ và người. Ðạn pháo của VC rót không thương tiếc. Chúng tôi về đến Nha Trang thì dân cũng đã bỏ chạy. Rồi dài dài vào đến Bình Tuy, đến đâu cứ vào kho quân lương kiếm đồ ăn đi đường. Từ Bình Tuy theo ghe về Sài Gòn.”.
Người cựu quân nhân nhìn ra xa, buồn buồn kể tiếp: “…Tại vì bị VC lừa, đưa toàn bộ chủ lực sư đoàn 23 về giữ Pleiku…, vì ông Thiệu giận lẫy Mỹ…” Không muốn khơi lại nỗi buồn đau nơi người lính già, tôi hỏi sang chuyện khác:
– Bác có biết cây Kơnia? Cây tượng trưng của đất Tây Nguyên.
– Người mình gọi là cây Cà. Tôi cũng không để ý.
– Buôn Ðôn có xa không bác?
– Mấy chục cây thôi. Bây giờ là khu du lịch lớn.
Buôn Ma Thuột là thị xã của Daklak. Lâu nay nhiều người thường có thói quen gọi Ban Mê Thuột. Ngay cả các cơ quan hành chánh vẫn viết như thế trên các văn bản… Buôn Ma Thuột theo tiếng địa phương có nghĩa: Làng ông A Ma Thuột, người có công xây dựng nơi này. Buôn Ðôn là một trong 17 huyện của Daklak, cách thị xã Buôn Ma Thuột 40km.
Tôi nhờ người quen gọi cho một taxi, đi thăm Buôn Ðôn trong một buổi. Ðường tốt, trời tháng Hai nắng nhưng không nóng lắm. Ra khỏi thành phố, cảnh nhà quê vắng vẻ buồn hiu, cây cối khô cháy, vài nhà ở rải rác, đời sống như ngưng đọng, thỉnh thoảng mới thấy một người “Dân Tộc” đi lang thang trên đường. Tây Nguyên và Tây Bắc, cả hai đều nghèo nhưng Tây Bắc cảnh sắc tươi mát hơn, đời sống sinh động, ruộng nương đồi núi phủ màu xanh. Tây Nguyên, ảm đạm khô cằn như một thể xác đã kiệt sức. Dọc đường, tôi hờm máy ảnh trên tay mà chẳng có gì để chụp, ngoài mấy cây cao to hai bên đường, anh xe bảo cây Kơnia.
Xe càng về gần Buôn Ðôn, càng có nhiều cây Kơnia, cây lớn cành nhỏ gãy khúc tủa chi chít, lá li ti, trông xa tưởng cây đã chết khô, giống như những cây Phượng Tím ở Cali lúc hoa tàn. Tưởng tượng có một rừng cây như thế sẽ hấp dẫn người chơi ảnh không ít.. Nếu thu nhỏ làm một chậu Bonsai lại càng mê hơn. Trên xe không mấy ai biết rõ giống cây này. Có những sự vật vì quá quen, quá gần nên đôi khi chúng ta như không còn thấy nữa. Nhiều người sống một đời tại Huế mà không biết Ðại Nội, không biết Ngự Bình.
Cây Kơnia, tôi biết qua lời ca nhạc phẩm Bóng cây Kơnia, của Phan Huỳnh Ðiểu:
Buổi sáng em lên rẫy, thấy bóng cây Kơnia.
Bóng ngã che ngực em, về nhớ anh không ngủ.
Buổi chiều mẹ lên rẫy, thấy bóng cây Kơnia,
bóng tròn che lưng mẹ, về nhớ anh mẹ khóc.
Em hỏi cây Kơnia gió mây thổi về đâu…
Âm hưởng của bản nhạc rất Tây Nguyên, nó như là lời than thở của núi rừng huyền bí. Ðiệp khúc cuối bài chỉ có 4 âm mà làm xao động lòng người: “Như bóng cây Kơnia, như bóng cây Kơnia, như bóng cây Kơnia….” Phan Huỳnh Ðiểu là nhạc sĩ tiền chiến, đã có nhiều bài nổi tiếng như Mùa Ðông Binh Sĩ, Trầu Cau…Nhưng Bóng cây Kơnia theo tôi, chỉ lôi cuốn người nghe về phần nhạc, còn lời nên dừng ở đoạn trích nêu trên, để hình dung tình tự của của cây, nỗi xao xuyến của người… không nên đi xa, lạc vào ma mị.
Xe chạy hơn tiếng mới đến Buôn Ðôn, nhiều nhà sàn, nhiều cửa hàng Thổ cẩm, Rượu Cần. Khách du lịch thích thú rảo chơi. Ngay trạm đầu tiên là văn phòng, nơi bán vé “tham quan”… Sau lưng văn phòng là bãi đất có hai con voi đang nghỉ ngơi xông khói. Không biết khói đốt rác hay để xông cho voi khỏi bị muỗi mòng. Tôi hỏi thăm người đàn ông ngồi gần đấy:
– Sao hai con voi này đứng không ở đây?
– Voi để du khách cưỡi, mua vé trong kia.
– Bao nhiêu một vé?
– 50 ngàn 15 phút.
Tôi vào hỏi mua một vé rồi cả nhà thay phiên cưỡi voi. Cưỡi voi không như cưỡi ngựa, phải từ tốn cẩn thận. Nài voi, dẫn voi đến bên một cầu thang cao, khách leo lên rồi buớc qua ghế trên lưng voi, Nài ngồi trên cổ voi điều khiển voi đi một vòng chừng trăm mét, Voi chậm rãi đi, chẳng có cảm giác gì lạ, gọi là cho vui. Có một số khách đang đứng chờ, tôi nói đùa: “Như vầy là lên voi, còn xuống chó thì chưa biết”, mọi người cười ồ. Tôi cho người nài ít tiền “tip” rồi hỏi thêm:
– Voi này được bao tuổi?
– 30 tuổi.
– Thường thường voi thọ bao lâu?
– 120 tuổi.
– Con voi này tên gì?
– Y Nuôn.
Tôi vỗ vào vòi voi và gọi Y Nuôn, nhưng voi tỏ vẻ không ưa, anh nài nói một câu gì đó, Y Nuôn đứng yên.
– Y Nuôn là voi đực à?
– Cái.
– Y là trai, ni là gái mà.
– Loài vật Y là cái.
Sau màn cưỡi voi, tôi đi xem hàng Thổ Cẩm. Thổ cẩm Tây Nguyên, sặc sở, tỉ mỉ công phu sắc sảo hơn Tây Bắc. Thế nhưng trong tôi, hình ảnh người Tây Bắc bao giờ cũng sáng sủa, đẹp và có duyên nữa. Cô Xoan Bản Nà Lọ (Lai Châu), cô Thao Bản Lác (Hòa Bình) không kém gì giai nhân Hà Thành hay gái Tây Ðô. Tất nhiên, mỗi nơi rồi cũng có “kỳ hoa dị thảo” riêng, như lần đến thăm Thánh Ðịa Mỹ Sơn (Quảng Nam) tôi đã chụp ảnh một cô gái Chăm trong đoàn ca múa, đẹp đến nổi có ông khách chạy theo hỏi xem “Kinh hay Thượng”.
Ngoài hàng Thổ Cẩm, còn nhiều nhà bán Rượu Cần: Rượu Cần Y Miên, Y Pao (ông Miên, ông Pao), tôi không uống được rượu, không hiểu hương vị Rượu Cần thế nào. Có người cho biết, rượu ta nấu bằng gạo, sắn hay bắp, Rượu Cần do ủ men một loại lá rừng, rồi pha nước suối. Rượu Cần thường cho vào hũ 3 hay 5 lít để bán. Rượu tại tư gia chứa trong ché (chum, vò) lớn. Mỗi khi có lễ lạc, mọi người trong tộc họ hay Buôn Bản, quây quần vừa uống rượu vừa đánh Cồng Chiêng múa hát.
(Còn tiếp)
Trần Công Nhung

Tin sách
Sách Quê hương qua ống kính bộ 16 tập (discount 50% 10 tập đầu) xin liên lạc tác giả:
Tran Cong Nhung
PO.Box 8391 Fresno, CA. 93947
email: trannhungcong46@gmail.com

Comments are closed.

error: Content is protected !!