BÁNH CHƯNG

Bánh chưng thật ra được ăn quanh năm suốt tháng. Cứ đến khu Hiền Vương, Chợ Cũ, Bảy Hiền… lúc nào cũng thấy bày bánh chưng. Có hai cỡ bánh, một loại to tuy bây giờ không được vuông vức bằng viên gạch hai mươi phân ngày xưa và loại nhỏ độ hơn lòng bàn tay thường được bán chung với bánh dầy, bánh giò. Ngoài chợ hay vỉa hè đôi khi người bán còn gánh hoặc đẩy chiếc xe ba bánh nhỏ xếp cả bếp lò, chảo gang để rán ăn nóng những chiếc bánh chưng nhỏ có nhân hoặc không nhân này.
Bánh chưng ngoài việc là món ăn thông dụng, cổ truyền còn đặc biệt mang tính chất nghi lễ. Trong các thức bánh trái của Việt Nam, duy bánh chưng và bánh dầy có lịch sử rõ ràng và lâu đời. Có phải vì chiếc bánh xuất xứ từ thời lập quốc đời Hùng Vương thứ mười sáu được hoàng tử Lang Liêu nghĩ ra tiến vua, nên vẫn mang trong nó một ý nghĩa trân trọng đặc biệt. Các đám cưới cầu kỳ thường phải dẫn lễ bằng cặp bánh chưng và bánh dầy. Bánh chưng được bóc bỏ bớt lớp lá ngoài để bọc lại lá xanh tươi và gói bằng sợi dây gai nhuộm đỏ. Bánh dầy đám cưới đổ ra cả khay hay đĩa to chứ không phải bánh dầy nho nhỏ nhân trong và phủ ngoài đều là đậu xanh hấp chín, giã nhuyễn hoặc kẹp giò lụa, chả quế gói trong lá chuối thường thấy bán ngoài chợ hoặc các cửa hàng giò chả. Giỗ Tổ, giỗ Thánh, giỗ Mẫu… cũng vậy, lễ vật dâng cúng thường thấy bao giờ cũng là bánh dầy, bánh chưng. Trong các ngày húy kỵ Hùng Vương, Trần Hưng Đạo, Hai Bà Trưng, Cao Lỗ… Bên cạnh các món quen thuộc: giò thủ, xôi, gà… đều không thể thiếu bánh chưng. Các lò bánh chưng hàng ngày chỉ sản xuất bánh nhỏ để điểm tâm nhưng các dịp lễ lạt cần bánh to thì dù ít nhiều đều nhận đặt cả.
Ngày xưa chỉ đến Tết mới gói bánh, bây giờ bánh chưng, bánh dầy, bánh Trung Thu… hiện diện đủ ba trăm sáu mươi lăm ngày trong năm cần lúc nào có sẵn ngay lúc đó. Tuy nhiên, chẳng vì thế mà trở thành nhàm chán, dù có ăn mỗi ngày thì đến Tết vẫn cứ phải bánh chưng. Có hoa mai, hoa đào, tú cầu, mãn đình hồng… có mứt sen, hồng khô, mứt mãng cầu…, có thịt mỡ, dưa hành, câu đối mà thiếu bánh chưng vẫn không ra ngày Tết.. Đầy đủ thì một cặp, không thì một chiếc mới khiến bàn thờ trở nên trang trọng và đầy đủ. Bánh chưng chính tượng trưng cho ngày Tết Việt Nam vậy.
Ngày Tết cận kề, dân Saigon tất bật sắm sửa bánh trái. Từ 26, 27… các tiệm lớn ở Chợ Cũ, Hòa Hưng, Ông Tạ… bắt đầu bày bánh chưng cho đến 28, 29, 30 thì bánh chưng chất đống. Cùng với “chùi lư đồng”, đi chỗ nào cũng thấy lề đường và chợ búa rải rác những tấm bảng nhỏ với hàng chữ “nhận đặt bánh”. Bánh chưng là một trong những thức được sắm sửa vào những ngày cuối cùng của năm cũ như báo hiệu, hối hả, thúc giục cái Tết đã đến gần gụi, gấp rút lắm rồi. Một chiếc bánh giá trung bình khoảng ba, bốn chục ngàn đồng. Cuộc sống thành phố lúc nào cũng thiếu thời gian, ngày càng hối hả bận bịu nên món gì cũng bán sẵn bên ngoài. Các thứ bánh mứt, ngay cả lọ hành, hũ kiệu cũng ra siêu thị nên nhiều cô gái thời nay không còn biết muối dưa, sên mứt, nấu chè, gói bánh… như xưa nữa. Thậm chí đến ngày giỗ chạp, xôi vò, chè đậu… cũng ra mua ngoài chợ. Tuy bán sẵn khắp nơi nhưng đặt người quen gói thì bánh được vừa ý hơn. Nhiều người khéo tay, cứ đến tháng Chạp nhận đặt hàng trăm bánh, nấu liên tục xong nồi này qua nồi khác cũng kiếm được một cái Tết dư thừa.
Gần đây, nhiều người chợt giật mình nhận ra khi mải mê kiếm sống, những phong tục truyền thống bị lãng quên khiến mục đích mưu sinh trở nên mất đi ý nghĩa cao đẹp. Giềng mối gia đình được nối kết với nhau một cách sâu sắc chính nhờ nền nếp sinh hoạt và những mỹ tục lâu đời được giữ gìn. Vì thế, nhiều nhà bắt đầu khôi phục lại việc gói bánh chưng. Dù sao chỉ người lớn tuổi mới thành thạo việc gói bánh, còn các tiểu gia đình với cặp vợ chồng trẻ cùng đi làm mỗi ngày hoàn toàn không biết chút gì, thậm chí đôi khi không đánh giá được tiêu chuẩn một chiếc bánh ngon như thế nào. Do đó mấy năm sau này xuất hiện dịch vụ đến tận nhà gói bánh. Người gói thuê hướng dẫn hoặc mua hộ các nguyên liệu, bày ra gói và nấu bánh chưng ngay tại nhà gia chủ. Nếu thích, chủ nhà sẽ được hướng dẫn từng bước, nếu không vẫn có bánh chưng gói tại nhà. Dịch vụ này tỏ ra rất phát triển vì không phải người ta cần ăn cái bánh ngon hơn một chút mà chính vì muốn gầy dựng nên không khí Tết cổ truyền trong gia đình.
Hay nhất vẫn là cả nhà tự xúm xít gói bánh lấy. Tôi nhớ hoài hồi đó, cứ đến sau hăm ba ông Táo chầu Trời, mấy mẹ con đã tíu tít sửa soạn. Tôi chở mẹ đi chợ Cầu Muối hay chợ Hòa Hưng chọn kỹ lưỡng từng thức một: Gạo nếp cái mẩy hạt, nếp cái hoa vàng đưa từ miền Bắc vào; đậu xanh lòng, bây giờ đậu xanh khô tróc vỏ bán sẵn chứ trước kia, đậu ngâm xong, đãi vỏ, còn mất công nhặt mày và vỏ sót hàng tiếng đồng hồ, đoạn nấu chín, giã nhỏ, nắm thành từng nắm trên mâm. Rồi tiêu sọ Phú Quốc, thịt ba chỉ từng miếng to bằng lòng bàn tay. Ống giang mua trước mấy ngày chẻ lạt, ngâm nước, buộc thành bó để sẵn. Lá dong Bà Điểm cũng phân loại từng xếp to nhỏ để gói ngoài hay lót trong.
Đi chợ Tết, tôi thích nhất được ngắm các hàng lá dong tươi biếc như ngọc xếp chồng thành chục mà khi xuất hiện là cho thấy cái Tết đã quá đỗi cận kề. Các thứ hàng hóa khác lui dần, biến mất. Đến ngày 29, 30 thì chợ không bị dẹp nữa. Lá dong và hoa nô nức mang Tết đến choán la liệt khắp vỉa hè, tràn xuống cả lề đường khiến mọi người trở nên nao nức, cuống quít.
Tôi được mẹ giao gói bánh. Những chiếc bánh đầu vuông vắn, kín đều rất đẹp và chặt chẽ, nhưng càng lúc càng mỏi tay, mặc dù gói khuôn nhưng bánh nén xuống không còn được mạnh nữa. Những chiếc bánh này về sau khiến mọi người cười lăn vì lỏng lẻo, méo mó. Sáng 30 vớt bánh ra, ép nước. Bánh đẹp được chọn mang đi biếu, mấy chiếc ọp ẹp để nhà dùng. Tôi cũng không quên gói những chiếc bánh nhỏ xíu, xinh xắn để phát cho trẻ con. Cũng như đa số nhà thành phố, căn nhà tôi chật hẹp như cái hến. Chỉ một năm luộc bánh chưng trong nhà, bao nhiêu tranh ảnh mặc dù đã được che kín bằng giấy báo vẫn bị hun khói, cộng thêm suốt nhiều năm dài nấu cơm bếp củi khiến tranh sơn dầu ám đen như than Tàu và tranh sơn mài cong vênh cả góc. Những năm sau mẹ tôi chuyển ra ngoài hè đường, kê mấy cục gạch làm ông đồ rau rồi quây tấm tôn lại che gió. Cả nhà thay phiên canh nồi bánh chưng suốt mười tiếng đồng hồ, ấm nước sôi bắc sẵn bên cạnh để châm nước. Tôi không bao giờ quên cảm giác ngồi bó gối trước nồi bánh chưng để canh lửa, canh nước, thỉnh thoảng đẩy những gộc củi nỏ vào lò, nhìn ngọn lửa đỏ nhảy múa trong tiếng lách tách của củi cháy đôi khi nhựa tươm ra, khều lớp vỏ cây sần sùi cong lên bong ra khỏi thân củi, lắng bước thời gian đang chuyển dịch thật rõ rệt. Một năm cũ đang đi những bước chân từ giã cuối cùng nhường chỗ cho thời gian tinh khôi đang chuyển tới. Mười hai tháng sẽ bị xếp vào một ngăn có tên là quá khứ, và những tháng ngày chưa đến sẽ là nỗi buồn hay niềm vui, là những ước mơ có trở thành sự thật.
Hình ảnh của những năm đó mãi là kỷ niệm không quên nên bây giờ vào những ngày cận tết, gặp những nồi bánh chưng trên các nẻo phố phường, bập bùng ánh lửa reo đây đó trong đêm giao thừa, tôi lại thấy lòng nao nao. Mẹ đã khuất xa. Bếp lửa bao giờ cũng gợi đến cảnh sum họp quây quần, nhớ về những kỷ niệm xa xưa và làm người bạt xứ thêm ray rứt trong nỗi buồn mang mang khó tả của những ngày cuối năm.
Chiều ba mươi, chiếc bánh chưng được bóc ra đặt lên bàn thờ nến hương nghi ngút cúng để đón ông bà. Chiếc bánh xanh mướt màu lá dong cạnh đĩa gà luộc mỏ ngậm bông hồng. Bữa cỗ dù ê hề thịt kho, măng hầm, giò chả… vẫn có mặt bánh chưng mới đầy đủ là một mâm cỗ tết. Nếp thường dính dao nên bánh chưng được xắt bằng sợi lạt thắt lại. Bánh ngon nhân nhiều, mỏng vỏ, rền vì luộc kỹ, ép hết nước nên mềm mà không nát. Nếp quánh hạt liền hạt, vị béo của đậu và mỡ, dậy mùi thơm của đậu xanh, thịt và hạt tiêu quyện lẫn. Ăn nhiều để không ngán thường nhờ đi kèm với củ kiệu, củ cải hay hành tím muối.
Bánh chưng nhà thường gói nhiều. Trời Saigon nóng nực nên mồng ba còn sót một hai cái đôi khi phải rán lại. Chiếc bánh ấn dẹp xuống chiên hai mặt, bên trong vẫn dẻo ngậy nhưng bên ngoài cháy vàng hơi dòn tạo thêm một món ăn lạ miệng ngày tết. Thật ra không phải lúc nào cũng thừa như vậy, nhiều nhà cất bánh chưng ở ngăn đá trong tủ lạnh đợi mồng năm mang xuống rã đông, luộc lại để ăn Tết Quang Trung. Không còn ngập chìm trong thức ăn thừa thãi của những ngày đầu năm nữa, miếng bánh chưng khi ấy nhâm nhi, ngẫm nghĩ mới nhận thấy hết cái thơm ngon của dư vị ngày Tết.
Câu chuyện bánh chưng cũng khiến tôi tìm được người bạn dễ mến. Lần đó ngẫu nhiên mở TV, tôi bắt gặp cuộn phim giữa chừng với lời tự sự của một họa sĩ. Một ngày ba mươi, cô đến nhà người bác giúp gói bánh chưng. Trong những năm tháng khó khăn, thực phẩm thật hiếm hoi nên nhu yếu phẩm chỉ được phân phối theo tiêu chuẩn từng người. Nghĩ đến gia đình chẳng có thức gì cho Tết nhất, cô giấu một miếng thịt vào lon gô mang về. Khó ai kể ra câu chuyện của mình như vậy giữa chốn đông người, trên màn ảnh truyền hình phát đi khắp nơi như vậy huống hồ nay cô là một họa sĩ rất nổi tiếng, tranh bán không kịp vẽ. Thiên phóng sự vừa chấm dứt, trời mưa tầm tã nhưng tôi vẫn mang một cành hoa ướt đẫm nước mưa đến phòng triển lãm gửi tặng họa sĩ và sau đó chúng tôi thành đôi bạn thân.
Cũng có những năm rảnh rỗi, tôi gia nhập nhóm bạn gói bánh. Chiều ba mươi hiu hắt làm sao. Chúng tôi chia nhau đi các ngả đường dúi chiếc bánh chưng vào tay người phụ nữ quét rác đang lặng lẽ quét nền chợ tàn, người đàn ông thẫn thờ ngồi trên bậc thềm vắng nhìn mãi vào thinh không, em bé bán vé số vẫn lủi thủi một mình trên những con phố đóng cửa kín mít. Chiếc bánh chưng nhỏ bé mang đến cho họ niềm vui của ngày Tết và ánh mắt của họ mang niềm vui của Tết lại cho chúng tôi. Dù vô số các loại bánh mứt tràn trề nhưng mỗi năm, bánh chưng vẫn mang hình ảnh và hương vị đặc biệt của lễ Tết đến từng nhà, từng người.

BRA200258_local_728x90_A

Nguyễn thị Hàm Anh

More Stories...