Thời Báo Vietnamese Newspaper

Bùa chú

Trần Hữu Thuần

Nhiều người đã nghe nói đến bùa chú và hiệu quả ghê gớm của nó. Không ai trong chúng ta chưa từng nghe lời khuyên của người sành sỏi rằng nếu có dịp tiếp xúc với đồng bào thiểu số miền cao chớ dại vướng víu với các bông hoa rừng biết nói cho dẫu đẹp nghiêng trời và quyến rũ hơn ma túy. Lại càng chớ dại hơn nữa nếu vướng víu rồi mà quất ngựa truy phong. Các cô gái miền cao thời trước một khi đã “phải lòng”- thời trước thôi chứ thời nay chắc các cô chả dại nữa đâu- sẵn sàng để người yêu thám hiểm bất cứ nơi nào trên cơ thể dậy hương nắng cháy ngoại trừ đôi gò bồng đảo. Các cô thẳng thừng từ chối với lý do chắc nịch, cái này của con không phải của anh. Lỡ ra đã say men tình mà thám hiểm thì phải chịu cưới xin theo phong tục và ở lại đó với nàng vì nếu không sẽ bị các nàng thư trứng gà, thư đinh, thư mảnh sành vào bụng đau đớn cho đến chết. Đáng đời những kẻ phụ tình, nhất là phụ tình người đẹp sơn cước. Thế đấy, người ta đồn thế đấy, thực hư thế nào thì không biết có ai dám bảo đảm tự thân đã gặp cảnh oái oăm như thế không.

Các cô gái miền cao thời đó đúng là đơn sơ thật. Bãi đậu đoàn xe quân đội chờ lệnh khởi hành từ Pleiku quay về Qui Nhơn của chúng tôi lúc đó là một bãi đất trống thật rộng nằm giữa thị xã Pleiku và quận Lệ Trung, chừng hai ba cây số phía đông thị xã Pleiku và ba bốn cây phía tây quận Lệ Trung, sát Quốc lộ 19. Chạy song song với bãi đậu xe theo hướng bắc, cách bãi đậu xe chừng mươi mét, và thấp xuống chừng hơn mét là một dòng suối khuất sau một hàng bờ bụi cao thấp thân người. Một lần vào mùa hè, tôi đang ngồi trên xe Jeep chờ lệnh Quân đoàn để xuất phát đoàn xe thì có mấy người lính thuộc quyền đến bảo tôi:
“Đại bàng, ra đây tụi em cho coi cái này vui lắm.”
Tò mò, tôi đi theo. Dẫn tôi đến bụi cây bên bờ suối, các cậu bảo tôi:
“Đại bàng nấp thấp xuống và tiến sát bờ suối chừng nào hay chừng nấy.”
Chẳng hiểu chuyện gì sắp xẩy ra, tôi “tuân lệnh” các cậu vì tò mò và ham vui. Đến chỗ nấp kín đáo, tôi nhìn xuống suối thì thấy một đám tiên nữ miền cao đang vùng vẫy giỡn nước, và dĩ nhiên là tất cả đang tắm tiên. Một vài cô đứng lên cho thấy các cô tắm trần nửa thân trên nhưng mặc váy đen che nửa thân dưới. Nước suối trong vắt, mát rượi, vỗ lên vai trần ngực trần màu đồng hun của các cô. Mái tóc các cô sủng nước, cháy nắng nên không đen mướt như tóc gái đồng bằng. Từ mái tóc không dài lắm, nước chảy thành dòng mơn man trên vai trên ngực các cô. Thân hình các cô toát ra một vẻ đẹp kỳ bí của miền cao, chắc nịch của thú hoang, đơn sơ của hoa cỏ núi rừng, và thanh khiết như nước dòng suối các cô đang tắm. Một cậu ra dấu rồi cả đám lính của tôi vụt đứng lên la lớn “A.” Tiếng A dội lại đám rừng bên kia bờ suối vang vang một hồi lâu mới dứt. Giật mình, các tiên nữ hấp tấp vụng về trồi mình lên khỏi mặt nước nhìn về phía phát ra tiếng la rồi đồng loạt kéo… váy lên che mặt, để lộ tô hô toàn thân bên dưới vì chẳng ai trong họ mặc quần lót cả. Đám lính của tôi cười vang. Các cô đơn sơ thế đó, thay vì để váy che phần đáng che lại vội kéo váy che mặt vì… xấu hổ!

Không chỉ các cô gái đơn sơ mà người miền cao đều đơn sơ như vậy. Đem dưa leo từ trong rẫy ra đổ đống trên lề đường để bán ví dụ với giá ba đồng một trái. Người mua trước lựa trái lớn, ba đồng một trái. Đợt thứ nhì trái nhỏ hơn, ba đồng một trái. Đợt thứ ba trái nhỏ hơn nữa, cũng ba đồng một trái. Cuối cùng còn lại các trái èo trái ọt không ai chọn mua, đồng bào miền cao vẫn nhất định ba đồng một trái, trả giá bao nhiêu cũng không bán. Hỏi họ, họ trả lời:
“Không sao, không ai mua thì mình địu về cho con nó ăn.”
Người miền cao đơn sơ chất phác đến vậy chẳng lẽ lại đầy bùa ngãi làm hại người không làm hại họ sao? Vì vậy chuyện bùa ngãi tôi sắp nói đến không phải là chuyện bùa ngãi miền cao mà chuyện miền thấp, chuyện xẩy ra đích thân tôi chứng kiến và chuyện tôi nghe nói hoặc đọc thấy. Thoạt mới về nhận đơn vị, tôi được cho biết đơn vị tôi có nhiều người “chơi” bùa, cách riêng Trung sĩ Nhất Thường vụ có bùa Miên và Trung sĩ Nhất Truyền tin cận kề tôi có bùa Thiên linh cái. Căn gia binh của Thường vụ không có gì đặc biệt nhưng của Truyền tin thì mới vào đã biết ngay nhà này thờ cúng không như thường lệ. Cũng chỉ bình thường như mọi căn trong trại gia binh đơn vị, căn của viên Truyền tin toát ra một vẻ âm u kỳ bí với một bàn thờ dài không biết thờ những gì trên đó dưới ánh sáng lù mù của mấy ngọn đèn dầu trứng vịt ám khói vì đơn vị tôi lúc đó chưa có điện đường. Nhang đèn trên bàn thờ ngày đêm lúc nào chập chờn, bập bùng, và nghi ngút khói ngột ngạt đến độ tôi chưa một lần dám bước chân vào cho dẫu tôi đã đến thăm tất cả các gia đình trong đơn vị ít nhất là vào dịp Tết. Tôi không thấy mấy người luyện bùa của đơn vị tôi làm chuyện gì to lớn ngoài mấy chuyện nhỏ. Họ cũng không họ khoe khoang có bùa có ngãi. Họ cũng không hề làm hại ai hay to tiếng với ai. Tôi cũng nghe nói đơn vị tôi có mấy người luyện võ Miên gì đó thân mình đao kiếm chém không đứt ngoại trừ phía đầu, chỉ nghe nói mà chưa từng được chứng kiến vì các người đó đã đổi đi đơn vị khác trước khi tôi đến.
Chuyện xẩy ra là đơn vị tôi có thói quen chiều chiều sau giờ làm việc thầy trò đánh bóng chuyền với giải thưởng là một chầu bia có mồi nhậu hay không. Tôi không chơi giỏi nên thường bắt cặp với các đệ tử ruột gồm tài xế, truyền tin, và mấy xạ thủ trên xe bọc thép tự chế. Xe bọc thép này luôn luôn theo sát xe tôi, trên xe trang bị một đại liên 50, ba đại liên M60, năm súng phòng lựu M72, và dĩ nhiên súng cá nhân M16 và lựu đạn. Lần đó phe chúng tôi thắng, được phe “địch” đãi bia có mồi nhậu. Viên Truyền tin của tôi nhấp một ngụm bia, cầm đũa gắp một lát thịt rồi hỏi người chủ tiệc phe địch:
“Thịt gì đây bạn?”
Chủ tiệc cười nói:
“Thịt bò đó, ăn đi.”
Viên Truyền tin đưa lát thịt vừa đến gần miệng liền run tay, đũa rơi đánh cạch, lát thịt rơi theo nằm sượng sùng trên nền nhà. Mặt đỏ gay vì giận, viên Truyền tin gầm gừ nói với chủ tiệc:
“Mày hại tao làm gì. Tao đã hỏi rồi sao mày còn cố tình giấu tao, thịt chó mà mày dám nói thịt bò.”
Người bạn năn nỉ xin lỗi:
“Tao xin lỗi, chỉ thử cho biết thôi. Nghe mọi người nói mày có bùa kiêng nhiều thứ trong đó có thịt chó, tao thử xem bùa mày có đúng linh không.”
Viên Truyền tin vẫn chưa nguôi cơn giận:
“Lỡ bùa tao không linh cứ để tao ăn vào, mày có biết tao bị hành như thế nào không? Và phải mất bao lâu tao mới được thầy tao giải cho không? Mày giỡn không đúng chỗ.”
Người luyện bùa phải kiêng cử nhiều thứ, kiêng ăn thịt trâu, thịt chó, thịt mèo, tiết canh, kiêng ăn một vài thứ hoa quả và rau ráng như lá mơ, chuối hột, cà tím còn gọi là cà dái dê, và nhiều thứ khác tùy loại bùa đang luyện đòi hỏi. Họ cũng không được đi qua dưới dây phơi quần áo nhất là dây phơi quần áo phụ nữ. Đặc biệt người luyện bùa nuôi ngãi nào cũng phải kiêng chửi thề, ngoại tình, gian dâm, kiêng kỹ lưỡng còn hơn tín đồ tôn giáo kiêng phạm giới. Tín đồ tôn giáo phạm giới chỉ cần tùy tôn giáo mà xưng tội hoặc sám hối là được tha thứ. Người luyện bùa ngãi phạm kiêng cử sẽ phải tìm đến vị thầy truyền thụ để xưng thú và được thầy giải cho, nặng nhẹ lâu mau còn tùy điều đã phạm và tài năng của vị thầy.

Một lần khác, khi đoàn xe do tôi chỉ huy đã đến Pleiku, thầy trò chúng tôi quay lại Lệ Trung thư giãn tại một quán giải khát trong một vườn cà phê. Vừa gọi mấy chai 33 chưa kịp uống, một viên Trung úy hình như thuộc đơn vị địa phương đến bàn tôi đang ngồi, cầm theo một chai bia mời tôi uống, giọng nhừa nhựa dáng chừng uống đã nhiều cho dẫu chưa đến độ say hết biết. Nễ tình đồng đội và cũng có chút kiêng dè lực lượng địa phương, tôi vui vẻ đứng lên cụng chai, uống cạn rồi mời lại một chai giao hảo. Tưởng thế là xong, ngờ đâu viên Trung úy tiếp tục lè nhè kỳ kèo kéo tôi qua bàn anh ta. Viên Truyền tin của tôi lễ phép nói:
“Thưa Trung úy, Đại bàng em vậy đủ rồi, xin Trung úy về bàn để tụi em uống xong còn đi cho kịp công tác.”
Viên Trung úy bắt đầu cà khịa, văng tục, rồi lấy một cái ly thủy tinh cho vào răng cắn rồi nhai rau ráu để thị uy. Viên Truyên tin của tôi nhìn thẳng vào mặt viên Trung úy, nói:
“Xin Trung úy đừng cắn nữa, coi chừng chảy máu miệng bây giờ. Trung úy làm phiền Đại bàng em vậy sẽ không ra khỏi chỗ này đâu.”
Viên Trung úy hình như cũng biết bùa ngãi nên tái mét mặt khi nghe viên Truyền tin của tôi nói thế. Và quả thực, ngay lúc đó, miệng anh ta chảy máu dầm dề. Vội vã không kịp gọi tùy tùng, anh ta bước ra nổ xe gắn máy chạy khỏi vườn cà phê. Không ngờ, chưa được ba mét, cả xe và người của anh ta lao vào một bụi rậm bên lề đường. Trong khi đám tùy tùng của anh ta đang lo vực anh ta dậy, thầy trò chúng tôi vội vàng rút lui vì sợ chuyện bé xé ra to. Trên xe, tôi hỏi viên Truyền tin:
“Cậu nói làm gì để anh ta chảy máu và té xe tội vậy.”
Viên Truyền tin nói ngay:
“Đâu phải em muốn nói, Đại bàng. Em nhận ra ông ấy cũng có loại bùa như em nhưng yếu hơn nên miệng em bắt em nói ra vậy. Thầy em ở gần đây, có lẽ ông Trung úy ấy mới học sau này nên em không biết.”
Một lần khác nữa, viên Truyền tin xin tôi cho nghỉ phép một tuần. Tôi hỏi:
“Để chi vậy?”
“Dạ, để em chữa bệnh cho con anh Thường vụ.”
Ngạc nhiên, tôi hỏi:
“Chữa bằng bùa?”
“Dạ, bằng bùa. Anh ấy đã đưa con đi Quân y viện rồi đi bác sĩ tư cả mấy tháng này mà con ảnh không dứt được bệnh tiêu chảy.”
“Sao anh ấy có bùa mà không chữa lại nhờ cậu?”
“Dạ, bùa ảnh không chữa bệnh được, mà cũng không linh bằng bùa em.”
Kết quả đúng là viên Truyền tin của tôi đến cúng bái gì đó ở nhà viên Thường vụ. Con của viên Thường vụ lập tức hết bệnh tiêu chảy dây dưa đã nhiều tháng, trong khi viên Truyền tin bắt đầu bị chính cơn bệnh đó hành cả tuần sau mới hết. Khi hết bệnh, anh ta gầy rọc đi vì chỉ ăn toàn cháo.
Sau năm 1975, vào trại tù Long Giao, tôi được một bạn cùng tù dùng bùa Lỗ Ban chữa giúp chân sưng húp. Thời gian ở tù ban đầu còn ăn cơm no và rảnh rỗi nhiều thời gian. Chiều chiều chúng tôi có thể chơi bóng chuyền hoặc đá bóng trong sân trại. Một hôm, tôi vốn không giỏi đá bóng, lóng cóng thế nào bị đá trúng mắt cá chân. Chỉ trong vòng mấy phút cổ chân tôi sưng to gần bằng hai quả trứng vịt. Bạn tôi vội vàng đến nhà bếp xin muối về đắp nhưng sau một ngày chỗ sưng đã không giảm xuống mà còn tấy lên bầm tím. Thấy vậy, một người bạn kế cận đến bảo tôi:
“Tôi biết anh theo Công giáo không tin bùa ngãi nhưng thấy chân anh sưng to thế này tôi không yên tâm. Nếu anh đồng ý, tôi sẽ dùng bùa chữa cho anh.”
Thời gian đó cai tù đã bắt đầu chuyển tù đi đến nơi khác không biết nơi nào, lỡ tôi bị gọi di chuyển mà chân sưng thì sẽ rất là phiền toái khổ cực cho tôi. Chẳng chút ngần ngừ, tôi nói:
“Cám ơn anh hết lòng. Nếu được xin anh chữa giúp cho, may tôi hết sưng lỡ di chuyển sẽ không phải cực nhọc.”
Anh bạn dùng một nắm tre chẻ nhỏ thay nhang và múc một chén nước lạnh. Đốt nắm “nhang” cháy bốc khói, anh bạn huơ huơ xoay vòng quanh qua quanh lại chỗ sưng, miệng lẩm nhẩm tôi nghĩ là đọc thần chú. Chừng mươi phút sau, anh bạn ngậm nước phun phèo phèo lên chỗ sưng rồi bảo tôi:
“Anh yên tâm, sau đêm nay chỗ sưng chỉ còn lại một nửa. Ngày mai tôi chữa lần nữa sẽ còn một phần tư và lần thứ ba sẽ dứt hết.”
Nửa tin nửa ngờ, tôi thành thực cám ơn người bạn vì nếu không hết sưng thì cũng cám ơn tấm lòng tốt của người bạn chưa quen biết mấy. Anh bạn bảo tôi:
“Bây giờ tôi về tự chữa cho tôi.”
“Ủa, là sao?”
“Là tôi lấy chỗ sưng của anh về cho tôi, rồi tôi tự chữa.”
Sau một đêm, sáng thức giấc nhìn xuống tôi thấy quả thực chỗ sưng đã xẹp xuống rất nhiều, không còn bầm tím như hồi sáng nữa. Thêm hai lần chữa bùa, chân tôi trở lại bình thường, không một dấu vết nào của sưng tấy. Chẳng biết anh bạn tốt bụng chữa cho tôi giờ này ở đâu, còn mất thế nào.
Bên trên là chuyện nhỏ liên quan đến bùa chú mà tôi tự thân chứng kiến. Sau đây là một vài chuyện tôi nghe kể lại hoặc đọc được. Nghe kể lại rằng một trong các chú họ của ba tôi là một thầy phủ thủy rất cao tay ấn. Ông chú tôi đã luyện được âm binh để sai phái thực hiện mọi việc ông muốn. Người ta kể khi vui hoặc theo yêu cầu, ông chú tôi biểu diễn sai âm binh đem bụi chuối còn sống sau nhà trồng ra phía trước chỉ trong nháy mắt. Dẫu tài năng và nhiều âm binh như thế, ông chú tôi cũng không thoát khỏi bị Việt Minh cắt đầu chết mất xác. Chuyện khác là vào năm 1957, tại chợ Sãi cách thị xã Quảng Trị chừng ba bốn cây số về hướng Đông có một người đàn bà lấy một con ma làm chồng. Bạn học tôi lúc đó kể lại đã từng vào nhà bà và xin bà trổ tài sai bảo người “chồng ma” của bà. Bà rất vui tính và luôn nghe theo lời yêu cầu của các bạn tôi, các bạn tôi nói thế. Bà yêu cầu người “chồng” đốt bụi cây trước nhà, thế là bụi cây bừng bừng lửa cháy nhưng không có tàn lửa cũng không có khói. Lát sau, lửa tắt, bụi cây vẫn xanh tươi như cũ, không cháy một ngọn lá một cành nhỏ nào. Bà yêu cầu sơn nhà, căn nhà của bà được sơn mới chỉ trong nháy mắt. Thực hư các chuyện này thế nào tôi không thể chứng minh được.

Một loại bùa nhiều người đã nghe nói đến là bùa Lỗ Ban. Trên mạng Internet có một truyện dài hấp dẫn nhan đề Bùa Lỗ Ban của Thiên Hùng. Chuyện kể một chủ tàu bị thợ đóng tàu cũng là bạn đàn ca tài tử ếm bùa Lỗ Ban lên chiếc tàu nên buôn bán thua lỗ. Xen với chuyện bùa là chuyện tình giữa cô gái con chủ tàu có học và có tiền với một chàng thanh niên đạp xích lô có học nhưng nghèo tiền. Chàng thanh niên này đã liều lĩnh giải bùa cho gia đình người yêu, nhưng vì chưa đủ tài năng nên xém mất mạng nếu sư phụ chàng không đến cứu kịp. Ngoài ra, chuyện còn đề cập đến nghệ thuật đàn ca tài tử ở vùng sông nước miền Tây, với tiếng đàn réo rắt và giọng ca thu hút. Người ta nói các thợ mộc chánh thường ếm bùa Lỗ Ban vào cây cột cái nơi gác cây đòn vông để trả thù các chủ mướn cất nhà không đối xử tốt với bạn thợ. Cho tới nay có lẽ mọi người chỉ nghe nói chứ chưa ai được tận mắt chứng kiến việc ếm bùa hay hiệu quả của loại bùa này.
Chuyện kể một chủ nhà bị thợ mộc chánh ếm bùa vào cây đòn vông để hại chủ nhà nhưng may mắn chủ nhà cũng có theo học nghề nên được vị thần của thầy dạy ra uy không cho thợ chánh ếm trên đầu cột mà chỉ cho ở chân cột. Vị thần này cho gia chủ biết bùa ếm như thế sẽ không sao, thời gian sau sẽ hết. Một gia chủ khác cho dẫu đã đãi thợ rất trân trọng vẫn bị thợ chánh ếm bùa bùa nặng đến nỗi làm ăn thua thiệt, sức khỏe sa sút trầm trọng, rồi bản thân bị tai nạn suýt mất mạng. Riêng người nhà tối tối phải tập trung ngủ trong một phòng vì đêm nào cũng nhìn thấy một em bé từ trên đầu cột tuột xuống rồi lại từ dưới trèo lên. May mắn gia chủ tìm được một thầy cao tay ấn đến buộc người thợ mộc chánh phải thú tội và giải bùa gia chủ mới tai qua nạn khỏi. Trên mạng Internet hiện nay có vụ án một thầy bùa luyện Thiên linh cái ở miền Tây đã không ngần ngại giết chết mấy cô gái trong tuổi thanh xuân. Lão ta dựng một túp lều giữa đồng trống, đóng vai một thầy thuốc có thể chữa bá bệnh. Người thôn quê chất phác khó có thể với tới các bác sĩ hoặc thầy thuốc chân chính vì không đủ tiền chi phí vì thế rất dễ bị các lăng băm dụ dỗ, nhất là các cô gái hay đàn bà trẻ người non dạ. Không ai nghi ngờ lão và cũng không hiểu tại sao không ai lấy làm kỳ quặc khi lão chỉ chữa người bệnh có chọn lựa, thường là các cô gái hoặc đàn bà trẻ không cư ngụ tại địa phương hay vùng chung quanh. Sau khi gặp lão lần đầu tiên vào ban ngày, các cô gái lão đồng ý chữa bệnh đều được hẹn đến để thực sự được chữa vào lúc đêm khuya. Nhiều gia đình thấy mất con gái con dâu không biết vì lý do gì và mất tại đâu sau khi đi chữa bệnh nên báo chính quyền và manh mối được tìm ra thủ phạm giết người chính là lão. Lão giết các phụ nữ đó cắt đầu để luyện thiên cái, xác chôn ngoài ruộng gần túp lều lão cư ngụ.
Tôi cũng vừa đọc trên mạng Internet một bài dẫn giải một cách hết sức chân thành cách luyện “tinh linh chuối” thành con gái nuôi hoặc thành người tình. Bài dẫn giải tỉ mỉ từng bước, bước đầu tiên cây chuối được chọn phải là chuối hột con, sau đó tạo hình nhân bằng bùn trộn với máu của chính mình nếu luyện con gái nuôi hoặc tinh trùng cũng của chính mình nếu luyện người tình, rồi chôn hình nhân ở gốc chuối. Hình nhân này sẽ đi lên theo thân cây chuối khi cây chuối lớn lên. Kế tiếp là các bài niệm và các câu thần chú để đọc khi luyện hình nhân, thay đổi tùy theo muốn luyện thành con gái nuôi hoặc thành người tình. Phải nằm ngủ một lát hay suốt đêm với cây chuối cho đến khi cây chuối trổ buồng là giai đoạn cuối cùng. Đây là giai đoạn gay cấn nhất vì thành hay không thành kết quả mong muốn chính là vào lúc này. Sau khi chặt buồng và cây chuối lấy hình nhân từ trong cây chuối ra, người luyện đã có được một con gái nuôi hay một người tình theo mong muốn. Để giữ tinh linh, người luyện suốt đời phải kiêng cử nhiều thứ cũng như mọi người luyện bùa ngãi khác cộng thêm không được ăn chuối hột dù là thân chuối, hoa chuối, hay trái chuối. Nếu luyện thành con gái nuôi, người luyện không được gọi đứa con ruột đầu tiên bằng “thứ hai” theo phong cách từ Quảng Nam đổ vào miền Nam mà phải gọi bằng “thứ ba”; nếu luyện thành tình nhân, người luyện không bao giờ được gọi vợ bằng “nàng” mà chỉ có thể gọi bằng “em” hoặc bằng bất cứ tên gọi nào khác. “Thứ hai” và “nàng” là hai cách gọi tuyệt đối dành riêng để gọi cô con gái nuôi hoặc người tình tinh linh chuối đã luyện thành.
Bây giờ đến chuyện Koumathong. Vào thời điểm này, cùng với việc công khai mua thần bán thánh, bán đủ thứ bùa ngãi, bên nhà còn công khai rộ lên phong trào nuôi Koumathong mà người ta nói cũng là một hình thức luyện bùa Thiên linh cái. Trên mạng có vài clips mô tả cách luyện bùa này mà nguyên thủy ở Thái Lan hay Campuchia gì đó các thầy pháp sấy xác nhi đồng để luyện bùa phép rồi cho hồn nhi đồng đã luyện ẩn thân vào trong các hình nhân ví như các búp bê bằng nhựa hoặc bằng đất. Bề ngoài, các Koumathong này trông mủm mỉm dễ thương như các con búp bê nhưng bên trong chứa đầy tính ác. Người bán nói rõ Koumathong có công dụng giúp người nuôi nó kiếm được nhiều tiền bằng cách mua một bán mười, giúp đòi nợ mà người mắc nợ không trả không được, thậm chí giúp người nuôi trả thù cách thâm độc kẻ đã hại họ hoặc để hại người họ muốn hại. Sau đó, vẫn theo các clips, đến giai đoạn cuối cùng khi các Koumathong đã trở thành tinh quái hơn cả con người, chúng trở nên hết sức đòi hỏi và lúc đó chính các người nuôi Koumathong có thể bị phản lại đến chết hoặc bệnh hoạn nếu không tìm đến thầy đã bán cho để giải. Dĩ nhiên người bán Koumathong không bao giờ cho người mua biết kết quả cuối cùng có thể đến này, vì nếu biết ai dám mua. Nói cách khác, chính các thầy lớn thầy bé luyện và nuôi Koumathong được hưởng lợi nhờ tiền bán Koumathong, tiền tạ thầy khi gia chủ kiếm ra tiền, tiền cúng để duy trì hiệu lực của Koumathong, và tiền giải bùa khi gia chủ bị phản.
Kết luận thế nào về chuyện bùa ngãi này? Các câu niệm các bài chú xuất phát từ đâu? Có bài có câu bằng tiếng Việt đọc lên không đuôi không đầu, văn chương bình dân lủng củng chẳng biết nói đến điều gì, có bài có câu đọc lên nghe như tiếng Campuchia hoặc Thái Lan cũng không thể hiểu nghĩa là gì. Các lá bùa được viết bằng một loại chữ ngoằn ngoèo với nhiều vòng xoắn trông giống râu móc các loại bầu bí dây leo. Riêng về chuyện nghe kể hoặc đọc được, có bao nhiêu phần sự thực trong đó, người nghe dễ dàng đặt câu hỏi “có chắc đã xẩy ra như vậy không.” Thông thường người ta cho rằng bùa chú là quyền lực của thế giới thần bí, thế giới con người chưa chạm đến được. Một vài tôn giáo nhận bùa chú làm một phần của tôn giáo mình, hay chính người luyện bùa chúa nhận một phần của một tôn giáo nào đó làm của mình, không thấy ai định rõ được, nhất là khi chính các tôn giáo đó không hề mạnh mẽ lên tiếng phản đối việc bị vơ vào. Một vài tôn giáo khác cho rằng bùa chú có hiệu lực là nhờ quyền lực của ma quỉ, của Satan. Có thể thế chăng? Vì Satan, ma quỉ là cha đẻ của độc ác nên tự trong các loại bùa chú đã hàm chứa khả năng làm điều ác. Bùa Lỗ Ban ếm gia chủ táng gia bại sản và thiệt hại mạng sống, Koumathong sẵn sàng giúp mua một bán mười, và giết chết kẻ thù. Thế nhưng, có một câu hỏi ở đây. Bản chất của ma quỉ là hận thù, là không yêu thương. Đã thế, sao có thể có người luyện bùa chú chỉ để chữa lành bệnh tật giúp người khác mà thường không trao đổi lấy bất cứ điều gì vật chất ví như tiền bạc? Chẳng lẽ có ma quỷ của hận thù và ma quỷ của yêu thương sao?

Trần Hữu Thuần

Comments are closed.