Thời Báo Vietnamese Newspaper

Bát Tràng

Bài – ảnh: Trần Công Nhung
Sáng nay tôi lại đi rong khu phố quanh khách sạn. Nói đi rong, thực tình chỉ loanh quanh mấy con đường buôn bán chằng chịt. Nhà cửa không cao lớn, đa phần còn lối kiến trúc cũ. Có những góc đường còn nguyên cây si lâu đời rễ buông xuống như đầu tóc người khổng lồ. Hàng quán buôn bán y như những khu bình dân ở Chợ Lớn. Nhìn có vẻ lộn xộn tạp nham nhưng lạ mắt. Sống trong một xã hội có tổ chức, thứ nào ra thứ nấy, nay lại thích những hình ảnh bất bình thường. Một hàng cơm ngay lề đường, cạnh chỗ sửa xe dơ bẩn ồn ào vậy mà khách vẫn đông. Khách ngồi trên những chiếc băng gỗ thấp lè tè, chiếc bàn ọp ẹp cũng không cao hơn, các thức ăn bày ra giữa nơi đầy bụi bặm và ruồi. Không ai than phiền, họ ăn uống chuyện vãn tự nhiên. Những hình ảnh như thế vẫn bắt mắt hơn hình ảnh Dowtown LA.
Không riêng gì tôi, một vài nhiếp ảnh viên ngoại quốc cũng xỉa máy vào đấy và tỏ vẻ rất thích thú. Hình ảnh đôi quang gánh, chiếc nón lá, đáng cho họ tốn tiền đến đây chiêm ngưỡng. Những chiếc xích lô, xe ba gác, xe đạp, cách làm ăn buôn bán trên lề đường, đều là những hoạt cảnh hấp dẫn đối với du khách. Tôi không thấy công an cảnh sát, không ai làm công việc trật tự thành phố. Xe cứ bóp còi chạy, người cứ thảnh thơi đi, chẳng có gì rắc rối. Hai cô gái từ bên kia đường băng qua, một chiếc Honda chở đôi vụt đến. Ðụng cái rầm. Hai cô lăn cù ra giữa đường. Tôi cứ tưởng mọi người sẽ tri hô, xe cứu thương hụ còi chạy đến… nhưng không, nạn nhân tự lồm cồm bò dậy, nhìn nhau cười. Hai thanh niên lo kiểm soát xe, xem hư hỏng thế nào, rồi mạnh ai nấy đi. Chuyện lạ. Chuyện chỉ có ở xứ sở không luật pháp. Có người cho như vậy dễ sống hơn, không rắc rối, đỡ mất thì giờ.
Ðến trưa, tôi cũng kiếm một chỗ ghé vào ăn tạm. Tôi thử ngồi ngoài lề đường để nhìn người qua lại. Chung bàn có ông khách vui tính, tôi hỏi:
– Này bác, bác có để ý những người gánh hàng rong đi bán?
– Sao cơ?
– Tôi không hiểu, họ buôn bán như thế thì lời lãi bao nhiêu, làm sao đủ ngày hai bữa cơm, lấy đâu cho gia đình.
– Không làm thế, họ cũng chẳng biết làm gì. Buổi trưa, họ mua bát cơm trắng chừng ngàn bạc (chừng 5 cent) rồi xin tí mắm muối thế là xong.
Thật sự tôi chẳng hiểu lối làm ăn quá tài tử như thế. Quang gánh đi cà tơn, như dạo chơi. Họ thật thà mộc mạc kiểu nhà quê ra tỉnh. Tôi có nhờ một chị gánh quít, làm mẫu qua lại trước cổng một ngôi đền để chụp vài tấm ảnh. Trả tiền công chị nhất định từ chối, chỉ yêu cầu mua quít giùm. Tôi mua 2kg, chị lấy số tiền chưa tới 50 cent. Tôi biếu quít lại chị, lấy cớ không xách được, một ba lô máy đã quá tải rồi. Chị bán hàng nhìn tôi khó hiểu y như tôi không hiểu về chị. Cứ bên ngoài, đôi khi thấy cuộc sống nơi quê nhà thật “thoải mái”. O ép sao cũng được, thiếu thốn mấy cũng cam, có lẽ không một đất nước nào có con người cần cù chịu đựng như vậy.
Ðến chiều, tôi đi Bát Tràng. Bát Tràng thì cả nước ai cũng nghe nói. Gốm Bát Tràng, gạch Bát Tràng. Từ hồi còn nhỏ tôi đã thuộc lòng câu hát ru em:
Trên trời có đám mây xanh,
Giữa đám mây trắng, chung quanh mây vàng.
Ước gì anh lấy được nàng,
Ðể anh mua gạch Bát Tràng về xâỵ
Xây dọc rồi lại xây ngang,
Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân
Một hình ảnh tình tứ lãng mạn mà đầy chất nghệ thuật. Người con gái ở tuổi yêu đương, có nhiều vẻ đẹp, nhưng không phải lúc nào cũng dễ chiêm ngưỡng. Ngắm một thiếu nữ không như xem một cổ vật trưng bày, có chăng, các vị giám khảo trong buổi thi hoa hậu. Nhưng bất chợt thấy người đẹp rửa chân bên hồ thì ngắm no mắt. Ngắm cảnh ngắm hồ rồi ngắm gót chân son, chắc không ai viện cớ phiền hà. Xưa nay các văn-thi-sĩ đa tình thường ca tụng đôi bàn tay người yêu, ít ai tán tụng đôi chân. Mua gạch Bát Tràng để xây hồ cho người đẹp rửa chân, tất đôi chân phải đẹp, phải đáng giá. Thế mới xứng với gạch Bát Tràng.
Gốm Bát Tràng nổi tiếng trong thiên hạ. Tuy chưa hình dung được hình ảnh sẽ như thế nào, nhưng đến xem một nơi nổi tiếng xưa nay về ngành gốm, cũng thích lắm. Anh Ðặng Ngọc Thái, một tay ảnh ở Hà Nội giúp dẫn đường. Tôi ngồi chung xe Honda với anh. Chúng tôi qua cầu Chương Dương, cầu sắt làm thời Tây, nay đang tráng lại mặt đường. Xe chạy qua, cát bụi mù trời. Con Sông Hồng nước vàng đục. Không thấy thuyền bè, một vài chiếc xà lan nép hai bên bờ. Qua cầu rẽ phải, đi về hướng Gia Lâm, dọc theo đê Sông Hồng. Xe chạy ngay trên mặt đê tương đối rộng, hai ô-tô có thể tránh nhau. Ðê cao trên mực nước Sông Hồng chừng 7, 8 mét. Từ dòng sông vào chân đê là một bãi bồi khá rộng, nhà cửa rải rác giữa từng đám ngô khoai. Tôi hỏi anh Thái:
– Nghe nói nước Sông Hồng ghê lắm sao người ta dám làm nhà dưới lòng sông?
– Trước kia thì không có ai, nhưng chừng mươi năm trở lại đây nhờ kế hoạch tháo nước nên Sông Hồng có lên cũng chỉ tuần lễ thôi. Ðất trong Hà Nội đắt lắm nên nhiều người cứ liều.
– Vậy mỗi khi nước lên phải chạy à?
– Vâng, họ dọn lên đê che lều ở tạm.
Làng Bát Tràng nằm sát Sông Hồng. Chỉ một hai con đường rải đá đủ một xe hơi chạy, còn toàn đường hẽm. Nhà cửa lâu đời, xây cất chắp vá, nhà cao mà không phải lầu. Vào đến trung tâm làng, chúng tôi dừng giải lao, bên kia đường cũng có một đám khách người Âu đang xem gốm. Tôi hỏi anh Thái:
– Thưa anh, ngoài gốm Bát Tràng còn những gốm nào quanh đây nữa không?
– Gốm Ðông Triều, gốm Hải Dương, nhưng Bát Tràng là nơi gần kinh đô, có nhiều cải tiến về mặt nghề nghiệp và mỹ thuật nên được nổi tiếng.
– Tại sao nhà nước không tìm cách canh tân mở rộng ngành công nghệ này ?
– Cũng khó anh à, nghèo cứ phải vá víu thôi.
Chúng tôi mỗi người một ngõ, cứ thế lủi đi như chuột vào hang. Các con hẻm quanh co hẹp tí, không đủ cho hai xe đạp tránh nhau. Nhà nào tường vách cũng đen thui, than đá xay nhuyễn đổ từng đống đầu các ngõ. Rỉ rả nhân công gánh về lò. Than được sú ướt, vắt thành bánh phơi khô. Nhiều nhà không có sân phơi nên dính từng bánh than to như cái đĩa lên tường, lúc khô, gỡ xuống. Nếu bảo tấc đất tấc vàng thì ở đây đất đắt không kém gì vàng. Ðồ gốm tươi mới bắt xong, phơi khắp mọi nơi. Ngóc ngách nào trong nhà ngoài sân cũng dành để phơi, phơi không cần hàng lối. Ðồ lớn phơi chỗ rộng, đồ nhỏ nhét vào các xó xỉnh. Mỗi nhà mỗi lò. Thợ làm chừng mươi lăm người. Hầu hết đều trai trẻ. Công việc có nhiều “khâu”, tùy tầm mức mà chủ trả lương khác nhau. Mỗi “khâu” làm riêng một chỗ: Lọc đất sét, bàn xoay , vẽ hoa văn trang trí v.v…
Tôi hỏi một bé gái chừng 15 tuổi đang đúc ống nung. Nung gốm khác với nung gạch, gốm nung gián tiếp bằng cách mỗi món đặt vào trong một ống hình trụ, đường kính chừng 30cm, cao 20cm. Ðồ nung có chiều cao trên 20cm thì hai ống chồng lại. Lửa đốt nóng khuôn ngoài sẽ làm chín gốm bên trong.
– Cháu làm thế này lương tháng bao nhiêu?
– Dạ mỗi ngày cháu được 25 ngàn (khoảng hơn 1 Mỹ kim), các anh chị khác lương cao hơn.
Người đàn bà gần đấy lên tiếng:
– Cao nhất là 40 ngàn.
Tôi quay vào trong, mấy thợ đang chà láng gốm khô hoặc vẽ màu. Tôi nhờ một cô ngồi phía ngoài:
– Cháu, cháu ngồi gần ra phía cửa giùm chú một chút.
– Ðể làm gì, cháu ngại lắm.
– Chú nhờ chụp tấm ảnh thôi mà.
– Cháu ngại…
Trong lúc tôi năn nỉ cô bé thì những người khác cứ nhìn tôi nhe răng cười. Một cậu ngồi tuốt góc trong trêu:
– Chụp ảnh lên TV đấy, ngại cái gì, điệu bộ mãi.
Cô bé càng mắc cỡ, nhất định ngồi yên cắm cúi làm. Tôi đành tự xoay sở. Lâu lắm mới có dịp tiếp xúc với những hình ảnh bình dị của đời sống nơi quê nhà, dù không được như ý, tôi vẫn thấy thích. Cứ nghĩ như mình đi du lịch. Du lịch thì chỉ ngắm nhìn chớ mấy ai đòi này nọ.
Lại một hình ảnh khá hay nhưng rất khó chụp, một cô gái đang chuyên đất sét lỏng từ thùng chứa sang xô nhỏ. Hai cánh tay trắng bám một lớp đất sét mỏng khô nứt nẻ, hai bàn tay nhuộm một màu sữa đặc hơi ngà, bóng loáng “màu mỡ”. Toàn bộ hình ảnh mềm mại ngọt ngào. Tôi yên lặng theo dõi, tìm cách lấy ảnh. Ánh sáng trong góc nhà hơi yếu, cũng phải cố may ra.
Tôi đi từ hẻm này qua hẻm kia, vào xem mỗi lò, bất chợt sực nhớ: “Vầy rồi ra lối nào”. Tôi hơi lo, vội hỏi một chị vừa gánh than về:
– Chị à, cứ đi như vầy rồi có ra được đường cái không?
Người đàn bà nhìn tôi một lúc rồi nói:
– Bác cứ đi, cuối cùng thế nào cũng ra đường lớn.
– Thế có nghĩa là tôi rẽ lối nào cũng được sao?
– Vâng ạ.
Tôi tỏ vẻ nghi ngại, chị nói tiếp:
– Bác không tin thì theo cháu.
Tôi nghĩ bụng, “theo cô thì vui rồi nhưng việc chưa xong, làm sao theo”.
– Vâng, nếu tìm không ra đường tôi sẽ quay lại nhờ chị.
Người đàn bà cười :
– Sợ bác trở lại sẽ không gặp cháu.
Trước khi đi tôi hỏi :
– Xin lỗi chị tên gì nhỉ?
Chị ngần ngừ không muốn nói, tôi giải thích:
– Tôi muốn biết để hỏi khi trở lại.
Người đàn bà cười nhẹ:
– Dạ cháu tên Vân ạ.
– Cảm ơn chị Vân.
Ði vòng vòng một hồi tôi lại gặp chị Vân quẩy gánh đi ra. Ðang lúc đứng trước một lối hẽm thật hay, ánh sáng rất đẹp, có được người mẫu thì hên quá.
– Chị Vân, may quá gặp chị.
– Sao, bác vẫn chưa tìm được lối ra à?
– Không, tôi không lạc đường mà chỉ muốn đi vòng vòng thôi.
– Ði vòng vòng? Bác tìm nhà người quen?
– Không ạ, nhưng vì cảnh đẹp nên chưa muốn về.
Người đàn bà nhìn tôi trân trân, tôi biết, đã đến lúc “rắc rối” vì nghề nghiệp.
– Bác bảo cảnh đẹp? Ðẹp gì trong khu lao động lầm than mà đẹp.
Hừ, cô này có đọc văn Lan Khai hay sao mà cũng ví von dữ. Tôi nói như tâm sự:
– Chị Vân à, tôi muốn nhờ chị một việc.
– Việc gì ạ?
– Tôi muốn chụp con hẻm này…
– Thì bác cứ việc chụp có ai cấm đâu.
– Nhưng chụp ảnh không người nó không hay, tôi muốn nhờ chị làm mẫu.
Người đàn bà giẫy lên như đạp phải lửa:
– Người như em mà làm mẫu? Thôi, em chả dám.
Tôi nói như van nài:
– Không phải tôi nói thế, chị hiểu nhầm.
– Thì rõ bác vừa yêu cầu em làm mẫu cơ mà.
Tự nhiên tôi có cảm giác lạ khi nghe những lời thoái thác êm đềm của chị Vân. Bao nhiêu lần đi săn ảnh ít khi tôi bị lúng túng lúc nhờ một người làm mẫu, cho dù đó là người đàn bà đẹp. Ðôi khi tôi còn ra lệnh. Mười mấy năm về trước, có lần đi chụp ảnh ngoài Ninh Hòa (Nha Trang). Một cánh đồng lúa bốn mảng màu, vàng xanh đan nhau, một con đường đất đỏ cắt chéo. Ðẹp quá đẹp, nhưng đẹp trống vắng, tôi đứng chờ người đi qua nhờ làm mẫu. Lát sau có chị nhà quê đạp xe tới, tôi chận lại. Chị không rõ chuyện gì, xuống xe có vẻ lo lắng.
– Chào chị, chị đi chợ hả?
– Dạ, có chuyện chi không anh?
– Tôi nhờ chị một việc, chị làm ơn xách cái giỏ đi trên con đường đất kia, chị lùi vào trong xa một đoạn rồi đi ra.
– Chi vậy, tui không làm được, tui còn đi chợ.
– Chợ trễ một chút không sao, đây là việc nhà nước, chị giúp một tay. Tôi có công tác về đây chụp ảnh mùa lúa năm nay của xã… chị hiểu không?
Chị nhà quê nhìn máy móc tôi đeo lủng lẳng có vẻ khớp, riu ríu làm theo. Lúc chị trở lại tôi còn nói dằn mặt:
– Lần sau có ai nhờ, chị nên giúp cho mau chóng nghe. Cảm ơn chị rất nhiều.
Ðấy là dựa hơi “cọp”. Lần này tôi cảm thấy yếu, không dám nói liều. Tôi xuống nước năn nỉ:
– Chị Vân à, lúc nãy tôi nói làm mẫu có nghĩa như vầy: Chị cứ quang gánh đi tự nhiên, tôi chụp đằng sau lưng. Và xin chị đi cho hai lần.
– Thôi em ngại lắm. Bác đứng đây đợi nhờ người khác.
Tôi cuống lên:
– Tôi năn nỉ, chị giúp cho, tôi ở xa lắm, tôi không có dịp trở lại.
Chị Vân lại nhìn tôi tò mò:
– Bác ở nước ngoài về à?
– Không, tôi ở đây mà.
– Sao bác bảo ở xa lắm?
– Thì khó khăn lắm mới tới được đây.
Rõ khổ, bị bí nói bừa chứ chẳng nghĩa lý gì cả. Nhưng câu trả lời mù mờ lại được việc.
– Vâng, bác nhanh lên, em còn cả đống than phải gánh.
Người mẫu lui tới hai lần tôi bấm máy thoải mái. Người đàn bà không ngờ làm mẫu lại nhẹ nhàng như vậy. Không hiểu trong khi làm mẫu chị nghĩ gì. Tôi mơ hồ thấy chị cũng thinh thích. Lúc tôi hô:
– Xong rồi.
Chị Vân quay lại có ý chờ xem còn gì nữa không. Tôi đến gần cảm ơn lần nữa:
– Hay lắm chị đi rất đẹp.
Người đàn bà cười đỏ mặt. Chắc chị nghĩ tôi khen kiểu “tán”. May mà chị làm thinh chứ nếu hỏi lại “Ðẹp gì mà lam lũ thế này”, lúc đó không khéo tôi lại giở chuyên môn phân tích cái đẹp của tác phẩm ra thì phiền lắm. Tôi đi theo chị ra đường lớn. Không hiểu nghĩ sao, tôi chận ngang vào đời tư của chị Vân:
– Ông xã cùng làm chung lò với chị?
– Dạ không, em làm một mình.
– Chị được mấy cháu rồi?
– Một trai, 5 tuổi.
– Anh nhà làm ở cơ quan?
– Dạ không ạ, anh ấy bỏ đi vào Nam lúc thằng bé được 1 tuổi và biệt tăm luôn.
Tôi yên lặng đi bên cạnh người thiếu phụ son trẻ, không hỏi thêm một lời nào. Ra đến chỗ đống than, chúng tôi dừng lại. Bây giờ nhìn rõ hơn khuôn mặt người đàn bà, tôi càng thấy xôn xao trong lòng. Tôi đưa tay vào túi lấy một ít tiền:
– Chị Vân, tôi xin phép gửi cho cháu tí quà, mong chị đừng từ chối.
Tôi gí nắm bạc vào bàn tay đen đủi của chị và quay gót đi nhanh.
– Bác, bác cho cháu nhiều thế này!
Tôi như không nghe, và cố rảo bước. Nắng chiều chưa tắt nhưng hoàng hôn đã bắt đầu lên từ các hẻm quanh co trong làng Bát Tràng.
Trần Công Nhung

Comments are closed.

error: Content is protected !!