Bảo tàng Quang Trung

Bài – ảnh Trần Công Nhung

Trang sử Quang Trung Nguyễn Huệ được viết đã nhiều và nhiều người viết, nhưng di tích của một anh hùng hơn 200 năm còn nguyên tại chỗ thì phải một lần đến cho biết.

Bốn giờ sáng, thành phố Qui Nhơn còn mê ngủ, chưa có sinh hoạt gì ngoài một vài người đi bộ. Ngang qua bùng binh trung tâm, tôi hỏi một người đường ra QL1A, ông ta nói “ông cứ đi thẳng đường Trần Hưng Đạo là gặp”.
Rẽ phải QL ra hướng Bắc, chạy chừng 15 phút thấy có người nhóm lửa quán bên đường, hỏi bảo tàng Quang Trung, câu trả lời khá rõ ràng “Ông bỏ ngã tư đèn đỏ thứ nhất, qua đèn đỏ thứ hai, ngay cầu Bà Di có quốc lộ 19 lên Tây Sơn khoảng 30km”. – “Tôi nghe nói 50 km” – “Đó là tính từ Qui Nhơn, 45 cây thôi”.

Tòa nhà chính BT
Tòa nhà chính BT

Trời đã sáng, QL19 tốt, dọc đường thấy trụ km ghi An Khê rồi Gia Lai trăm mấy chục cây, tự nhiên lại muốn đổi hướng lên Tây Nguyên, nhưng ra đảo Lý Sơn cũng hấp dẫn không kém nên tôi cứ theo lộ trình đã vạch.
Cảnh ngoại ô thành phố nào cũng từa tựa nhau, buôn bán lặt vặt, ăn nhậu ca hát là chính. Vừa chạy xe vừa đảo mắt xem có gì lạ để lấy hình thì trước mặt, xuất hiện một đoàn xe tải mấy chục chiếc nối đuôi. Phải cẩn thận, nguyên nhân tai họa thường do mấy ông này mà ra. Có lẽ đây là trục lộ chính các tỉnh Tây Nguyên về miền duyên hải nên xe mới dồn đặc như vầy.

Một hình ảnh đau thương chợt về trong nháy mắt, hình ảnh hàng vạn người di tản từ Daklak về Nha Trang cuối tháng 3 năm 75. Thoáng cái đã 40 năm, 40 năm vết thương đất nước chưa lành, lòng nham hiểm chưa nguội, tình người còn chia cắt…Ngày 29 tháng 3 – 75, tôi còn đứng cầm máy ảnh ở ngã sáu rạp cine’ Tân Quang (Nha Trang) đón chụp hình đoàn quân từ Buôn Ma Thuột rút về, những chiếc xe Jeep chất người từng đống, phủ đầy đất đỏ. Tôi bị mắng một câu đích đáng “Sung sướng gì mà chụp hình?”. Thực tình có phải sung sướng mà chụp hình đâu, nó là “nghiệp dĩ” trời sinh, cũng như những ngày này, cơm bụi cơm bờ lang thang tìm niềm vui mây nước trong tuổi xế chiều.
Đến thị trấn Phú Phong, ngã ba đường không biết hướng nào về Tây Sơn. Lại hỏi, một em bé chỉ cho “Ông đi đường Trần Quang Diệu, qua cầu Kiên Mỹ, rẽ trái đường Nguyễn Huệ là lên bảo tàng”.

Tượng Quang Trung Tây Sơn
Tượng Quang Trung Tây Sơn

Thoạt trông cổng bảo tàng đã thấy nể, lối kiến trúc đơn giản mộc mạc, không hoa lá cành mà vạm vỡ chắc nịch. Cửa giữa kiểu vọng lâu cách điệu cao rộng gấp mấy lần cửa hông. Tôi lại liên tưởng đến vóc dáng vua Quang Trung đã nhiều nơi dựng tượng, điện thờ, nhưng chắc chắn ngay đây, quê nhà của dòng họ Tây Sơn hẳn là có nhiều điểm độc đáo.

Cổng bên mở, tôi vào tự nhiên, cả khu bảo tàng rộng bao la vắng tanh. Một người đang hí hoáy trong trong nhà “bảo vệ” cạnh cổng, tôi lên tiếng:
– Đã bán vé chưa anh?
– Dạ, 7 rưỡi mới có người mở cửa. Không vé vào xem cũng được.
“Không mua vé” là trường hợp hy hữu, một bảng to tướng ghi rõ: vé cá nhân, vé tập thể, phí gửi xe… Ngoài Bắc, chẳng có bảo tàng nào cho coi không, đền Cửa Ông (Quảng Ninh) vào lễ còn phải mua vé nữa là…
Tôi quay xe ra, tìm cái gì điểm tâm trong thời gian chờ đợi. Trước mặt bảo tàng là bãi trống nhìn ra sông Kôn. Lên phía trên một đoạn mới có nhà và hàng quán bán ké bên chợ chồm hổm. Quà sáng ở thôn quê nơi nào cũng giản dị đạm bạc. Bún cháo, bánh đúc, bánh căng, xôi, khoai, sắn bắp…Tôi nhìn qua một lượt rồi ngồi vào hàng bún. Người qua lại cứ nhìn chúng tôi như có gì đó khác thường, có lẽ khách ăn hàng ngày là bà con quanh xóm, nay lại có khách lạ phương xa, hành trang bao bị nên họ dòm ngó trầm trồ. Hai bát bún 20 nghìn, tôi đưa thêm 5 nghìn. Chị bán bánh ướt ngồi cạnh, cười nói “Bún nay cũng có tiền bo he”.

Bảy giờ hơn bảo tàng vẫn im lìm. Nắng lên, cảnh càng thêm bắt mắt. Ngay trong cổng tam quan là bãi sân lát gạch bát tràng, rộng có thể làm nơi meeting cho hàng nghìn người. Vào sâu mấy chục mét mới có trồng cây trang trí hai bên, lối đi rộng chừng 10m. Thấy tôi mang máy lui tới anh “bảo vệ” gợi ý “Chú chạy xe tới chỗ cầu, tham quan trước bên ngoài, lát mở cửa bảo tàng rồi vô coi”. Ý hay, tôi đi ngay. Trước khi qua cầu vào bảo tàng, có nhiều ghế đá đặt dưới gốc cây dọc theo con suối nhỏ, một hai người đàn bà quét lá rụng trên lối đi. Vòng qua phía trái, bên kia chiếc cầu xây, lan can giả gỗ, có ngôi nhà rông khá lớn của đồng bào sắc tộc (Bahnar) Gia Lai tặng bảo tàng. Nhà Rông của đồng bào Thượng hao hao dáng đền chùa Thái Lan, hai mái cao vút, cao gấp mấy lần thân nhà, trông mảnh mai nhẹ nhàng. Điều hơi lạ là lối trổ cửa lên nhà sàn. Người Tây Bắc (H’Mong, Giáy, Tày…cửa lên bên hông, mặt tiền chỉ để cửa sổ. Người Tây Nguyên như ngôi nhà của tộc Hbanar cửa lên cả hai bên, cầu thang kiểu độc mộc (một cây gỗ lớn khấc thành bậc thang).

Trở lại qua cầu chính vào bảo tàng, vừa lúc có đôi thanh niên nam nữ mở cửa quét dọn. Trước sân bảo tàng là pho tượng Hoàng Đế Quang Trung cao to sừng sững. Báo chí đã ca tụng bức tượng đại ý:
Bảo tàng Quang Trung được xây dựng năm 1978, trên nền nhà cũ của anh em nhà Tây Sơn sau một thời gian hàng thế kỷ phải núp dưới cái tên “đền Kiên Mỹ” vì sợ nhà Nguyễn trả thù. Theo lời kể, hồi đó tới Bảo tàng Quang Trung, du khách thấy ngay pho tượng Quang Trung – Nguyễn Huệ, tay vung kiếm, dáng rất oai phong lẫm liệt đã mấy chục năm qua. Đến năm 1998 tỉnh Bình Định mở cuộc thi vẽ tượng Quang Trung. Nhiều nhà điêu khắc tham dự và có hàng chục bức tượng về Quang Trung, cuối cùng tỉnh chọn được bức tượng của Lê Đình Bảo.

Ông bà Nguyễn Chấn – Trần Thị Hường, Chủ tịch Công ty Hoàn Cầu – người con của quê hương Bình Định đã bỏ ra trên 6 tỉ đồng để tài trợ làm bức tượng này.

Pho tượng được xem là tượng Hoàng Đế Quang Trung “chuẩn” nhất.
Báo chí (hay ban giám khảo) cũng đã ca ngợi: “Một tay cầm đốc kiếm, tay kia xòe ra phía trước, trông rất đĩnh đạc và khoan thai. Đặc biệt khuôn mặt có thần với đôi mắt rất sáng. Đó là một khuôn mặt đoan chính, vừa quyết đoán nhưng cũng thật sự cởi lòng để lắng nghe bá tánh”.

Tôi thấy sự mô tả tượng ở đây hơi “văn vẻ cường điệu”, thực tâm mà nói, tôi chẳng thấy “khuôn mặt đoan chính, vừa quyết đoán nhưng cũng thật sự cởi lòng để lắng nghe bá tánh”. Nhiều nơi đã dựng tượng Quang Trung Nguyễn Huệ: Gò Đống Đa (Hà Nội) – Núi Bân (Huế) – Tây Sơn (Bình Định), đó là những pho tượng tầm cỡ tiêu biểu, tôi đã được chiêm ngưỡng và vô cùng thán phục tài nghệ của các nhà điêu khắc-đắp tượng. Nhưng, theo chủ quan, tôi thấy tượng QT ở bảo tàng Tây Sơn, nét mặt thiếu cương quyết, hao hao nét sắc tộc, thần sắc lờ đờ. Mắt nhìn xuống một cách vô tư vô sự. Anh hùng cái thế – Vị tướng tài bách chiến bách thắng thể hiện chỗ nào? Bàn tay phải đưa lưng chừng, dáng ngập ngừng, nhất là mấy ngón tay xòe kiểu nữ diễn viên múa. Tay trái nắm đốc kiếm như sẵn sàng tuốt gươm, Quang Trung múa kiếm tay trái à? Thường các nhà dựng tượng khác cho tay trái tựa chuôi kiếm, khi hữu sự, tay phải kịp tuốt gươm. Riêng Hoàng bào thì khá tỉ mỉ, đẹp. Nếu tượng đặt trong Điện thờ có lẽ hợp lý hơn.
Trong khi đôi thanh niên nam nữ quét dọn bảo tàng, tôi qua tòa nhà bên phải, Tây Sơn Điện, nơi thờ 3 anh em Tây Sơn. Tòa điện thờ dựng trên nền nhà cũ, nơi ở của Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ ngày còn thơ ấu.
Theo sử liệu, Tây Sơn Điện trước đây là đình Kiên Mỹ, được xây dựng vào đầu thế kỷ XIX để bí mật thờ ba anh em Tây Sơn. Đình Kiên Mỹ, ấp Kiên Thành, huyện Tuy Viễn, phủ Quy Nhơn – nay là khối 1, thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.

Nhà Rông Hbana
Nhà Rông Hbana

Kiên Mỹ là quê hương thứ hai của dòng họ Nguyễn Tây Sơn ở Đàng Trong. Từ khi về đây, ông nội Nguyễn Huệ là cụ Hồ Phi Tiễn đã cùng nhân dân địa phương tạo dựng làng Kiên Mỹ thành nơi chuyên nghề thủ công truyền thống, kết hợp làm nông và buôn bán. Nghề buôn trầu cau là chính, có bến Trường trầu bên bờ sông Kôn, đưa trầu cau từ Tây Sơn về xuôi. Nguyễn Nhạc cũng có thời gian nối nghiệp cha buôn bán trầu nên nhân dân thường gọi là anh Hai Trầu. Ông từng giao du buôn bán khắp miền xuôi, miền ngược theo dòng sông Kôn, nhờ vậy có điều kiện chiêu hiền, đãi sĩ đề xướng phong trào Tây Sơn khởi nghĩa.

Trần Công Nhung

More Stories...